Logo
Loading...

Thiết chẩn

THIẾT CHẨN

Thiết chẩn là phương pháp dùng tay để ấn hoặc sờ nắn vào những bộ vị trên cơ thể người bệnh (Xúc chẩn) để tìm kiếm các dấu chứng bất thường hoặc để bắt mạch (Mạch chẩn). 

Xúc chẩn

Xúc chẩn là sờ nắn để xem vị trí và tính chất của các dấu chứng bệnh lý, thường xem ở tay, chân và bụng.

Xem phần da thịt

Cần chú trọng các tính chất sau:

Nóng ở ngoài da, sờ lâu thì giảm: Biểu nhiệt, sờ càng lâu càng thấy nóng: Lý nhiệt; hoặc sờ thấy nóng bừng nhưng bệnh nhân không sốt là Hư nhiệt (âm hư hoả vuợng).

Da nhuận trơn: Tân dịch chưa bị tổn thương; Da khô ráo: Tân dịch giảm

Phù: Sau khi ấn, vết lõm còn để lại là Thuỷ thũng, nếu vết lõm nổi đầy ngay là Khí thũng. 

Mụn nhọt: Sưng không nóng là âm thư (áp xe lạnh); Sưng, nóng, đỏ, đau là Dương thư (áp xe nóng).

Xem tay chân: 

Chủ yếu xem về Hàn nhiệt ư Tay chân lạnh, sợ lạnh là Dương hư.

Tay chân đều nóng nhiều là Nhiệt thịnh.

Nóng ở mu bàn tay là do Biểu nhiệt (Nhiệt thịnh ngoại cảm ).

Xem bụng (Phúc chẩn)

Tuỳ vị trí để xem tạng phủ nào có bệnh, cần chú trọng đến cơn đau, tình trạng ứ trệ của Khí Huyết, Hư, Thực của bệnh tình.

Thiện án (thích xoa bóp) thuộc Hư; Cự án (không thích xoa bóp) thuộc Thực.

Bụng có khối, rắn, đau, không di chuyển thường là Huyết ứ. Lúc có lúc không, ấn vào không thấy hình thể rõ ràng, không ở một nơi nhất định thường do Khí trệ

Mạch chẩn

Để chẩn mạch người thầy thuốc trước tiên cần biết rõ về những bộ vị chẩn mạch và tạng phủ được qui định tương ứng với những bộ vị ấy.

Bộ vị chẩn mạch và tạng phủ tương ứng ư Thốn phải: Phế - Đại trường. 

Thốn trái: Tâm - Tiểu trường. 

Quan phải: Tỳ - Vị.

Quan trái: Can - Đởm.

Xích phải: Mệnh môn - Tam tiêu.

Xích trái: Thận - Bàng quang.

Mục đích của xem mạch để biết được tình trạng thịnh suy của các tạng phủ; vị trí nông sâu, tính chất hàn nhiệt của bệnh tật. 

Nơi xem mạch: Tại động mạch quay ở tay, động mạch ở đùi, động mạch chày sau, động mạch mu chân, động mạch thái dương, nhưng vị trí tốt nhất là động mạch quay (thốn khẩu).

ở thốn khẩu nơi động mạch quay đi qua, nơi xem mạch được chia làm 3 bộ: Thốn, Quan, Xích. Bộ Quan tương đương với mỏm châm xương trụ kéo ngang, bộ Thốn ở dưới và bộ Xích ở trên bộ Quan. 

Tay phải thuộc khí tay trái thuộc huyết và sơ đồ vị trí các tạng phủ tương ứng với các bộ vị như sau:

Bộ 

Tay trái 

Tay phải 

Thốn 

Tâm – Tiểu trường 

Phế – Đại trường 

Quan 

Can – Đởm 

Tỳ – Vị 

Xích 

Thận âm – Bàng quang 

Thận dương – Tam tiêu 

Cách xem mạch: Người bệnh để ngửa bàn tay, thầy thuốc dùng 3 ngón tay trỏ, giữa và áp út đặt vào mạch: ngón giữa bộ Quan, ngón trỏ bộ Thốn và ngón áp út bộ Xích; Tùy theo người cao thấp, nhỏ hay lớn mà các ngón tay đặt thưa hay khít lại. Tay phải của thầy thuốc thì xem tay trái của bệnh nhân và ngược lại tay trái của thầy thuốc xem tay phải của bệnh nhân.

Người bệnh nên nghỉ ngơi 15 phút trước khi xem mạch, nằm hay ngồi thoải mái, chẩn mạch vào buổi sáng lúc chưa ăn gì là tốt nhất. Thầy thuốc phải bình tĩnh, nhẹ nhàng, tập trung tư tưởng, chú ý cảm giác đầu các ngón tay. 

Có 3 mức độ ấn tay: ấn nhẹ đã thấy mạch đập (thượng án) là mạch Phù; ấn vừa phải (Trung án) và ấn sâu sát xương thấy mạch đập (Hạ án) là mạch Trầm.

Xem mạch có 2 loại: Xem chung cả 3 bộ (tổng khán) để nhận định tình hình chung; cách này được dùng thông thường nhất; Xem từng bộ vị (vi khán, đơn khán) để đánh giá tình hình tạng phủ. Thường phối hợp cả 2 cách xem. Tổng khán trước rồi đơn khán sau.

Các hiện tượng về mạch - Mạch bình thường:

Mạch bình thường là mạch có đập ở cả 3 bộ không phù không trầm, người lớn 70 – 80 lần / phút, hòa hoãn có lực, đi lại điều hòa. Người xưa nói mạch bình thường là mạch có vị khí, có thần và có gốc “Vị khí là gốc của con người” nên mạch, có vị khí thì hòa hoãn, điều hòa còn vị khí là mạch thuận, không còn vị khí là mạch nghịch; Dùng để đánh giá tiên lượng của bệnh; mạch có thần là mạch có lực; Thận khí là gốc của con người biểu hiện ở 2 mạch xích, mạch bình thường là mạch xích có lực đó là gốc của mạch, khi có bệnh mạch quan thốn mất mà mạch xích còn thì bệnh tình chưa nguy hiểm.

Xem mạch bình thường có quan hệ chặt chẽ mật thiết với thời tiết khí hậu, tuổi tác, giới, thể chất và tình trạng tinh thần con người: Trẻ em thường mạch đập 120 – 140 lần / phút; 6 tuổi 90 – 110 lần; Thanh niên người mạnh khỏe mạch đi có lực; Người già, người yếu mạch đập yếu; Mạch của phụ nữ (tuổi người lớn) yếu hơn mạch nam giới; người cao lớn thì mạch dài hơn, người thấp thì mạch ngắn, người gầy thì mạch hơi phù, người béo thì mạch hơi trầm. Thời tiết khí hậu cũng ảnh hưởng đến mạch: Mùa xuân mạch hơi huyền, mùa hạ mạch hơi hồng, mùa thu mạch hơi phù, mùa đông mạch hơi trầm.

Mạch khi có bệnh: Khi có bệnh mạch có thể thay đổi về vị trí nông sâu; về tốc độ nhanh chậm; Về cường độ có lực hay không có lực, có quy luật hay không theo quy luật. Có những loại mạch kết hợp cả mấy mạch trên gọi là Kiêm mạch. 

Kỹ thuật bắt mạch 

Cách đặt ngón tay:

“Khi mới đặt ngón tay xuống, đầu tiên để ngón tay giữa vào bộ Quan (chỗ ngang lồi xương quay), rồi đặt luôn 2 ngón trỏ và áp út là 2 bộ mạch còn lại. Ngón tay trước là bộ Thốn, ngón tay sau là bộ Xích”. Sách Hoạt nhân thư - Chu Quảng có ghi: Khi đặt ngón tay cần phải để đầu ngón tay bằng nhau và chú ý đừng để đếm lầm mạch đập ở đầu ngón tay của mình với mạch đập của người bệnh.

Cách định hơi thở khi khám mạch:

Đầu tiên người thầy thuốc cần tập luyện sao cho hơi thở luôn phù hợp với trạng thái yên tĩnh mỗi khi khám mạch. Bình thường mỗi hơi thở (thở ra và hít vào) thì mạch đập 4 lần. Ngày nay, vấn đề xác định mạch nhanh chậm không nhất thiết chỉ dựa vào hơi thở mà có thể dựa vào tần số tim / phút (ví dụ như mạch Trì: < 60lần/ phút; Mạch Hoãn 60 - 80 lần / phút; Mạch Sác 80 - 100 lần / phút).

Những điểm cần chú ý khi khám mạch:

Thời điểm chẩn mạch: Thiên Mạch yếu tinh vi luận - Tố vấn ghi rằng: “Chẩn mạch thường vào lúc tảng sáng, âm khí chưa động, dương khí chưa tan, chưa ăn uống vào, kinh mạch chưa thịnh lúc đó mạch lạc đều đặn, khí huyết chưa rối loạn, cho nên mới xem được mạch có bệnh”. 

Tình hình thực tế không cho phép và cũng không thật nhất thiết chỉ có thể chẩn mạch vào lúc sáng sớm là chính xác, do đó vấn đề chủ yếu là chẩn mạch vào lúc thầy thuốc và bệnh nhân đã ổn định tư thế. Không chẩn mạch khi đói quá, no quá, khi mới uống rượu xong hoặc mới vừa vận động xong.


Những điểm sai sót dễ mắc phải:

Ngón tay người thầy thuốc lạnh quá (chú ý lúc thời tiết lạnh).

Nơi khám ồn ào.

ống tay áo bệnh nhân quá chật.

Bệnh lý mạch

Trải qua nhiều đời, các y gia đã tổng kết lại 28 loại mạch chính và 7 loại quái mạch. Để dễ dàng hơn trong việc học tập, các y gia còn tập hợp những mạch tượng nói trên lại thành những loại chủ mạch như: Phù, Trầm, Trì , Sác, Tế, Đại, Đoản, Trường (của Trương Cảnh Nhạc); Hoặc: Phù, Trầm, Trì, Sác, Hoạt, Sáp (của Hoạt Thọ); Hoặc như: Phù, Trầm, Trì, Sác (của Lý Sĩ Tài). Việc xắp xếp này còn thể hiện tính chất chỉnh thể của mạch học làm cho người học hiểu được những mạch Tượng có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Phân loại

Theo YHCT, mạch được phân loại như sau:

Thất biểu: Phù - Khâu - Hoạt - Thực - Huyền - Khẩn - Hồng thuộc về Dương mạch. 

Bát lý: Trầm - Vi - Hoãn - Sáp - Trì - Phục - Nhu - Nhược thuộc về âm. 

Cửu đạo: Tế - Sác - Động - Hư - Xúc - Kết - Tán - Đại - Cách (nói về cách mạch đi).

Tam mạch: Trường - Đoản - Đại (nói về hình thể mạch).

Thất quái mạch: Tước trác - ốc lậu - Đàn thạch - Giải sách - Ngư tường - Hà Du - Phủ phí (những loại mạch chỉ thấy trong những thể bệnh nguy kịch).

Các loại mạch trên có thể được phân loại theo những thuộc tính sau:

Dựa vào nhịp mạch

Trì : Có nghĩa là chậm, mạch đi trong 1 tức (1 nhịp thở) được 3 chí (3 lần đập) tương đương dưới 60 lần / phút.

Hoãn: Có nghĩa là khoan thai, thư thả, mạch đi trong 1 tức được 4 chí, tương đương 60 - 80 lần / phút.

Sác: Có nghĩa là nhanh, mạch đi trong 1 tức được 6 chí, khoảng trên 80 lần/phút.

Xúc: Là nhanh và có một khoảng ngừng không nhất định. 

Kết: Là chậm và có một khoảng ngừng không nhất định. 

Đại (Đợi) là sau một loạt nhịp bình thường thì mạch ngưng lại một lúc để rồi tiếp tục đập lại bình thường, thời gian ngừng lại có chu kỳ nhất định. 

Mạch Tước trác: Mạch đi giống như chim sẻ mổ thóc, mổ 5 - 7 cái rồi lại ngưng, rồi lại tiếp tục …

Mạch ốc lậu: Mạch đến chậm rãi giống như giọt nước nhỏ xuống từ mái nhà bị dột. 

Mạch Đàn thạch: Là khi bắt có cảm giác mạch chạm vào tay nặng chịch rồi sau đó lại không thấy.

Mạch Ngư tường: Là mạch khi bắt có cảm giác như cá lội trong nước, thỉnh thoảng ve vẩy đuôi. 

Mạch Hà du: Là mạch khi bắt có cảm giác con tôm đang lội, thoắt ngưng thoắt lội vút đi.

Mạch Phủ phí: Là mạch khi có cảm giác như nước sôi bùng bục.

Mạch giải sách: Là mạch khi chẩn cảm thấy bùng nhùng như búi dây rối không phân biệt được mạch đến hay đi.

Dựa vào khí huyết:

Mạch thực: Phù án hay trầm án đều cảm giác mạch đi rất mạnh (hữu lực) dưới ngón tay.

Mạch hư: Phù án hay trầm án đều cảm giác như rỗng không, không có lực

(vô lực).

Mạch nhu: Là mạch phù mà mềm yếu vô lực (thuộc loại mạch phù).

Mạch nhược: Là mạch trầm mà mềm yếu vô lực (thuộc loại mạch trầm).

Mạch Khâu: mạch phù nhưng rỗng bên trong như dọc hành (các mạch không theo quy luật).

Dựa vào hình thái mạch:

Mạch đoản: Cảm giác luồng mạch đi ngắn ngủi, bộ vị mạch không vượt ra bề ngang của ngón tay thầy thuốc.

Mạch trường: Cảm giác luồng mạch đi dài, bộ vị vượt quá bề ngang của ngón tay thầy thuốc.

Mạch đại: Cảm giác luồng mạch đi đầy tràn dưới ngón tay và mạnh khi phù án nhưng khi trầm án thì lại cảm giác như mạch toả rộng ra và yếu đi.

Mạch tế: Cảm giác mạch đi nhỏ bé như sợi chỉ.

Mạch vi: Cảm giác mạch đi nhỏ bé mong manh như sợi tơ (nhỏ hơn mạch tế) và cảm giác như có như không rất mơ hồ (mạch tuyệt).

Dựa vào cảm giác mạch ở nông hoặc sâu:

Mạch phù: Để nhẹ ngón tay trên da (Phù án ) thì thấy sức mạch mạnh nhưng khi ấn mạnh (Trầm án ) thì mạch yếu đi hoặc mất hẳn (bất túc).

Mạch trầm: ấn mạnh ngón tay (Trầm án ) thì cảm giác sức mạch đi mạnh nhưng khi thả nhẹ ngón tay ra (Phù án ) thì thấy sức mạch yếu hẳn đi hoặc mất.

Mạch phục: Mạch đi như ẩn trong gân phải ấn sát xương và đun đẩy ngón tay qua lại mới cảm thấy mạch. 

Dựa vào cách mạch nẩy:

Mạch huyền: Mạch đi căng thẳng như sợi dây đàn.

Mạch khẩn: Căng hơn mạch huyền giống như sợi dây vừa kéo căng, vừa vặn xoắn lại.

Mạch hoạt: Mạch đi trơn tru, linh lợi như hạt châu lăn dưới ngón tay.

Mạch sáp: Mạch đi rin rít như dao cạo trên ống tre.

Mạch hồng: Mạch vươn tới mạnh nhưng đi qua rất nhanh, có cảm giác như cái móc câu nên còn gọi là mạch Câu.

Mạch động: Trầm án mới cảm thấy mạch, mạch quay quay một chỗ dưới ngón tay.

Mạch tán: Để nhẹ tay (Phù án) thì có, để nặng tay (Trung án hay Trầm án) thì mất, sức mạch như tản mác, mơ hồ.

Mạch giải sách: Là mạch khi chẩn cảm thấy bùng nhùng như búi dây rối không phân biệt được mạch đến hay đi.

Ý nghĩa của từng loại mạch theo YHCT

 

Chủ chứng

Mạch

1

Biểu 

Bệnh ngoại cảm ở giai đoạn sơ phát 

Phù

2

Lý 

Bệnh ngoại cảm ở giai đoạn tòan phát.

Nội thương 

Các chứng thuộc về Khí trệ 

Trầm

3

Hàn

Trì 

4

Nhiệt

Nhiệt thịnh            

Sác

Hồng

5

Hư           

Khí huyết hư – suy

Cực hư

Tinh huyết hư

Hư lao

Tinh huyết hao Tạng khí suy

Hư 

Tế - Nhu - Nhược - Đoản

Vi

Sáp

Động

Cách

Đợi (Đại)

6

Kinh sợ

Đợi (Đại)

7

Thực

Thực tích

Thực nhiệt

Tà khí thực

Thực

Hoạt

Thực

Đại

8

Đau

Đau do hàn 

Huyền

Khẩn

9

Quan Cách

Phục

10

Tích kết

 

 

Do Nhiệt, do Dương 

Do Hàn, do ẩm

Xúc

Kết

11

Thấp - Đờm ẩm

Hoạt - Huyền - Nhu

12

Khí Tán

Tán

13

Thất Huyết

Khâu – Động

14

Huyết hư - Khí trệ

Sáp

15

Bình Thường

Trường - Hòa hoãn 

 Trong thực tế lâm sàng hiện nay, đối với các thầy thuốc kết hợp Đông - Tây y việc chẩn đoán phần lớn thường dựa vào các phương pháp và phương tiện của Tây y cùng với một số dữ liệu thu thập được từ cách hòi bệnh của Đông y khiến cho phương pháp chẩn đoán bằng Đông y ngày càng trở nên chấp vá và khiên cưỡng. Điều đó cũng do một phần các phương pháp của Đông y quá trừu tượng không cụ thể như Mạch chẩn. Tuy nhiên nếu biết chú trọng các phương pháp xem lưỡi và Kinh lạc chẩn kết hợp với Vấn chẩn người thầy thuốc sẽ có nhiều cơ hội để biện chứng luận trị một cách chính xác hơn.

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com