Logo
Loading...

Thiên gia diệu phương phần 5

Thiên gia diệu phương phần 5

201. Đau đầu do mạch máu

Biện chứng đông y: Khí trệ huyết ứ, trở yết thanh không.

Cách trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông kinh chỉ thống.

Đơn thuốc: Gia vị huyết phủ trục ứ thang.

Công thức: Xuyên khung 9g, Sài hồ 10g, Đương quy 12g, Sinh địa 12g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 9g, Chỉ xác 9g, Xuyên ngưu tất 9g, Xích thược 9g, Cát cánh 9g, Nguyên hồ 6g, Cam thảo 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nữ, 27 tuổi, kế toán, chưa kết hôn. Tới khám ngày 20-4-1979. Bị bệnh đau nửa đầu có chu kỳ đã hơn 16 năm. Hồi đầu khoảng vài tháng lên cơn một lần, sau mỗi tháng một lần, bắt đầu từ mùa đông năm ngoái mỗi tuần một lần. Trước mỗi lần lên cơn, mắt như nhìn thấy hình ảnh động của gương phản chiếu, tiếp sau đau nhói ở vùng tai phải, kéo dài từ 20 phút đến vài giờ, lúc nặng thì nôn mửa, sau cơn đau mệt mỏi, buồn ngủ. Những lần lên cơn dường như không có liên quan rõ rệt với khí hậu, tinh thần hoặc chế độ ăn uống. Kể rằng dì và em gái đều có bệnh sử tương tự. Đã chữa ở bệnh viện, chẩn đoán là đau nửa đầu do mạch máu, chữa trong nhiều năm không khỏi, người bệnh rất khổ sở. Nay lại sắp lên cơn nên tới khám. Biểu hiện sắc mặt tối tăm, đờ đẫn, lưới tím thâm, đầu lưỡi trái có mảng ứ, mạch trầm, sáp. Đây là chứng đau nửa đầu thể huyết ứ, vì bệnh lâu ngày ắt ứ trệ, che phủ thanh đạo, không thông ắt đau. Phải chữa bằng hoạt huyết hóa ứ, dùng bài Gia vị huyết trục ứ thang, khi khám lại cho thêm Toàn yết 3g, uống tẩt cả 50 thang, các chứng khỏi hết. Trong khi uống thuốc có 3 lần lên cơn, nhưng thời gian cách quãng kéo dài dần, mức độ đau cũng nhẹ. Ngừng thuốc đã hơn một năm mà không tái phát.


202. Đau đầu do mạch máu

Biện chứng đông y: Khí huyết đều hư, huyết hư sinh phong, thượng nhiễu thanh không.

Cách trị: Bổ ích khí huyết, sơ phong chỉ thống.

Đơn thuốc: Quy kỳ khương hoạt thang.

Công thức: Toàn đương quy 24g, Hoàng kỳ (nướng) 24g, Khương hoạt 15g (cho sau). Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu nôn mửa nhiều thì thêm Khương bán hạ 6g, khí trệ huyết ứ thì thêm Xuyên khung 10g, Xạ hương 0,15g, nếu kèm can hỏa thì thêm Câu đằng 18g, Bạch tật lê 10g, Hoàng cầm 10g; âm hư hỏa vượng thì thêm Đan bì 10g, Sinh địa hoàng 15g; nếu đờm trọc nặng thì thêm Pháp hạ 6g, Trúc nhự 10g.

Hiệu quả lâm sàng: Hoàng XX, nữ, 52 tuổi, nông dân tới khám ngày 21-6-1978. Đã 4 năm đau đi đau lại vùng đầu bên trái, hễ cứ làm lụng vất vả hoặc suy nghĩ thái quá là lên cơn, đau lan ra đỉnh đầu, trán, lợm giọng, nôn mửa, váng đầu, mệt mỏi, sức yếu, người hỏang hốt, thỏ gấp, ăn uống giảm sút. Dáng người gầy gò, sắc mặt không tươi. Kiểm tra điện não đồ, chụp phim não đều không phát hiện được gì khác thường, chẩn đoán lâm sàng là đau nửa đầu do mạch máu, dùng nhiều loại thuốc trấn tĩnh, giảm đau cũng như thuốc đông y bình can tức phong mà không có kết quả rõ rệt. Nửa năm nay bệnh nặng thêm, đau đầu liên tiếp, mỗi tuần 2-3 lần, mỗi lần kéo dài 1-3 giờ, người bệnh rất khổ sở. Khám lục mạch trầm, tế, vô lực, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng. Kết hợp mạch chứng chẩn đoán là bệnh lâu ngày, hư nhiều, lại dùng nhiều thuốc đắng, táo khiến khí huyết khuy hao, huyết hư sinh phong, thượng nhiễu thanh không. Cổ nhân có câu "Trị phong trước tiên phải trị huyết, huyết mà hành thì phong tự diệt". Theo đó bèn cho dùng bài Quy kỳ khương hoạt thang, thêm Pháp hạ 6g, uống liền 3 thang, các chứng đều đỡ. Tuy có lên cơn một lần nhưng đau nhẹ, thời gian đau cũng ngắn. Nhưng bệnh nhân kêu miệng nhạt, ăn uống kém. Lấy bài thuốc trên bỏ Pháp hạ, mỗi lần uống lại uống thêm Hương sa lục quân tử hoàn 6g. Dùng thuốc liền hơn 20 ngày, ngoài cảm giác đôi khi váng đầu, còn đều cảm thấy thoải mái. Đó là bệnh lâu ngày dẫn đến hư nhược, nguyên dương bất túc. Bèn cho dùng Nhân sâm dưỡng vinh hoàn để củng cố. Sau phát hai lần, nhưng nhẹ hơn trước nhiều, vẫn trị bằng bài thuốc trên, chỉ vài thang là khỏi. Theo dõi hơn một năm nay không tái phát.

Bàn luận: Bài thuốc Quy kỳ khương hoạt thang do vị đông y lão thành Đường Vĩnh Tế truyền lại, dùng trong lâm sàng có gia giảm để chữa cho những bệnh nhân bị đau đầu tương tự như trên, mỗi lần dùng đều cho kết quả tốt.


203. Đau nửa đầu

Biện chứng đông y: Đờm ngưng khí trệ, phong tà công kích lên đầu.

Cách trị: Khử phong trừ đảm.

Đơn thuốc: Thiên đầu thống thang.

Công thức: Xuyên khung 30g, Bạch chỉ 2g, Sài hồ 3g, Hương phụ 6g, Bạch giới tử 10g, Bạch thược 15g, Uất lý nhân 3g, Cam thảo 3g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Chu XX, nữ, công nhân. Tới khám ngày 12-6-1970. Đã hai ngày nay bệnh nhân bị đau nửa đầu bên trái, đau rất dữ dội, kêu la không ngớt, cả đêm không ngủ. Đêm hôm trước bồn chồn khác thường, cực kỳ đau khổ, xé rách cả một tấm chăn. Đã điều trị bằng thuốc tây y nhưng không hiệu quả, được con dìu đến khám bệnh. Khám thấy tinh thần tỉnh táo, người gầy, vẻ mặt đau đớn cấp tính. Nghe tim phổi không thấy gì khác thường. Huyết áp 120/80 mmHg. Chất lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng, gốc hơi bẩn, mạch huyền tế. Chứng này thuộc về đàm ngưng khí trệ, phong tà thương công. Cần trị bằng cách khử phong trừ đàm. Cho uống "Thiên đầu thống thang". Uống được 1 thang, đau giảm được quá nửa, tự cảm thấy bệnh mười phần đã lui được bảy, tám, đêm đã ngủ được yên được một lúc, rất phấn khởi. Lại uống tiếp 2 thang, đã hết đau nửa đầu, thần sắc trở lại bình thường, bệnh khỏi hẳn. Theo dõi hơn 8 năm sau, không thấy bệnh tái phát.


204. Động kinh

Biện chứng đông y: Can hỏa đàm nhiệt, hợp với phong nhiễu loạn bên trong, che mờ tâm khiếu.

Cách trị: Thanh can tả hỏa, hóa đàm tuyên khiếu, tức phong chỉ kinh.

Đơn thuốc: Gia vị tức phong định giản thang.

Công thức: Trần bì 3g, Pháp hạ 6g, Nam tinh 6g, Hóa bì 6g, Sài hồ 3g, Hoàng cầm 3g, Thanh đại 1,5g, Lô hội 1,5g, Đương quy 9g, Câu đằng 9g, Chích hoàng kỳ 15g, Tây đảng sâm 9g, Bạch truật 6g, Can khương 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Bạch XX, nữ, 32 tuổi. Tới khám ngày 5-4-1969. Bệnh nhân cho biết bị động kinh đã hơn 10 năm. Trước mỗi lúc lên cơn thường rú lên tiếng như lợn dê kêu, sau đó liền hôn mê, ngã ra đất, bất tỉnh nhân sự, miệng sùi bọt trắng, hai mắt trợn ngược, chân tay co giật, ỉa đái dầm dề. Lúc bệnh nặng, mỗi ngày thấy người mỏi mệt rã rời, còn không thấy triệu chứng gì khác. Mạch huyền sác mà hoạt, rêu lưỡi vàng bẩn. Chứng này thuộc về can hỏa đàm nhiệt, hợp với phong làm nhiễu loạn bên trong, che mờ tâm khiếu. Cần trị bằng phép thanh can tả hỏa, hóa đàm tuyên khiếu, tức phong chỉ kinh. Sau khi khám, chúng tôi cho uống "Gia vị tức phong định giản thang" gia giảm, đã uống tất cả 50 thang, bệnh cũ đã hết, khỏe mạnh như thường. Theo dõi mười năm, không thấy tái phát.

Bàn luận: Trong bài thuốc này, vị Thanh đại, Hoàng cầm, Lô hội, Sài hồ có tác dụng thanh can tả hoả; Trần bì, Pháp hạ, Nam tinh, Hóa bì có tác dụng hóa đàm khai trọc. Người xưa có nói "tỳ là nguồn gốc sinh ra đàm", cho phối hợp dùng Đảng sâm, Hoàng kỳ, Trần bì, Bạch truật để bồ tỳ ích khí, vừa có thể triệt được nguồn gốc sinh ra đàm, lại vừa có thể giảm bớt tác dụng khổ, hàn làm hỏng vị của Thanh đại, Lô hội, phát huy tác dụng tức phong thông lạc của Đương quy, Câu đằng. Sách "Kim quỹ" có nêu "người bị bệnh đàm ẩm, nên dùng ôn dược để hóa". Do đó chúng tôi có phối hợp sử dụng Can khương cùng với Pháp hạ, Nam tinh, Hóa bì để ôn hóa đàm trọc. Trong bài thuốc, cùng lúc có sử dụng các vị hàn ôn hư thực, là phù hợp với sự phức tạp và ngoan cố của bệnh động kinh, cho nên sử dụng trên lâm sàng đạt hiệu quả tốt. Nhưng vì đây là một bệnh diễn biến phức tạp và lâu dài, nên tuyệt nhiên không thể dùng 1-2 thang thuốc mà khỏi được, nhất thiết phải uống thuốc kiên trì trong khoảng thời gian dài, bệnh mới có thể khỏi được.


205. Động kinh

Biện chứng đông y: Đàm trở ứng trệ, nghịch làm đờm theo khí dâng lên làm tắc thanh khiếu.

Cách trị: Giáng nghịch trừ đàm, khai khiếu tinh thần.

Đơn thuốc: Khương phàn thang.

Công thức: Sinh khương 9g, Sinh bạch phàn 3g. Hai vị này đem dùng đũa gỗ trộn đều thành dạng hồ, thêm nước vừa đủ, khi bệnh nhân lên cơn đem đổ vào miệng cho uống nhiều lần.

Hiệu quả lâm sàng: Lưu XX, nữ, 7 tuổi. Khám ngày 18-4-1964 Bệnh nhân đột nhiên hôn mê ngã vật xuống, mãi không tỉnh lại. Miệng đùn rớt dãi, chân tay lạnh cứng, cấm khẩu, bàn tay nắm chặt, khí úng, thở thô, trong cổ họng có tiếng đờm rít. Rêu lưỡi trắng bẩn, mạch trầm mà hoạt. Cho cấp cứu bằng "Khương phàn thang" đổ nhiều lần vào miệng. Lát sau bệnh nhi tỉnh lại như thường, lại chạy chơi.

Bàn luận: "Khương phàn thang" chủ yếu dùng để trị cho những bệnh nhân lên cơ động kinh mà thường mãi không tỉnh lại, tức là dùng cho những thực chứng đàm quyết thì tốt. Bài thuốc này nhằm giảm bớt đau khổ cho bệnh nhân phải chịu đựng thời gian lên cơn kéo dài. Trong bài thuốc này, Bạch phàn tinh vị chua hàn, táo thấp khứ đàm, Sinh khương tinh vị cay ấm, hạ khí khứ đàm. Hai vị phối hợp, hành khí tan đờm, thần tỉnh mà khiếu được khai.


206. Động kinh

Biện chứng đông y: Phong đàm ứng trệ, nhiễu loạn thanh không, che mất tâm khiếu.

Cách trị: Khu phong hóa đàm, thông kinh khai khiếu.

Đơn thuốc: Định giản thang.

Công thức: Cúc hoa 9g, Câu đằng 9g, Bạc hà 3g, Đảm nam tinh 3g, Khương bán hạ 3g, Trần bì 3g, Vân phục linh 9g, Cương tàm 9g, Trúc nhự 9g, Thiên trúc hoàng 3, Tuyên mộc qua 9g, Ti qua lạc 9g, Chính cam thảo 3g, Đạm trúc diệp 9g, (trên đây là liều dành cho trẻem). Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu đàm nhiệt thịnh, có thể thêm Hoàng cầm (sao) 3g, Địa long 9g; nếu sau khi lên cơn co giật mà chân tay tê dại thì có thể thêm Nhẫn đông đằng 9-12g, Tang chi 9-12g, Kê huyết đằng 9-12g; nếu đầu váng mắt hoa, bồn chồn không yên thì có thể thêm Long xỉ 12-15g; với người nhiệt chứng không rõ thì thêm Khương hoạt tùy mức từ 3 đến 9g, Độc hoạt 3-9g; nếu tiêu hóa không tốt có thể tùy liệu thêm lượng vừa đủ Mạch nha, Cốc nha, Dĩ nhân.

Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nam, 5 tuổi. Tới khám ngày 28-4-1978, Bệnh nhi đẻ thuận, đủ tháng. Sau khi sinh, phát triển bình thường. Từ tháng 12-1977 bắt đầu phát sinh chân tay vô lực, không đi được, qua điều trị thì bệnh khỏi. Nhưng sau đó lại thấy cơ thể suy nhược, ăn uống kém, rồi lên cơn động kinh. Khi tới khám, đúng vào lúc lên cơn động kinh, thấy bệnh nhi hai mắt lác đi, chân tay co giật, mép sùi bọt trắng, sắc mặt trắng bệch, người không tỉnh táo, lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn, vân tay đỏ. Sau khi cho dùng "Định giản thang". Trước sau khám tất cả 5 lần, cho dùng bài thuốc này có gia giảm, tất cả uống 24 thang, các triệu chứng đã khỏi, bình phục. Về sau bố mẹ bệnh nhi có viết thứ cảm ơn, kể rằng bệnh cháu bé đã khỏi hẳn.


207. Động kinh

Biện chứng đông y: Phong đàn nội tụ, uất lâu hóa nhiệt, nhiệt đốt can âm, can dương thượng cang.

Cách trị: Trấn can tức phong, tư âm giáng hỏa, trừ đàm định kinh.

Đơn thuốc: Tam thạch thang.

Công thức: Sinh đại giả thạch 120g, Linh từ thạch 60g, Kim mông thạch 15g, Toàn yết 9g, Trần bì 9g, Pháp bán hạ 9g, Đạm trúc nhự 9g, Đảm nam tinh 9g, Sinh cam thảo 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Tôn XX, nam, 18 tuổi, học sinh. Hơn 10 năm nay bị bệnh động kinh, đã dùng nhiều loại thuốc để chạy chữa mà không khỏi. Gần đây, bệnh tình lại phát triển, ngày nào cũng lên cơn, ít thì 1-2 lần, nhiều thì tới mấy lần. Khi lên cơn bệnh nhân thình lình thét lên, hai mắt trợn ngược, tay chân co giật, mép sùi đờm dãI, bệnh nhân vô cùng đau khổ. Khám thấy bệnh nhân tâm thần ngơ ngác, nói năng không lưu loát, trí nhớ kém, phân khô, mạch trầm huyền hữu lực hơi sác, chất lưỡi hơi đỏ, rêu vàng, trắng bẩn. Sau khi khám, cho dùng "Tam thạch thang" uống được một tuần đã giảm lên cơn, chỉ còn 2 lần, hơn nữa các triệu chứng cũng giảm đi rõ rệt. Rêu lưỡi giảm, mạch trầm huyền. Lại dùng bài thuốc trên, tiếp tục cho uống hơn 20 thang nữa, các cơn động kinh đã bị ngăn chặn. Ngừng uống thuốc đã mấy năm, trong suốt thời gian này chỉ có 1 lần lên cơn, với các triệu chứng rất nhẹ. Trí nhớ của bệnh nhân đã khá hơn rất nhiều so với trước đây, cũng đã làm được một số công việc trong gia đình.


208. Động kinh

Biện chứng đông y: Hàn uất hóa nhiệt, tâm âm khí hư, can phong nội động, hiệp đờm ngược lên.

Cách trị: Hóa đàm tức phong, tư âm định kinh.

Đơn thuốc: Giản chứng hoàn.

Công thức: Thiên trúc hoàng 15g, (tán mịn riêng), Trầm hương 9g, Thiên đông 60g, Bạch thược 90g; Phục thần 120g, Chích cam thảo 18g, Viễn chí nhục 60g (đun chín), Mạch đông 60g (bỏ lõi), Toàn phụng hoa 45g, Tô tử 30g, Chế hương phụ 90g, Khương bán hạ 30g, Tạo giác giáp 60g (bỏ vò đen, bỏ hột rồi sao lên). Tất cả đem tán mịn lấy một lượng bột Hoài sơn dược vừa đủ, trộn đều cùng với nước, làm hoàn, lấy Chu sa làm áo, mỗi lần uống 9g, mỗi ngày uống 2-3 lần.

Hiệu quả lâm sàng: Sái XX,nam, 25 tuổi. Tới khám ngày 6-9-1978. Bệnh nhân bị động kinh đã 9 năm nay, đã tìm nhiều cách chữa trị nhưng chưa có kết quả. Trước khi tới khám, ngày nào cũng uống Phenytoin Natri (Dilantin), nhưng cứ khoảng 10- 20 hôm lại lên cơn 1 lần, khi lên cơn bao giờ cũng bắt đầu bằng một tiếng kêu thét, sau đó hôn mê ngã xuống, mép sùi bọt trắng, chân tay co giật. Sau khi khám, cho điều trị một đợt "Giản chứng hoàn". Bệnh nhân uống trong khoảng hơn một tháng. Trong suốt thời gian này không thấy lên cơn. Lại tiếp tục cho dùng một đợt nữa, khuyên nên chịu khó kiên trì uống liên tục. Uống hết thuốc thì bệnh khỏi, theo dõi gần 2 năm, tình trạng bệnh nhân tốt, khoẻ như người thường, không thấy tái phát cơn động kinh.

Bàn luận: Bài thuốc "Giản chứng hoàn" này rút từ "Tiên tỉnh trai y học quảng bút ký" với tên gốc là "Bổ tâm ninh chi hoàn", gia giảm mà thành, đã thu được kết quả lý tưởng trên lâm sàng.


209. Rối loạn tuần hoàn não (hoặc tai biến mạch máu não)

Biện chứng đông y: Khí hư mà huyết hành không thông mạch lạc ứ trệ.

Cách trị: Bổ ích khí huyết, tiêu ứ thông lạc.

Đơn thuốc: Gia vị bổ dương hoàn ngũ thang.

Công thức: Hoàng kỳ 30g, Xích thược 12g, Xuyên khung 6g, Đương quy 9g, Địa long 9g, Đào nhân 9g, Hồng hoa 9g, Bạch phụ tử 9g, Cương tàm 15g, Toàn yết 15 con. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nam, 40 tuổi, cán bộ. Tới khám tháng 8-1972. Bệnh nhân đi xa thăm người nhà, mấy ngày đi đường rồi tiếp khách quá mệt, một buổi sớm ngủ dậy đột nhiên có cảm giác tê cứng nửa mặt bên phải, mồm méo, mắt lác đi, nửa người bên phải cử động bị hạn chế, đi lại chậm chạp, nói năng hơi khó khăn. Chúng tôi khám thấy: mạch trầm huyền, lưỡi nhạt, rêu trắng hơi bẩn. "Tà đã tụ lại, khí tất phải hư", khí mà hư thì huyết hành không thông, mạch lạc bị ứ trệ. Bệnh nhẹ nên xuất hiện các triệu chứng về kinh lạc, miệng méo mắt lác, nói năng khó khăn, cử động nửa người bị hạn chế, đi lại chậm chạp. Mạch trầm, lưỡi nhạt là thuộc chứng lý hư. Cần trị bằng phép bổ ích khí huyết, tiêu ứ thông lạc. Cho dùng "gia vị bổ dương hoàn ngũ thang". Uống liền 10 thang, bệnh nhân cảm thấy mặt mũi dễ chịu, nói năng dần dần trở lại lưu loát, nhưng mồm và mắt cử động khép mở vẫn không tự nhiên, đi lại chưa được linh hoạt, mạch trầm trì. Trầm là khí hư không đạt, trì là huyết hành không thuận lợi, nên vẫn xử lý theo hư chứng. Vẫn dùng bài thuốc trên, tăng thêm vị Hoàng kỳ lên 60g, thêm Tế tân 1,5g để ôn kinh thông tị, nhập lạc thu phong, lại cho uống liền 10 thang, tự cảm thấy có kết quả rõ rệt, mồm, mắt cử động đã bình thường, chỉ còn cảm thấy miệng khô, đầu váng, mạch trầm hơi sác, rêu mỏng trắng. Bài thuốc trên, bỏ Tế tân, Bạch phụ tử, thêm Thiên ma 6g, Thạch hộc 9g, để khứ phong tư âm. Lại uống liên tiếp 10 thang nữa, đã giảm các chứng váng đầu, miệng khô, chân tay đã cử động gần như bình thường, mạch trầm hơi sác, rêu mỏng trắng, tiếp tục uống 10 thang thuốc nữa, các triệu chứng đều hết, không còn di chứng gì nữa.

Bàn luận: Trường hợp bệnh này đông y gọi là trúng phong, các diễn biến bệnh nhẹ, chữa kịp thời, thuốc đúng bệnh cho nên khỏi nhanh, không để lại di chứng. Trong bài thuốc có Kỳ, Quy để bổ khí dưỡng huyết, Khung, Thược để lý khí hòa huyết, Đào, Hồng để phá ứ sinh tân, Địa long, Toàn yết để thông lạc trấn kinh, Cương tàm, Bạch phụ tử để khứ phong hóa ứ. Các vị trên phối hợp với nhau, cùng bổ ích khí huyết, tiêu ứ thông lạc, do đó mà thu được hiệu quả khá tốt.


210. Xuất huyết dưới màng nhện

Biện chứng đông y: Ứ huyết nội trở, uất lâu sinh nhiệt, nhiệt làm tổn thương kinh mạch, huyết không đi đúng đường tràn ra mà thành bệnh.

Cách trị: Hành khí hoạt huyết, khử ứ sinh tân.

Đơn thuốc: Huyết phủ trục ứ thang.

Công thức: Đương quy 9g, Sinh địa hoàng 15g, Đào nhân 15g, Hồng hoa 9g, Chỉ thực 9g, Xích thược 15g, Sài hồ 6g, Cam thảo 3g, Cát cánh 4,5g, Xuyên khung 4,5g, Ngưu tất 9g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Triệu XX, nữ, 11 tuổi. Vào viện ngày 10-11-1973. Giữa trưa hôm đó bệnh nhi muốn ra ngoài chơi, đột nhiên hôn mê ngã lăn ra đất, nôn, vội vàng đưa đến bệnh viện cấp cứu. Khám thấy: thân nhiệt 36,7 độ C, mạch đập 98 lần/phút, huyết áp 110/60 mmHg, bạch cầu 32.400/mm3, đang trong trạng thái hôn mê, sắc mặt trắng bệch, phản xạ với ánh sáng chậm, cổ cứng, chân tay lạnh, tim phổi gan lách không có gì khác thường. Cho tiêmpenixillin, gentamyxin và truyền dịch. Ngày thứ ba sau khi vào viện, bệnh tình vẫn chưa đỡ, vẫn ở trạng thái nửa hôn mê, thân nhiệt 38,3 độ C, đồng tử bên phải to hơn bên trái, phản xạ với ánh sáng chậm, rãnh mũi mép phía bên phải nông, cổ cứng rõ rệt, Kerning và Brudzinski đều dương tính, phía bên phải rõ rệt. Sau khi vào viện 4 ngày, tiến hành chọc ống sống, dịch não tủy có máu, phần trên trong, có màu vàng nhạt, chẩn đoán lâm sàng là xuất huyết dưới màng nhện. Đông y nhận định rằng chủ yếu là ứ huyết nội trở, tràn ra thành bệnh, cần phải hành khí hoạt huyết, khử ứ sinh tân. Sau khi khám cho dùng "Huyết phủ trục ứ thang". Dùng thêm ít thuốc trấn tĩnh Aminazin, Luminal. Uống được 10 thang giảm nhiều đau đầu, các triệu chứng kích thích màng não đã hết, tinh thần khá lên. Xét nghiệm lại dịch não tủy, các chỉ tiêu đều trở về bình thường. Tiếp tục chăm sóc thì tình trạng cháu bé ổn định, bệnh khỏi. Ngày 17-12-1973 ra viện.

Bàn luận: Bài thuốc "Huyết phủ trục ứ thang" nguyên lấy từ "Y lâm cải thác", có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, chủ trị ứ huyết ngưng trở, kiêm can khí uất trệ, có các triệu chứng như đau ngực, đau mạng sườn, đau đầu mất ngủ, tim đập hồi hộp, hay tức giận, trong y văn đã ghi lại không ít người dùng bài thuốc này để trị đau thắt ngực, các di chứng sau chấn động sọ não, đều có kết quả tốt. Chúng tôi điều trị xuất huyết dưới màng nhện, đã quan sát trên lâm sàng nhiều năm, thấy kết quả khả quan. Từ thực tế đó nhận thấy rằng nếu bệnh ở giai đoạn đầu, thoạt tiên nên dùng "Tê giác địa hoàng thang gia giảm" để lương huyết cầm máu, chờ bệnh tình ổn định, lại cho dùng "Huyết phủ trục ứ thang", thì kết quả sẽ lý tưởng.


211. Nghẽn mạch não

Biện chứng đông y: Âm hư sinh nhiệt, nội phong nhiễu động, kinh mạch huyết trệ.

Cách trị: Dưỡng âm thanh nhiệt, thông kinh hoạt huyết.

Đơn thuốc: Hi thiêm chí âm thang.

Công thức: Chế hi thiêm thảo 50g, Can địa hoàng 15g, Diêm tri mẫu 20g, Đương quy 15g, Câu kỷ tử 15g, Xích thược (sao) 2g, Quy bản 10g, Ngưu tất 10g, Cam cúc hoa 15g, Uất kim 15g, Đan sâm 15g, Hoàng bá 5g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nam, 50 tuổi, giáo viên trung học, tới khám ngày 4-2-1973. Hơn 20 ngày trước, sau khi tỉnh ngủ, muốn trở mình thì cảm thấy chân tay không linh hoạt khó khăn lắm mới lật được từ phải sang trái, khi muốn trở mình lại thì không lật được nữa. Rồi mũi méo xệch, nói năng thều thào không rõ. Nửa người bên trái bình thường, nửa người bên phải bị liệt mềm. Đã khám chữa ở một bệnh viện, chẩn đoán lâm sàng là nghẽn mạch não, nằm viện hơn nửa tháng, điều trị không thấy kết quả rõ rệt, khuyên nên điều trị bằng thuốc đông y. Khám thấy tức ngực tâm phiền, cổ khô thèm uống, nước tiểu sẫm màu, mạch huyền tề mà sác, chất lưỡi đỏ, rêu mỏng ít tân dịch. Đó là âm hư nhiệt tăng, nội phong nhiễu động, kinh mạch huyết trệ. Cho dùng "Hi thiêm chí âm thang", trong đó bỏ bớt Đương qui 5g, bỏ Hoàng bá, thêm Liên kiều 15g, Chi tử 15g, Hoa phấn 15g. Uống 3 thang, nhiệt đã lui, nói năng rõ ràng, giảm méo mồm. Nhiệt ở kinh tâm đã lui, nhưng huyết nhiệt ứ trệ trong kinh cân vẫn chưa hết hẳn. Lại dùng nguyên phương, bỏ Liên kiều, Chi tử, thêm Quất lạc 10g, Quảng địa long 5g, uống 7 thang đã hồi phục nửa người bên phải (khỏi liệt). Tuy nhiên vẫn thấy chất lưỡi còn đỏ, mạch vẫn huyền tế, đó là âm hư, cần tiếp tục tu dưỡng. Chuyển cho dùng "Lục vị địa hoàng hoàn", uống 10 thang, các chứng đều hết, khỏe mạnh như thường.

Bàn luận: Phàm các chứng trúng phong âm hư đều thấy vàng đầu, ù tai, hoa mắt, ít ngủ, đột nhiên cứng lưỡi khó nói, mồm mũi méo đi, bán thân bất toại, hai bàn tay nắm chặt, cả người thẳng cứng có khi co giật, mặt đỏ người nóng, phiền táo không yên, nặng thì có thể đột nhiên hôn mê, nói khó khăn, bí đái, táo bón v.v..., có thể dùng Hi thiêm thảo phối hợp với Đại bổ âm hoàn chủ yếu để bổ dưỡng âm tinh của thận bị khuynh tổn, đồng thời dùng Đương quy, Câu kỷ, Ngưu tất để ôn dưỡng khí trong kinh âm không tiết được. Xích thược, Uất kim, Đan sâm, Cam cúc hoa để hoạt được yên, phong bị dập tắt, bệnh sẽ khỏi.


212. Nghẽn mạch não

Biện chứng đông y: Can dương quá tăng, phong dương nội động, bức huyết nghịch lên, lạc ở não bị tổn thương, làm cản trở, nghẽn tắc thanh khiếu.

Cách trị: Bình can tức phong, tiềm dương thông lạc.

Đơn thuốc: Đan câu lục chi ẩm gia giảm.

Công thức: Đan sâm 30-60g, Câu đằng 15-30g, Hi thiêm thảo 12-24g, Hạ khô thảo 12-24g, Địa long 9g, Hồng hoa 6g, Tang chi 15g, Quất chi 15g, Tùng chi 15g, Đào chi 15g, Sam chi 15g, Trúc chi 15g, Cam thảo 3g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Với bệnh nhân nhiều đờm dãi thì thêm Toàn qua lâu 15g, Lai phục tử 20g, với người hôn mê thì thêm Uất kim 9g, Xương bồ 9g; nếu huyết áp giữ nguyên không hạ thì thêm Đại giả thạch 20g, Ngưu tất 20g; người bệnh đã lâu, dịch huyết bất túc, mạch tế huyền thì thêm Đương quy 15g, Hà thủ ô 15g; nếu thận tinh không đủ, đau lưng mỏi gối, mạch trầm tế huyền thì thêm Câu kỷ 15g, Sơn dược 15g.

Hiệu quả lâm sàng: Đã dùng "Đan câu lục chi ẩm gia giảm" điều trị cho 16 bệnh nhân, 10 ca khỏi, 4 ca có chuyển biến tốt, 2 ca không có kết quả.

Bàn luận: Thực tiễn lâm sàng chứng minh bài thuốc "Đan câu lục chi ẩm gia giảm" còn có hiệu quả tốt trong điều trị mất ý thức do tai biến mạch máu não. Trong bài thuốc này có Đan sâm, Hồng hoa để hoạt huyết khứ ứ, Câu đằng để bình can tức phong, Hi thiêm thảo khử phong thông lạc, Hạ khô thảo thanh tả can hỏa, Địa long làm thông kinh lạc, Lục chi sơ đạt lạc mạch; Cam thảo thanh nhiệt dưỡng vị, các vị phối hợp lại có tác dụng bình can tức phong, hoạt huyết thông lạc.


213. Choáng

Biện chứng đông y: Vong âm vong dương.

Cách trị: Hồi dương cứu nghịch, bổ ích khí âm.

Đơn thuốc: Kỳ phụ sinh mạch tán dương.

Công thức: Hoàng kỳ 15g, Thục phụ 9g, Nhân sâm 9g, Mạch đông 12g, Ngũ vị tử 9g. Sắc uống nhiều lần, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Đã sử dụng "Kỳ phụ sinh mạch tán" trên lâm sàng điều trị cho 30 bệnh nhân bị choáng, trong đó có 24 ca sau 4 giờ các triệu chứng bắt đầu chuyển biến tốt rõ rệt, huyết áp tăng lên, sắc mặt hồng hào hơn, chân tay ấm lại dần, mạch đều và có lực hơn trước, hiện tượng đổ mồ hôi cũng giảm bớt dần. 6 trường hợp khác do cơ thể bệnh nhân vốn đã suy nhược, nên sau 24 giờ các triệu chứng mới bắt đầu chuyển biến tốt. Giang XX, nữ, 27 tuổi, nông dân. Bệnh nhân có tiền sử bệnh tim, ho đã hơn 20 ngày, 5 ngày nay thở gấp, mồm miệng xanh nhợt, chân tay phù, vào viện ngày 12-12-1978. Khám thấy: sắc mặt trắng bệch, mồm miệng tái nhợt, chân tay lạnh ngắt, mồ hôi vã ra không ngớt, 2 gò má đỏ, miệng khô, đái ít, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu trắng, mạch hơi tế, bệnh thuộc về do ốm lâu, khí huyết bị tổn hại dẫn đến âm dương mất cân bằng, có nguy cơ âm kiệt ở trong, dương thoát ra ngoài, phải cấp tốc hồi dương cứu nghịch, bổ ích khí âm, dùng bài "Kỳ phụ sinh mạch tán" làm chủ phương. Mấy giờ sau khi uống thuốc, tinh thần đã tỉnh táo, sắc mặt hơi hồng hào trở lại, tay chân ấm lên, ít ra mồi hôi, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng, mạch tế nhược, biết rằng thuốc đã trúng bệnh, cho uống tiếp 2 thang nữa. Ngày 16-12 hết mồ hôi, tinh thần đã khá hơn nhiều, đã có thể xuống đất đi lại nhưng còn cảm thấy chân tay nặng nề, ăn không ngon, đổi dùng Dưỡng tâm thang để củng cố kết quả điều trị, ngày 20-12 bệnh nhân ra viện.

Bàn luận: Choáng trong tây y dùng để chỉ trạng thái bệnh nguy hiểm, tương đương với vong âm vong dương trong đông y. Biểu hiện lâm sàng là hệ thống tuần hoàn bị trở ngại, huyết áp xuống thấp, tim đập nhanh, thở gấp, mạch tế nhược, đái ít, người không tỉnh thậm chí hôn mê. Quá trình cấp cứu phải được theo dõi chặt chẽ.


214. Ngủ nhiều từng cơn

Biện chứng đông y: Đàm thấp nội trở, úng trệ trung tiêu.

Cách trị: Hóa càm trừ thấp, kiện tì hòa vị.

Đơn thuốc: Gia vị nhị trần thang.

Công thức: Bạch truật 12g, Phục linh 12g, Trần bì 6g, Bán hạ 9g, Thạch xương bồ 9g, Cam thảo 6g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trương XX, nữ, 38 tuổi. Tới khám ngày 8-10-1975. Đã 4 tháng nay, bất kể ngày đêm, bệnh nhân lúc nào cũng buồn ngủ, nhất là sau bữa ăn, gọi thì tỉnh, tỉnh rồi lại ngủ lại. Kèm theo các chứng: tức ngực, kém ăn, ăn vào dễ nôn ra, nặng đầu hoa mắt, cơ thể nặng nề mỏi mệt, ăn không ngon miệng, miệng hôi, nhiều đờm, kinh nguyệt bình thường, bạch đới khá nhiều như nước mũi, không hôi; lưỡi dầy, rìa lưỡi hằn vết răng, chất lưỡi trắng nhạt, rêu trắng bẩn, mạch nhu mà hoãn. Đã điều trị ở nhiều nơi nhưng không có hiệu quả. Khám thấy bệnh này thuộc về tì hư bất vận, thủy thấp ngừng lại, ngưng tụ thành đờm, đờm thấp nghẽn trở, tì dương không phấn chấn, thanh dương không thăng, vị mất hòa giáng. Cần trị bằng phép hóa đờm trừ thấp, kiện tì hòa vị. Cho dùng "Gia vị nhị trần thang". Uống được 2 thang các chứng đều hết, bệnh khỏi.

Bàn luận: "Linh khu" có nói:" Dương khí thịnh thì mở mắt, âm khí thịnh thì nhắm mắt, vì dương chủ về động, âm chủ về tĩnh, âm khí thịnh tất sinh ra ngủ nhiều. Lý Đông Viên đã nói: "Tì khí hư tất sinh buồn ngủ". Chu Đan Khê cũng đã nói: "Tì vị bị thấp, nặng nề mỏi mệt, sinh ra buồn ngủ". Trường hợp này là tì hư bất vận, thủy thấp nội đình, ngưng tụ thành đờm, đờm thấp vây tì làm tì dương không phấn chấn, sinh tức ngực kém ăn, miệng dính đờm nhiều, người nặng nề buồn ngủ, lưỡi bệu, ria lưỡi có vết hằn răng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng bẩn, mạch nhu mà hoãn. Đờm trọc ngưng tụ, thanh dương không thăng thì đầu nặng, mắt mờ, vị không hòa giáng mà lại trào ngược lên, làm cho ăn vào lại dễ nôn ra. Các triệu chứng trên rõ ràng là tì hư thấp tụ, cho nên điều trị phải chọn các vị thuốc táo thấp kiện tì, lý khí hòa trung. Trong bài thuốc trên, Bán hạ tính vị tân ôn có tác dụng táo thấp hóa đàm, hòa trung ngừng nôn: Trần bì lý khí hóa đàm, làm cho khí thuận đàm giáng; Bạch truật, Phục linh kiện tì lợi thấp; Thạch xương bồ phương hương hóa thấp, khai vị khoan trung; Cam thả hòa trung bổ thổ, kiện tì hóa thấp. Các vị phối hợp, tì kiện mà thấp hóa, tuy chỉ uống 2 thang mà thuốc đã trúng, bệnh đã khỏi. Do đó có thể thấy trị bệnh không cứ phải dùng nhiều thuốc, mà cần biện chứng chuẩn xác, dùng thuốc đúng bệnh.


215. Ngộ độc Streptomycin (váng đầu, đầu lắc lư)

Biện chứng đông y: Bệnh của tướng hỏa ở kinh thiếu dương tam tiêu.

Cách trị: Bình can tức phong kiêm tả thiếu dương tướng hỏa.

Đơn thuốc: Giải liên thang (Thanh giải độc Streptomycin).

Công thức: Bạch thược 20g, Sinh địa 25g, Cúc hoa 10g, Tật lê 15g, Bạch chỉ 10g, Cát căn 15g, Sinh thạch cao 25g, Giả thạch 20g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trương XX, 40 tuổi, nữ, Tới khám ngày 25-1-1975. Ngày 22-11-1974, bệnh nhân bị viêm phổi, phải tiêm liên tục penicillin và streptomycin tới 1 tháng liền, sau đó lại tiêm riêng streptomycin trong 3-4 ngày, thấy xuất hiện váng đầu, đầu lắc lư, co cơ. Bốn ngày sau khi ngừng tiêm streptomycin, vì thấy các triệu chứng trên ngày càng trầm trọng, nên cho tiêm 6542, không có hiệu quả. Từ đó, các triệu chứng kể trên không thấy giảm bớt, đôi khi còn xuất hiện chảy máu cam, tâm phiền, phân khô. Chẩn đoán lâm sàng là phản ứng ngộ độc streptomycin. Chất lưỡi đỏ, mạch trầm sáp. Cho dùng "Giải liên thang", uống 12 thang thì bệnh khỏi, theo dõi 2 năm sau không thấy tái phát.

Bàn luận: Chúng tôi đã dùng bài thuốc "Giải liên thang" điều trị cho 8 bệnh nhân bị ngộ độc streptomycin, các triệu chứng gần giống nhau, chủ yếu biểu hiện ở váng đầu, đầu lắc lư, co cơ, tâm phiền, kết quả điều trị đều rất khả quan.


216. Teo não toả lan

Biện chứng đông y: Trung khí hư tổn, gân cốt suy phế.

Cách trị: Ích khí dưỡng can bổ thận.

Đơn thuốc: Hoàng kỳ, quế chi, ngũ vật thang gia giảm.

Công thức: Hoàng kỳ 150g, Bạch thược 50g, Quế chi 20g, Sinh khương 10g, Đại táo 5 quả, Đương quy 20g, Ngưu tất 20g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Tiết XX, nữ, 45 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 27-3-1974. Từ năm 1970, bệnh nhân bắt đầu dần dần bị đau đầu váng đầu, trí nhớ giảm sút rõ rệt, ngay việc trong ngày hôm đó cũng có thể quên, chân tay rã rời, mỏi mệt. Từ năm 1973 không đứng vững được nữa, tay không cầm nổi đũa, nhai cơm toàn vãi ra ngoài. Đã bơm khí vào não và chụp não ở một bệnh viện, chẩn đoán là teo não toả lan (mạc trên, mạc dưới thùy đỉnh, cả hai bên thùy chẩm, nhất là bên phải). Bệnh nhân rất gầy, toàn thân không thể cử động, chây tay teo nhũn, rụng hết răng. Chất lưỡi bệu, không có rêu, mạch trầm nhược. Cho dùng "Hoàng kỳ, quế chi, ngũ vật thang gia giảm" Uống được 30 thang tới ngày 27-4 khám lại thấy có người đỡ có thể đi được. Nhưng đại tiện táo bón, miệng khô, đầu hơi đau, mạch nhược, lưỡi nhạt dễ khô, như vậy là bệnh đã chuyển, nhưng âm dịch vẫn còn thiếu, vẫn dùng nguyên phương, thêm hỏa ma nhân, Thốn vân, Thủ ô, Thiên hoa phấn, Sinh địa, Cúc hoa, bệnh nhân tiếp tục uống tới ngày 30-5 đã có thể chống gậy đi được khoảng 200 mét, các cơ bị teo đã có chuyển biến tốt. Chỉ còn đùi bên trái đau nhức, toàn thân vẫn mệt mỏi, chất lưỡi hơi tím đen, mạch nhược. Vậy là khí âm đang dần dần trở lại, cần phải chữa cả ngọn và gốc, cho bài thuốc sau: Hoàng kỳ 150g, Bạch thược 50g, Quế chi 20g, Đương quy 20g, Địa long 20g, Ngưu tất 200g, Thủ ô 25g, Thốn vân 25g, Nữ trinh tử 25g, Thỏ ty tử 25g, Địa long 20g, Thổ miết trùng 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Cứ như vậy điều trị nửa năm, hết teo, trí nhớ phục hồi, hoạt động bình thường. Tây y khám thấy trừ ngón chân cái bên trái còn hơi mất cảm giác, ngoài ra không có biểu hiện bất thường nào ở hệ thống thần kinh, cơ bản đã khỏi bệnh và ra viện.


217. Thân não hủy Myêlin

Biện chứng đông y: Âm hư dương vượng, phong đàm trở lạc.

Cách trị: Khứ phong hóa đàm thông lạc, dưỡng huyết bình can.

Đơn thuốc: Phức phương khứ phong thông lạc phương.

Công thức: Sinh kỳ 15g, Cương tàm 4,5g, Toàn yết 3g, Câu đằng 30g, Huyền sâm 12g, Tri bá 10g, Cát cánh 7,5g, Ngô công 4 con, Cúc hoa 10g, Sinh địa 15g, Thích tật lê 10g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Rượu mật rắn trần bì một chai, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần nửa chai.

Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 29 tuổi. Chiều ngày 9-8-1967 bắt đầu cảm thấy chóng mặt, đau nhức vùng gáy, hai chân mềm nhũn, lúc đi đường cứ vẹo sang bên phải, hai mắt nhìn không linh hoạt, nhìn một vật thành hai. Một tuần sau không đi lại được. Sau khi khám ở khoa thần kinh, chẩn đoán là thân não hủy myêlin. Đã uống cortison và nhiều loại vitamin, không có kết quả rõ rệt. Ngày 29-7, tới khám thấy váng đầu, căng đầu, ù tai, tê dại mặt và tay phải, run giật, con mắt chuyển động không linh hoạt, mắt trái không liếc ra ngoài được, hai mắt liếc vào trong đều kém, lưỡi tê, nói khó, ăn uống khó khăn, đùi phải không đứng lên được, đi lại khó khăn, đại tiểu tiện bình thường. Trước khi bị bệnh, không sốt và tiêm phòng gì cả, không nghiện rượu, thuốc lá. Phản xạ đầu gối tăng, bên phải mạnh hơn bên trái, phản xạ Babinski phải dương tính, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế hoạt, chứng này là âm hư dương cang, phong đàm trở lạc. Trị bằng phép khứ phong hóa đàm thông lạc, dưỡng huyết bình can. Cho uống "Phức phương khứ phong thông lạc phương". Uống được 14 thang, ngày 16-11 khám lại, các chứng trên đều giảm rõ rệt, không còn váng đầu, đi lại không bị loạng choạng. vẫn còn cảm thấy mệt mỏi, có lúc thấy căng đầu, nửa đầu bên trái đau, vẫn còn nhìn một vật thành hai, tay phải tê, mạch trầm tế, rêu lưỡi trắng. Vậy là sau khi uống thuốc, bệnh chuyển biến tốt, nhưng khí huyết chưa đủ, lạc mạch vẫn bất hoàn cần phải nuôi dưỡng khí huyết, sơ thông lạc mạch. Cho dùng nguyên phương, bỏ Cát cánh, Sinh kỳ đổi thành 30g, thêm Thủ ô đằng 30g, Mộc qua 12g, tiếp tục cho uống. Ngày 18-12, khám lại: hết váng đầu, nhìn rõ mọi vật, nói năng rõ ràng, đi lại không khó khăn. Nhưng tay và môi vẫn thấy tê, rêu mỏng trắng, mạch trầm hoạt. Vì vậy, trong bài thuốc trên thay Thủ ô đằng bằng Thủ ô 15g, khuyên nên tiếp tục uống. Ngày 21-2-1968, khám lại: cảm giác tê đã giảm bớt, tinh thần và sức khoẻ đã như thường, chỉ còn thấy căng đầu, ăn, ngủ, đại tiểu tiện đều bình thường rêu sạch, mạch hoà, lúc này bệnh nhên đã đi làm được hơn 2 tháng, không thấy có khó chịu. Chúng tôi khuyên nên điều dưỡng bằng thuốc hoàn để củng cố kết quả điều trị.

Bài thuốc như sau: Sinh kì 60g, Thủ ô 30g, Toàn phúc hoa 30g, Giả thạch 30g, Xích thược 30g, Toàn yết 10g. Ngô công 10 con, Câu đằng 30g, Sinh địa 60g, Xích thược 30g, Bạch thược 30g, Đương quy 60g, Xuyên khung 30g, Cúc hoa 30g, Sinh thạch quyết 30g, Tật lê 30g, Thỏ ti tử 30g, Nữ trinh tử 30g, Tiên mao 30g, Hổ phách 3g, Tiên linh ti 30g, đem tất cả tán mịn trộn mật làm hoàn, mỗi viên nặng 10g, ngày uống 2 lần vào buổi sáng và buổi tối, mỗi lần 1 viên.

Bàn luận: Biểu hiện lâm sàng thể hiện sự tổn thương bó tháp (như khó cử động, tăng phản xạ đầu gối, xuất hiện các phản xạ bệnh lý v.v...), lại có liệt thần kinh sọ não ngoại biên (như hoạt động của nhãn cầu không linh hoạt, nhìn một vật thành hai, khó nói, nuốt khó v.v...) tây y chẩn đoán là thân nảo hủy Myêlin, nguyên nhân của bệnh cho tới nay người ta vẫn chưa biết rõ, cũng chưa có cách điều trị đặc biệu. Theo quan điểm đông y, bệnh này không giống với các quy luật trúng phong nói chung, nếu như không có phương pháp kết hợp cả phân tích bệnh lẫn phân tích chứng, thì có thể cho rằng đây là một quái bệnh (bệnh lạ). Qua phân tích tỉ mỉ các triệu chứng bệnh quan sát thấy khi bệnh nhân phát bệnh thì bỗng nhiên cảm thấy chóng mặt, đau đầu, đó chính là cảm thụ phong tà, do chính khí không đủ, âm huyết không đủ, phong tà nhập lý, nhất thời không được giải, hóa thành táo, cô dịch thành đờm, phong đờm làm tắc kinh lạc, dẫn đến chân tay tê dại, trở ngại vận động. Can chủ cân, âm huyết không đủ, cân mất sự nuôi dưỡng, sẽ sinh chân tay run, khó nói, âm hư dương vượng, can khí thượng ngịch, phong đờm lên nhiễu ở trên, sẽ dẫn tới căng đầu, váng đầu, ù tai; can khai khiếu ở mắt, âm huyết không đủ, không thể dưỡng mục, sẽ thấy con ngươi chuyển đọng không linh hoạt, hai mắt nhìn mọi vật không rõ. Cần dùng dưỡng huyết bình can, tán phong hóa đàm, thông lạc. Trong bài thuốc dùng tứ vật thang thêm Đan sâm để dưỡng huyết hoạt huyết, dùng riêng một vị Hoàng kỳ để bổ khí, khí là soái của huyết, khí huyết lưỡng bổ, mới có thể dưỡng huyết làm đầy mạch. Khí huyết đầy đủ thì vận hành sẽ thông suốt; lại dùng Tật lê, Cúc hoa để bình can tán phong, Cương tàm, Câu đằng, Toàn yết, Ngô công, Mật rắn Trần bì để khu phong trấn kinh hóa đàm thông lạc. Vì phong phạm vào vùng đầu mặt là chủ yếu, nên dùng Cát căn để dẫn thuốc lên phía trên, tuyên phế hóa đàm, lại dùng Huyền sâm, Tri bá để dưỡng âm thanh hỏa ở kinh can. Vì bệnh nhân có âm huyết bị hư nhược, ngoại tà thừa lúc chính khí hư mà nhập vào, chính khí không đủ sức đẩy ngoại tà ra ngoài, ngoại tà vào kinh lạc, ở lâu trong đó, phong từ hỏa mà ra, cô dịch thành đờm, âm huyết hư khuyết, làm đường mạch không đầy, khí huyết tuần hành chậm chạp, sau khi bị tà nhập, khí huyết dễ bị ứ trệ ngưng kết lại mà thành ứ huyết, đờm huyết kết lại với nhau làm tắc kinh lạc sinh ra bệnh. Khi điều trị, lúc đầu lấy khư phong hóa đàm thông lạc làm chủ, dưỡng huyết bình can là bổ trợ. Do coi trọng việc khu phong hóa đàm và ích khí dưỡng huyết, khí đủ thì huyết hành, làm cho khí huyết lưu thông, huyết đủ thì đường mạch cũng đầy ứ, ứ khí tân sinh, khí huyết vận hành, khí thuận thì đờm dễ hoá, huyết hoạt thì đờm dễ tiêu, vừa phù chính vừa khu tà, làm nổi bật đặc điểm của việc trị đờm, cho dùng thuốc được 2 tuần thì các triệu chứng đều giảm nhẹ, lại chuyển sang lấy dưỡng khí huyết làm chủ, thêm một bước khai thông kinh lạc, trọng điểm là phù trợ chính phí, khí huyết sung thịnh, kinh lạc lưu thông, ứ huyết ngưng đàm đều bị hóa tán. Tuy gọi là "quái bệnh", nhưng đã chữa bằng cách trị đàm, nên thu được kết quả rất tốt.


218. Bệnh rỗng tủy sống

Biện chứng đông y: Tỳ thận bất túc, khí huyết đều hư, phong hàn hoàn thành bên trong, làm tắc kinh lạc.

Cách trị: Ôn thận kiện tì, bổ khí dưỡng huyết, ôn kinh thông dương.

Đơn thuốc: Gia vị ôn bổ thông dương phương.

Công thức: Sơn dược 30g, Thục địa 15g, Ma hoàng 4,5g, Bào khương 9g, Lộc giác sao (sấy, có thể dùng A giao thay) 12g, Quế chi 9g, Bổ cốt chi 12g, Bạch truật 15g, (thổ sao), Sao thần khúc 9g, Hương phụ (chế dấm) 12g, Đương quy 12g, Thục phụ tử 9g, Sơn thù du 12g, Mộc hương 9g, Sinh hoàng kỳ 12g, Cốt toái bổ 12g, Kê huyết đằng 12g. Mỗi ngày 1 thang, sắc 2 lần, trộn lẫn rồi chia làm đôi uống lúc sáng và tối.

Hiệu quả lâm sàng: Cao XX, 45 tuổi. Tới khám ngày 30-5-1970. Mùa xuân 5 năm trước, bệnh nhân bắt đầu thấy tay trái giảm cảm giác, tê dại, sau đó tiếp tục thấy nửa đầu bên trái, vùng lưng ngực và cánh tay không có mồi hôi, có chỗ lạnh, chân tay tê dạI, có giảm giác khác thường, ngày càng nặng, thỉnh thoảng vô ý bị bỏng. Bàn tay trái sức nắm kém, không cầm được vật nặng. Sau khi khám ở khoa thần kinh, chẩn đoán là bệnh rỗng tủy sống. Nhiều năm nay bệnh nhân còn đi ỉa lỏng, mỗi ngày đi tới 2-3 lần, phân loãng, sau khi đại tiện có lúc thấy đau bụng. Tình trạng phát dục và dinh dưỡng bình thường, mặt vàng, tinh thần không phấn chấn, chất lưỡi đỏ, nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch trầm tế mà nhược, Chứng này thuộc về tì thận bất túc, khí huyết đều hư, phong hàn hoành hành bên trong, làm tắc kinh lạc. Cần trị bằng phép ôn thận kiện tì, bổ khí dưỡng huyết, ôn kinh thông dương. Cho uống "Gia vị ôn bổ thông dương phương", uống được 6 thang cảm thấy dễ chịu, ăn đã ngon miệng hơn, ăn được nhiều hơn, rêu lưỡi và mạch không thay đổi. Nguyên phương bỏ Mộc hương, Hoàng kỳ, lại tiếp tục cho uống. Uống được hơn nửa tháng, bệnh tình chuyển biến tốt rõ rệt, đại tiện đã bình thường, giảm cảm giác tê ở nửa người bên trái, rêu lưỡi mỏng trắng, mạnh trầm tế, có lực hơn trước. Lại dùng bài thuốc trên có gia giảm. Bệnh nhân uống thuốc không liên tục hơn nửa năm, cảm giác tê ở cánh tay trái ngày càng đỡ, dần dần đã có cảm giác nóng, đau, sức bóp bàn tay trái đã khá hơn không khác gì bên tay lành, ra mồ hôi bình thường, chức năng hồi phục bình thường. Theo dõi 5 năm không cần dùng thuốc gì nữa, sức khỏe tốt.


219. Xơ cứng cột bên tủy mạn tính tiến triển

Biện chứng đông y: Can thận khuy hư, tinh huyết không đủ, gân cốt không được nuôi dưỡng.

Cách trị: Tư âm thanh nhiệt, bổ ích can thận.

Đơn thuốc: Phi bộ thang.

Công thức: Quy bản 12g, Thục địa 30g, Tri mẫu 12g, Hoàng bá 12g, Trần bì 12g, Bạch thược 25g, Ngưu tất 10g, Sao đỗ trọng 18g, Xuyên đoạn 18g, Thỏ ti tử 18g, Đương quy 12g, Vân linh 12g, Bạch truật 12g, Trích cam thảo 10g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 27 tuổi, đầu xuân 1974 phát bệnh. Đầu tiên cảm thấy bỗng nhiên không điều khiển được chân tay, hoạt động vô lực, tưởng rằng làm việc quá mệt mỏi nên không để ý, không điều trị gì hết. Sau đó càng ngày càng nặng, tay không cầm được đồ vật, chân không đứng được xuống đất. Đã dùng nhiều loại thuốc như vitamin B1, B12, galantamin, nhưng không khỏi. Sau đó một thầy thuốc đông y chẩn đoán nhầm là phong thấp, cho uống hơn 30 thang thuốc, bệnh tình trái lại càng thêm nặng, ăn uống ít, dần dần đi đến chỗ nằm liệt giường. Lại chẩn đoán là xơ cứng cột bên tủy mạn tính tiến triển. Khám thấy mạch trầm tế vô lực, nhất là 2 bên mạch xích, chất lưỡi đỏ, rêu ít, lưỡi mỏng. Bệnh nhân kể trước đây có tay chân mềm nhũn mà không thấy đau, xuất tinh sớm và liệt dương. Hiện tim phổi gan lách, máu lắng đều bình thường. Chứng này thuộc về can thận khuy tổn, tinh huyết không nuôi dưỡng được gân cốt kinh mạch, gọi là "cốt nuy bệnh", phải trị bằng tư âm thanh nhiệt, bổ ích can thận. Cho uống liền 30 thang "Phi bộ thang" mỗi thang sắc 2 lần, chia ra uống vào 2 buổi sáng tối. Khám lại: Tay đã cầm được bát đũa, chống nạng đi lại được, nhưng thần sắc mệt mỏi, sợ lạnh, lại dùng nguyên phương, thêm Lộc giác giao 12g, Hoàng kỳ 30g, uống hơn 20 thang nữa, tứ chi đã hồi phục hoạt động bình thường.

Bàn luận: "Phi bộ thang" là từ hai bài thuốc "Hổ tiềm hoàn" của "Đan khê tâm pháp" và "Lộc giác giao hoàn" của "Y học chính truyền" kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng gia giảm mà xây dựng nên.


220. Di chứng chấn động não

Biện chứng đông y: Bị thương vào đầu, làm ứ tắc đường kinh lạc của não.

Cách trị: Hóa ứ thông lạc, tỉnh não khai khiếu.

Đơn thuốc: Gia giảm thông khiếu hoạt huyết thang.

Công thức: Xuyên khung 9g, Xích thược 12g, Hồng hoa 9g, Đào nhân 6g, Xạ hương 0,15g, (chiêu với nước thuốc), Cát căn 12g, Bạch chỉ 6g, Ngưu tất 10g, Câu đằng 12g, Cúc hoa 10g. Hành, gừng, rượu lượng thích hợp để dẫn thuốc. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Tăng XX, nam, 9 tuổi, học sinh. Tới khám ngày 17-2-1979. Bệnh nhi trước đây khỏe mạnh. Hôm trước, đánh nhau bị đấm một quả rất mạnh vào sau gáy, ngã ngay xuống đất, mấy phút sau tỉnh lại, kêu được mấy tiếng, rồi chân tay co giật, hai bàn tay nắm chặt, răng nghiến chặt, gọi không thưa nữa. Ba phút sau bắt đầu tỉnh lại, từ đó hay bị đau đầu, ngày nào cũng có cơn co giật, mỗi cơn kéo dài vài phút. Sau khi khám, tây y chẩn đoán là di chứng chấn động não, đã điều trị nhưng không có hiệu quả, tới viện chúng tôi xin chữa. Khám thấy mạch trầm huyền, chất lưỡi đỏ thầm, rêu vàng. Tổng hợp mạch và chứng thấy bệnh nhân thuộc về lạc ở não bị ứ trở. Cần trị bằng phép hoạt huyết hóa ứ, tỉnh não khai khiếu. Cho dùng "Gia giảm thông khiếu hoạt huyết thang", uống được 3 thang, các triệu chứng đều giảm, thời gian lên cơn co giật đã rút ngắn, chỉ còn đau đầu thì vẫn như trước. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm huyền. Vẫn dùng bài thuốc trên, thêm Thạch quyết minh 20g, uống tiếp 6 thang, sau mấy ngày không thấy tái phát co giật, tinh thần khá hơn, đã bớt đau đầu, lưỡi mạch như trước. Lại dùng bài thuốc này, bỏ không dùng hành, gừng để dẫn thuốc nữa, cho uống tiếp 6 thang, uống hết thì các triệu chứng đều lui, bệnh khỏi hẳn. Theo dõi một năm nay không thấy bệnh tái phát, bệnh nhi tiếp tục đi học, học khá.


221. Di chứng chấn động não

Biện chứng đông y: Ứ tắc não lạc, kiêm hiệp can phong.

Cách trị: Hoạt huyết hóa ứ, an thần tức phong.

Đơn thuốc: Khử ứ an thần thang.

Công thức: Đan sâm 30g, Đương qui 9g, Hồng hoa 6g, Điền tam thất 3g, (tán bột, uống với nước thuốc), Phục thần 12g, Cốt toái bổ 12g, Tục đoạn 12g, Địa long 9g, Câu đằng 18g, Cam thảo 3g.

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Với người đau đầu nặng có thể thêm Huyết kiệt 3g, Nguyên hồ 6g, với người rất chóng mặt thì thêm Sinh thạch quyết 15g, Tật lê 9g; với người mất ngủ nhiều có thể thêm Trân châu mẫu 30g, sau khi các triệu chứng bệnh đã giảm rõ rệt, có thể bỏ Điền tam thất, tùy tình hình mà thêm Hà thủ ô 12g, Nữ trinh tử 9g.

Hiệu quả lâm sàng: Chúng tôi đã dùng "Khử ứ an thần thang" gia giảm điều trị cho 16 trường hợp di chứng chấn động não, trong đó có 10 nam, 6 nữ, tuổi ít nhất 19, nhiều nhất 63 tuổi, sau khi điều trị có 11 trường hợp khỏi hẳn, 4 trường hợp chuyển biến tốt, 1 trường hợp không kết quả.


222. Chấn động não kèm xuất huyết dưới màng nhện

Biện chứng đông y: Ngoại thương bạo lực làm tổn thương đến lạc của não, khí huyết ứ tắc, thanh không thông lợi.

Cách trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông kinh chỉ thống.

Đơn thuốc: Thanh não trục ứ thang.

Công thức: Sinh địa hoàng 15g, Bạch thược dược 12g, Xích thược dược 12g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g, Câu đằng 15g, Thạch quyết minh 15g, Ti qua lạc 12g, Cúc hoa 12g, Trúc nhự 12g, Cam thảo 3g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Hà XX, nam, 41 tuổi, công nhân. Bị tai nạn xe, ngã ngửa xuống đất, bị thương vào đầu, cảm thấy ngơ ngẩn thất thần, đầu đau như búa bổ, kèm theo sốt, không ngủ, không ăn, nôn, đã mấy ngày rồi. Tây y khám, chẩn đoán là chấn động não kẽm theo xuất huyết dưới màng nhện. Khám thấy bệnh nhân đang trong trạng thái nửa hôn mê, mạch huyền, rêu lưỡi vàng dầy. Chứng này thuộc về ngoại thương tổn não, khí huyết ứ tắc, uất lâu phát nhiệt, bên trong nhiễu loạn thanh không. Cần trị bằng phép hoạt huyết hóa ứ, thông kinh chỉ thống. Cho uống "Thanh não trục ứ thang". Ngoài ra dùng sirô Kim bất hoán 500 ml uống xen kẽ nhiều lần với Vân Nam bạch dược 4g. Uống thuốc được hơn nửa tháng, các triệu chứng đều hết, hồi phục như thường, lại trở về đi làm.


223. Bệnh tâm thần phân liệt

Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, khí hỏa đàm thăng nhiễu loạn thần minh.

Cách trị: Bình cao giải uất, tả nhiệt hóa đàm lý khí tán kết.

Đơn thuốc: Bình cuồng thang.

Công thức: Kim mông thạch 25g, Uất kim 15g, Tam lăng 10g, Nga truật 10g, Mộc hương 5g, Nhị sửu 15g, Sinh đào nhân 15g, Chỉ xác 10g, Sinh đại hoàng 15g, Can khương 5g, Mang tiêu 30g, (chia uống với nước thuốc). Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Đối với bệnh nhân nữ, mỗi khi tới kỳ kinh nguyệt bệnh tình thêm nặng, kèm theo chứng ứ huyết, có thể phối hợp uống thêm "Hoạt huyết tán": Tam thất 50g, Huyết kiệt 50g, Hổ phách 50g, Tây hồng hoa 30g, Chu sa 20g, Xạ hương 2g, Băng phiến 10g, tất cả đem tán mịn, cho vào lọ kín, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2-3g.

Hiệu quả lâm sàng:

Ca thứ nhất: nữ, 16 tuổi. Vì uất giận không nguôi mà dẫn tới tinh thần thất thường, khi khóc khi cười, không ăn không ngủ, nói năng lung tung, mỗi kỳ kinh nguyệt bệnh lại nặng thêm, đã nằm điều trị mấy lần ở một bệnh viện tâm thần, vẫn chưa chữa khỏi. Khám thấy đúng là bệnh tâm thần phân liệt, cho dùng "Bình cuồng thang", phối hợp với uống "Hoạt huyết tán", uống được mấy thang, các triệu chứng đều lui, bệnh khỏi. Sau đó đã đi làm, theo dõi mấy năm cũng không thấy bệnh tái phát.

Ca thứ hai: nữ, 23 tuổi. Do bị kinh hãi quá mức, lại thêm cãi nhau mà tức giận, dẫn tới tinh thần thất thường, lúc khóc lúc cười, cả đêm kêu khóc không ngủ, chỉ ăn một ít hoa quả, không cơm cháo, người nhà vô cùng lo lắng thương xót. Khám xong cho dùng "Bình cuồng thang", uống được 1 thang, các triệu chứng lui được quá nửa, bệnh đã thấy chuyển biến nhiều, uống liền 3 thang, các chứng lui hết, bệnh khỏi hẳn.

Bàn luận: Bài thuốc "Bình cuồng thang" có các vị mạnh, tác dụng tả hạ rất mạnh, khi dùng cho bệnh nhân ỉa chảy không nặng lắm thì có thể theo quy định chung, uống mỗi ngày 1 thang. Đối với người ỉa chảy nặng thì có thể cho uống cách nhật, còn đối với bệnh nhân nặng hơn nữa thì có thể ngừng dùng thuốc. Theo quan sát lâm sàng, nói chung sau khi uống thuốc, các bệnh nhân đi lỏng nhiều tức là thuốc có công hiệu tốt, phân lỏng có thể ở dạng nước, dịch nhầy lẫn máu, có bọt, sau khi đi ra được hết thì bệnh có nhiều hy vọng chữa khỏi. Nhưng cần chú ý đề phòng hư thoát.


224. Bệnh tâm thần phân liệt

Biện chứng đông y: Khí hỏa giao uất, nhiệt kết với huyết, khí trong phủ không thông, ứ nhiệt nung nấu.

Cách trị: Thông phủ tả nhiệt, hành ứ tán kết.

Đơn thuốc: Cuồng tỉnh thang.

Công thức: Sài hồ 12g, Đại hoàn 9g, Chỉ thực 9g, Đan bì 12g, Đào nhân 12g, Xích thược 9g, Bán hạ 9g, Trúc nhự 9g, Sinh khương 12g, Chi tử 9g, Uất kim 9g, Trần bì 9g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nữ, 20 tuổi. Bệnh nhân mới sinh con được 20 ngày. Do chuyện vặt mà cãi nhau với hàng xóm, tức giận sinh ra tâm thần thất thường, chửi bới mọi người, quăng hết mọi đồ dùng, có lúc trợn mắt hoa chân múa tay như muốn đánh nhau, nhưng không làm gì mọi người, suốt ngày hò hát kêu gào, bồn chồn không ngủ, đã bảy đêm liền không chợp mắt, tinh thần hưng phấn quá mức. Tây y chẩn đoán là bệnh tâm thần phân liệt. Đã cho uống aminazin, nhưng vô hiệu. Bệnh nhân hai mắt mở trừng trừng, hỏi người nhà thì được biết bệnh nhân đã mấy ngày không đại tiện, đau bụng dưới, cự án, khi phát bệnh thì đã hết máu hôi, mạch huyền hoạt hữu lực, môi đỏ thẫm, rêu lưỡi vàng bẩn. Sau khi khám, cho dùng "Cuồng tỉnh thang". Uống được 1 thang, đại tiện lỏng, tháo ra rất nhiều, đều là phân nhầy thối khẳm, đêm ấy ngủ được, gọi không tỉnh dậy, sau một đêm ngủ say, khi tỉnh dậy tinh thần đã tỉnh táo, như vừa trải qua một cơn mê, lại có máu hôi, bệnh khỏi.


225. Bệnh tâm thần phân liệt

Biện chứng đông y: Đàm hỏa thượng viêm, bế tắc tâm khiếu.

Cách trị: Hóa dàm khai khiếu, thanh hỏa an thần.

Đơn thuốc: Thiết lạc ẩm.

Công thức: Mạch đông 12g, Thiên đông 12g, Chiết bối mẫu 12g, Đan sâm 12g, Huyền sâm 12g, Phục linh 12g, Phục thần 12g, Câu đằng 12g, Liên kiều 12g, Trần bì 5g, Đảm nam tinh 5g, Thạch xương bồ 5g, Viễn chí 5g, Chu sa 3g (uống với nước uống). Sinh thiết lạc 200g, (sắc trước 1 giờ). Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, (với bệnh nhân tạng âm hư, có thể tùy tình hình mà giảm bớt lượng Sinh thiết lạc hoặc bỏ hẳn).

Hiệu quả lâm sàng: Hồ XX, nam, 30 tuổi, nông dân, tới khám ngày 10-3-1963. Tháng trước, gia đình bất hòa, lại bị cảm phong hàn, uống Lộc tiên quá nhiều. Sau đó đột nhiên đập phá, đánh người bất kể thân sơ, trèo lên cao cởi bỏ quần áo, sức lực tăng lên bội phần, không phân biệt bẩn sạch, không biết đói khát. Chẩn đoán lâm sàng là bệnh tâm thần phân liệt, điều trị gần 1 tháng mà hiệu quả chưa thấy rõ. Khám thấy sắc mặt đỏ sẫm, chất lưỡi đỏ tím, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch huyền đại, chứng này thuộc về đàm hỏa thượng viêm, bế tắc tâm khiếu. Cần trị bằng phép hóa đàm khai khiếu, thanh hỏa an thần. Cho dùng "Thiết lạc ẩm", uống liền hai ngày các triệu chứng giảm hẳn. Ngày 12-3 khám lại thấy bệnh nhân ăn nói đã mạch lạc, tâm thần đã ổn. Lại cho dùng tiếp 4 thang nữa, bỏ Sinh thiết lạc. Uống hết thì bệnh khỏi. Theo dõi mười năm không thấy tái phát.


226. Bệnh tâm thần phân liệt

Biện chứng đông y: Can đởm thực hỏa, hiệp đờm trọc che mờ tâm khiếu.

Cách trị: Thanh tả can đởm, khoát đàm khai khiếu.

Đơn thuốc: Gia giảm long đảm tả can thang.

Công thức: Long đảm thảo 9g, Sơn chi tử 9g, Hoàng cầm 9g, Sao sài hồ 3g, Sinh địa hoàng 12 g, Trần đảm tinh 6g, Xương bồ 6g, Uất kim 9g, Sinh đại hoàng 15g, Thục đại hoàng 15g, Huyền minh phấn 12g, Hoàng liên 3g, Sinh thiết lạc 30g. Sắc uống thay nước, nhiều lần trong 2 ngày một thang.

Hiệu quả lâm sàng: Hứa XX, nữ, 21 tuổi. Mới kết hôn được nửa tháng, không toại nguyện, buồn rầu ảo não, phát bệnh cuồng, cả đêm không ngủ, nói năng lung tung, có lúc kêu gào la hét. Khi khám, bệnh nhân cười sằng sặc không ngớt, trèo lên bàn nhảy múa, mặt đỏ, thể thực, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch hoạt sác hữu lực. Bệnh thuộc về can đởm xuất hỏa hiệp đờm che mờ tâm khiếu. Cho dùng "Gia giảm long đảm tả can thang". Uống trong 2 ngày hết 1 thang, ngày thứ ba khám lại thấy thần sắc đã chuyển biến rõ rệt, tự kể rằng sau khi uống thuốc có đại tiện mấy lần, đi ra phân nâu đen, chất như keo dính, ban đêm đã ngủ yên, tỉnh táo, nói năng rành mạch. Lại cho dùng: Gia giảm đan chi tiêu dao tán" (thang) để củng cố kết quả. Uống 5 thang, gồm: Đan bì 9g, Sơn chi tử 9g, Hoàng cầm 9g, Đương quy 10g, Bạch thược 9g, Phục linh 9g, Bạch truật 9g. Cam thảo 3g, Bạc hà 3g (cho sau), Uất kim 9g, theo dõi hơn 4 năm, không thấy tái phát.


227. Rối loạn chức năng thần kinh thực vật (ra mồ hôi trộm)

Biện chứng đông y: Khí âm không đủ.

Cách trị: Bổ khí cố biểu, dưỡng âm liễm hãn.

Đơn thuốc: Đương quy chỉ hãn tiễn.

Công thức: Đương quy thân 30g, (ngâm trong sữa phụ nữ nửa giờ vớt ra hong khô rồi cho vào thuốc), Bạch thược 12g, Quy bản 30g (sắc trước). Bạch truật 10g, Phòng phong 5g, Cam thảo 3g, Ngũ vị tử 6g, Thạch hộc 10g, Ngọc trúc 15g, Sinh hoàng kỳ 15g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nam, 28 tuổi, giáo viên. Tới khám tháng 12-1963. Bệnh nhân kể rằng ban đêm ra mồ hôi trộm, ngủ thì ra mồ hôi, tỉnh lại không có mồ hôi nữa, áo ướt đầm, cả chăn chiếu cũng ướt, không ngủ yên được, đã đi chữa ở nhiều nơi, uống thuốc nhưng đều vô hiệu. Chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế, bệnh là do khí âm đều hư, vệ biểu không giữ được, cần trị bằng cách bổ khí cố biểu, dưỡng âm liễn hãn. Cho bệnh nhân uống "Đương quy chỉ hãn tiễn" là bài thuốc gia truyền của chúng tôi. Uống được 1 thang, các triệu chứng đã giảm nhẹ, uống 2 thang thì bệnh khỏi hẳn.


228. Rối loạn chức năng thần kinh thực vật (ngáp nhiều)

Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, uất mà thành nhiệt, đờm thấp nội sinh, nội nhiễu tâm thần.

Cách trị: Thư can giải uất, hòa vị hóa đàm, thanh dưỡng tâm thần.

Đơn thuốc: Ôn đảm thang và Sài hồ thư can tán gia giảm phương.

Công thức: Sài hồ 10g, Bạch thược 10g, Hương phụ 10g, Xuyên khung 10g, Chỉ thực 9g, Trần bì 10g, Bán hạ 10g, Vân linh 10g, Trúc nhự 12g, Giới bạch 10g, Qua lâu 15g, Xương bồ 15g, Viễn chí 10g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Quách XX, nam, 52 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 12-9-1976. Nửa tháng trước bệnh nhân có cảm giác bức bối tức ngực, tim đập hồi hộp, mất ngủ, nôn ra một ít thức ăn, miệng hơi đắng, đôi lúc ngáp liên tục nửa giờ hoặc hàng giờ, số lần ngáp ít cũng vài chục, nhiều tới hơn một trăm cái, không thể tự kìm lại được. Khi ngáp, nước mắt nước mũi chảy ra, sau một trận ngáp thì hụt hơi không buồn nói năng, cả người rã rời như nhão ra, đau mỏi các cơ vùng mặt, cổ. Bệnh nhân vô cùng đau khổ, đã đi khám và điều trị theo tâm thận bất giao mà không có kết quả. Khám thấy mạch huyền hoạt, rêu mỏng vàng bẩn. Sắc mặt xạm. Tổng hợp mạch và chứng thấy bệnh thuộc về can uất khí trệ, uất mà hóa nhiệt, đờm thấp nội sinh, nhiễu loạn tâm thần. Cần trị bằng cách thư can giải uất, hòa vị hóa đàm, thanh dưỡng tâm thần. Đầu tiên cho dùng "Ôn đảm thang và Sài hồ thư can tán gia giảm phương". Uống được 6 thang, bệnh nhân đã thấy đỡ ngáp rõ rệt, ít nôn ợ, ngực bớt tức, nhưng ngủ vẫn kém. Lại cho dùng bài thuốc trên, thêm Đan sâm 24g, Toan táo nhân 15g, Chi tử 10g, Dạ giao đằng 30g, uống thêm 6 thang nữa, đã hết ngáp, ăn ngủ đều tốt hơn nhiều. Lại cho dùng bài thuốc này, thêm Câu kỷ, Nguyên nhục nuôi can thận, dưỡng tâm thần để củng cố kết quả lâu dài, cho uống thêm 6 thang nữa, bệnh khỏi hoàn toàn, theo dõi hơn 3 năm không thấy tái phát.


229. Rối loạn chức năng thần kinh thực vật (ra nhiều mồ hôi)

Biện chứng đông y: Đại hãn hãm dương.

Cách trị: Phù dương liễm hãn.

Đơn thuốc: Phù dương liễm hãn phương.

Công thức: Thục phụ phiến 30g (sắc trước), Nhục thung dung 12g, Sinh địa 12g, Sơn thù nhục 12g, Ba kích 1g, Ngũ vị tử 12g, Đảng sâm 60g, Sinh hoàng kỳ 60g, Quế nguyên nhục 60g, Kê huyết đằng 18g, Quế chi 3g, Sinh bạch thược 9g, Kim anh tử 24g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Bão XX, nam, 41 tuổi. Bệnh nhân người vốn béo bệu, tim hồi hộp thở gấp, luôn luôn ra mồ hôi. Chợt một hôm đầu mùa hè, mồ hôi ra đầm đìa, sợ gió, môi tím tái, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh ngắt. Mạch hư không liễm (thu về) mà thấy tán loạn, lưỡi nhạt, rêu mỏng. Sau khi khám liền cho dùng "Phù dương liễm hãn phương". Sau khi bệnh nhân uống 4 thang, đã ngừng ra mồ hôi, tay chân đã ấm hơn, mạch nhu hoãn, lưỡi nhạt rêu trắng. Tuy vậy ăn vẫn còn ít. Lấy bài thuốc trên, bỏ Phụ phiến, Nhục thung dung, Sinh địa, Quế chi, Bạch thược, Quế nguyên nhục, Ba kích, thêm Kê nội kim 9g, Sơn tra 9g. Lại cho uống 6 thang, các triệu chứng đều hết.

Bàn luận: Trường hợp rối loạn chức năng thần kinh thực vật này, theo đông y, là chứng đại hãn hãm dương, tiên lượng tuy không thể xác định là xấu, nhưng có nguy cơ thoát, cũng dễ biến chuyển. Nếu không dùng Phụ tử, Sâm, Kỳ thi sẽ không thể ích khí phù dương, mà nếu không ích khí phù dương thì sẽ không thể liễm hãn phòng thoát (thu liễm mồ hôi, đề phòng hư thoát). Thêm vào đó, Bạch thược, Quế chi dùng để hòa dinh vệ mà củng cố cơ biểu, có tác dụng cực kỳ quan trọng trong quá trình phù dương liễm hãn này.


230. Suy nhược thần kinh

Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, hóa hỏa thương âm, tâm âm bất túc, thần vô sở phụ.

Cách trị: Sơ can giải uất, tư âm nhuận táo, dưỡng tâm an thần.

Đơn thuốc: Tiêu cam bách hợp thang.

Công thức: Bách hợp 40g, Dạ giao đằng 50g, Đương quy 15g, Bạch thược 20g, Uất kim 1g, Hương phụ 15g, Liên kiều 15g, Liên tử tâm 15g, Sinh địa hoàng 20g, Mạch nha 50g, Trân châu mẫu 30g, Cam thảo 15g, Đại táo 9 quả. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Đã dùng "Tiêu cam bách hợp thang" điều trị cho 50 bệnh nhân suy nhược thần kinh, trong đó trừ 3 trường hợp có kèm các triệu chứng của tuổi già, còn tất cả các bệnh nhân khác đều có tiến triển tốt hoặc khỏi hẳn, đạt được kết quả điều trị tương đối lý tưởng. Thang XX, nữ, 43 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 19-12-1978. Nửa tháng nay, bệnh nhân đêm nằm không ngủ được, tâm phiền, hay quên, tức ngực, thường thở vắn than dài. Chất lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch huyền sác. Tây y chẩn đoán là suy nhược thần kinh, chuyển tới cho chúng tôi điều trị. Khám thấy chứng bệnh thuộc về can uất khí trệ, hóa hỏa làm thương âm, tâm âm không đủ, thần vô sở phụ. Cần trị bằng pháp sơ can giải uất, tư âm nhuận táo, dưỡng tâm an thần. Cho dùng "Tiêu cam bách hợp thang". Bệnh nhân uống liền 12 thang, các triệu chứng đều hết, hồi phục như thường.

Bàn luận: Trường hợp này sử dụng "Tiêu cam bách hợp thang" là bài thuốc chúng tôi phối hợp Tiêu giao tán với Cam mạch đại táo thang, Bách hợp địa hoàng thang gia giảm mà thành. Chúng tôi dùng bài thuốc này không những điều trị suy nhược thần kinh có kết quả khá tốt, mà điều trị bệnh histeria cũng đạt hiệu quả rất lý tưởng. Suy nhược thần kinh, bệnh histeria, trong tây y đều xếp vào phạm trù bệnh thần kinh chức năng. Triệu chứng lâm sàng của các bệnh nhân này khá phức tạp và đa dạng, thậm chí nhiều hệ thống đều có thể biểu hiện chắc năng bị rối loạn, bệnh nhân cảm thấy vô cùng đau khổ, nhưng khi kiểm tra, phần lớn lại rất khó phát hiện các triệu chứng thực thể dương tính, các xét nghiệm lý, hóa cũng thường không thấy gì khác, do đó mà không biết nên bắt đầu chữa từ đâu, đành chịu bó tay, không có phương pháp đặc hiệu, nhiều khi chỉ có thể xử lý các triệu chứng. Đông y cho rằng nguyên nhân loại bệnh này phần lớn do do ưu sầu, uất ức, tức giận, lo nghĩ sau đó bi thương không giải thoát được, mong muốn không được đáp ứng v.v... gây xúc động tâm lý tinh thần mãnh liệt mà sinh bệnh. Vì bệnh có căn nguyên tình chí thường liên lụy tới 2 tạng tâm can, về mặt sinh lý thì tâm chủ thần minh, can có chức năng sơ tiết, hoạt động tinh thần, tư duy là do tâm khống chế, quản lý, còn việc sơ thông khí của thân thể lại do can làm chủ. Do đó, những ba động quá mạnh của cảm xúc tâm thần trước hết phạm đến tâm. Đúng như đã nêu trong "Thiên khẩu vấn sách linh khu": "Bi ai ưu sầu thì tâm động, tâm động thì lục phủ ngũ tạng đều bị chuyển lay". Trên lâm sàng thấy rõ bao giờ bệnh nhân cũng kêu ca triệu chứng đầu tiên là mất ngủ, tâm phiền, tim hồi hộp. Uất ức, tức giận của người bệnh khó giải thoát là do can mộc không thể điều đạt, khí không được sơ tiết, do vậy mà sinh ra các triệu chứng tức ngực, thở dài, vui buồn thất thường hoặc lo buồn muốn khóc. Cần phải trị bằng phép sơ can giải uất, tư âm nhuận táo, dưỡng tâm an thần. Mà các vị thuốc của "Tiêu cam bách hợp thang" đều có tác dụng tương ứng, do đó có thể thu được hiệu quả khá tốt.


231. Suy nhược thần kinh

Biện chứng đông y: Tâm thận bất giao.

Cách trị: Tư âm giáng hỏa, giao thông tâm thận.

Đơn thuốc: Giao thái ẩm.

Công thức: Hoàng liên 6g, Nhục quế 6g, Huyền sâm 10g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 3 lần.

Hiệu quả lâm sàng: Ngao XX, nữ, 24 tuổi. Tới khám ngày 24-11-1962. Bệnh nhân mất ngủ đã hơn nửa năm, mỗi đêm chỉ ngủ được độ 1 tiếng, một tháng nay bệnh càng nặng thêm, váng đầu hoa mắt, họng khô, miệng khát, thích uống nước nóng, nửa thân trên thấy nóng bức, nửa thân bên dưới lại thấy lạnh, mặt đỏ, thần sắc kém, đêm tiểu tiện nhiều, đại tiện khó khăn, kinh nguyệt sớm, máu kinh màu đỏ xẫm, 8 ngày mới sạch kinh. Khám thấy sáu mạch hơi sác, ba mạch bên trái trầm tế, mạch xích bên phải trầm nhược, đầu lưỡi đỏ, rêu vàng trắng. Hỏi kỹ về nguyên nhân bệnh mới biết bệnh nhân bị trĩ thường hay bị chảy máu, lại thêm có bệnh phụ khoa. Tổng hợp mạch và chứng, thấy do mất khá nhiều máu, âm huyết hư tổn, tâm âm không đủ, hỏa không hạ xuống, dẫn đến tâm thận bất giao. Cần trị bằng phép tư âm giáng hỏa, giao thông tâm thận. Theo lời người xưa "Người giỏi về bổ âm phải biết tìm âm trong dương", chúng tôi đã dựa vào bài thuốc "Giao thái hoàn" để đưa ra bài thuốc "Giao thái ẩm", uống 1 thang, đến đêm bệnh nhân đã ngủ được hơn 3 tiếng, giảm hẳn các triệu chứng váng đầu, hoa mắt, họng khô. Như vậy thuốc có kiến hiệu, lại cho dùng tiếp bài thuốc trên, tăng Huyền sâm lên tới 24g, để dưỡng thận âm, thêm Cam thảo 3g để hòa trung, lại cho uống riêng 60g mật ong để nhuận tràng. Sau khi uống tiếp 4 thang nữa, các triệu chứng đều hết, đã ngủ được như thường. Theo dõi thấy tình trạng sức khoẻ người bệnh tốt.


232. Suy nhược thần kinh

Biện chứng đông y: Lao lực mệt mỏi làm thương tổn bên trong, thận âm khuy hư, thủy hỏa bất tế, tâm thận bất giao.

Cách trị: Tư âm thanh nhiệt, giao thông tâm thận.

Đơn thuốc: Bách hợp an miên thang.

Công thức: Bách hợp 24g, Sao táo nhân 12g, Long cốt 15g (sắc trước), Bá tử nhân 10g, Ngũ vị tử 6g, Chế thủ ô 24g, Thục địa 15g, Đương quy 10g, Sinh kỳ 15g, Viễn chí 10g, Quy bản 24g (sắc trước), Trần bì 6g, Đông quy tử 10g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Bàn luận: "Bách hợp an miên thang" là một bài thuốc gia truyền, dùng trên lâm sàng điều trị các bệnh nhân suy nhược thần kinh đều có thể thu được kết quả tốt trong một thời gian ngắn.


233. Suy dinh dục (liệt dương)

Biện chứng đông y: Âm dương lưỡng khuy.

Cách trị: Tư âm tráng dương ích thận.

Đơn thuốc: Gia vị ích tinh tráng dương hoàn.

Công thức: Thục địa 15g, Sơn thù nhục 15g, Sơn dược 15g, Phục linh 12g, Câu kỷ 15g, Nhục thung dung 12g, Toả dương 12g, Dâm dương hoắc diệp 30g, Ba kích nhục 12, Bạch nhân sâm 12, Sao táo nhân 12g, Thỏ ti tử 12g, Thiên môn đông 9g, Lộc nhung 6g, Cam thảo 9g. Tất cả đem tán mịn trộn mật làm hoàn, mỗi viên nặng 9g, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên, uống với nước đun sôi để nguội. Kiêng ăn thức ăn tanh, lạnh.

Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 38 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 8-11-1962. Từ năm 1961, bệnh nhân đã bắt đầu phát hiện khi giao hợp dương vật không cương lên được, có lúc bị hoạt tinh, sau khi đi giải có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, tim hồi hộp, khí đoản, mất ngủ, hay quên, sắc mặt xanh xạm, thể trạng béo bệu, môi lưỡi nhạt, không có rêu, tinh thần mỏi mệt, khổ não, không thể ở trong buồng lạnh, tiếng nói nhỏ yếu, mạch huyền tế vô lực, mạch xích trầm, trì. Chứng này thuộc về âm dương lưỡng khuy, liệt dương. Cần trị bằng phép tư âm tráng dương ích thận. Cho dùng "Gia vị ích tinh tráng dương hoàn". Sau khi uống thuốc 1 đợt, mạch chuyển hoãn hoạt, mạch xích vẫn chậm, tự cảm thấy các triệu chứng đã giảm được tới hai phần ba, có nghĩa là âm dương của thận đã dần dần được hồi phục, lại tiếp tục dùng bài thuốc cũ, thêm hai đợt nữa, bệnh khỏi hoàn toàn.

Bàn luận: Sách "Loại chứng trị tài" viết: "Thương tổn vào trong tất (dương vật) không cương lên được, liệt dương, phần nhiều do sắc dục làm kiệt hết tinh khí, quá suy nhược, hoặc do lo nghĩ làm cho thần bị tổn thương, hoặc do sợ hãi mà tổn tới thận..., cũng có người thấp nhiệt hạ trú, gân lớn mềm nhão mà sinh chứng liệt dương". Căn cứ các triệu chứng thấy trường hợp này có thể do sắc dục quá độ, kiệt tinh thương âm, âm tổn đến dương, âm dương đều khuy mà sinh liệt dương. Mạch huyền tế, mạch xích trầm, trì là thuộc mạch dương suy. Liệt dương hoạt tinh. Sau khi đi giải có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, không dám ở trong buồng lạnh, là dương hư âm khuy, tinh quan bất cố. Tim hồi hộp hay quên, mất ngủ là âm tinh của thận không đủ, dẫn tới tâm thận bất giao. Trị bằng phép tư âm tráng dương ích thận. Đơn thuốc này dùng Thục địa, Thù nhục, Sơn dược, Phục linh để tư âm bổ thận. Nhục thung dung là vị cam toan và ôn (ẩm) vào thận để bổ hỏa của mệnh môn, trấn tinh ích tủy, Toả dương là vị cam, ổn bổ sâm, ích tinh hưng dương, Ba kích nhục cam tân hơi ôn vào thận, làm cường âm ích tinh, Dâm dương hoắc là vị tân hương cam ôn vào can, thận, có tác dụng bổ mệnh môn, ích tinh khí, Thỏ ti tử là vị cam ôn bình hòa, cường âm ích tinh, Câu kỷ là vị cam bình, thanh can, tư thận, ích khí sinh tinh trợ dương, Lộc nhung là vị cam ôn thuần dương, sinh tinh bổ tủy, dưỡng huyết trợ dương, làm cho dương của thận phục hồi, âm của thận sẽ đầy, sinh tinh mà khỏi bệnh. Đó thực là như "Tố Vấn - Sinh khí tông thiên luận" đã viết: "Âm bình dương bí, tinh thần nãi trị".


234. Suy sinh dục

Biện chứng đông y: Thận dương hư suy, tinh quan bất cố.

Cách trị: Bổ thận trợ dương, ích thận cố tinh.

Đơn thuốc: Bổ tử hoàn.

Công thức: Phá cố chỉ 240g (sao với nước muối), Vân linh 120g, Cửu tử 60g. Đem các vị trên ngâm trong dấm cũ, mức dấm cao hơn thuốc 1 khoát ngón tay, đem ninh cạn thành bột, làm hoàn to bằng hạt thầu dầu, mỗi lần uống 20 hoàn, mỗi ngày 2 lần vào sáng sớm và tối.

Hiệu quả lâm sàng: Triết XX, nam, 25 tuổi, xã viên. Tới khám ngày 29-4-1979. Vào tháng 2, bệnh nhân bị cảm lạnh, qua điều trị thấy khỏi dần. Vài hôm sau cảm thấy đôi lúc bụng dưới và bìu dái co giật, nhưng vì bản thân bệnh nhân không để ý, nên chẳng điều trị gì cả. Sau khi kết hôn, động phòng với vợ, không lâu đã xuất hiện triệu chứng tình dục giảm sút, dương vật không cương lên được, hoặc có cương lên nhưng không cứng, đã qua các phương pháp điều trị bằng thuốc đông tây y mà chưa có kết quả. Gần đây lại xuất hiện di tính, hoạt tinh, kèm theo đau lưng, mỏi gối rã rời vô lực, có lúc lạnh cả người, trí nhớ giảm rõ rệt, đầu căng váng vất, đái vặt, kém ăn, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch hư nhược. Cho dùng 1 liều "Bổ tử hoàn". Ngày 15-6 khám lại, sau khi bệnh nhân dùng hết 1 liều thuốc, hoạt động cương nhu của dương vật đã được phục hồi cơ bản, tinh không tự xuất, tinh thần chuyển biến tốt, cho uống thêm 1 liều, tât cả các triệu chứng đều lui, theo dõi về sau không thấy tái phát.

Bàn luận: Bệnh này là do cảm hàn đi thẳng vào quyết tâm, hàn khách can mạch, hàn chủ thu dẫn, ngưng trệ mà có lúc sinh ra cảm giác bụng dưới và bộ phận sinh dục co giật. Lại thêm sau khi cưới tình dục không điều độ, tổn thương đến thận dương, tinh quan bất cố, dẫn đến liệt dương. Trong bài thuốc có Bổ cốt chỉ vị tân, khổ, đại ôn bổ thận trợ dương, ích thận cố thoát, Cửu tử cam ôn cố tinh ngừng di tinh, lại dùng Phục linh là để kiện tì ích khí hóa tinh huyết mà dưỡng tiên thiên, sắc bằng nước dấm cũ để lấy vị chua sáp làm tăng thêm tác dụng giữ gìn tinh khí.


235. Suy sinh dục

Biện chứng đông y: Thận dương bất túc, mệnh hỏa suy vi.

Cách trị: Ôn thận tráng dương.

Đơn thuốc: Hải hà tán.

Công thức: Sinh hải hà (tôm biển sống) 500g, Hạch đào nhân 80 cái, Dâm dương hoắc 200g, Rượu trắng 250ml. Trước tiên đổ rượu vào bình đựng đủ rộng, châm lửa đốt, khi rượu đã nóng thì cho Tôm biển vào, Rượu ngập hết, ngấm kỹ trong tôm. Lấy tôm rượu ra sấy cho khô. Đem Hạch đào nhân bỏ vỏ, ngâm nước muối, sấy khô cùng tán với Hải hà thành bột mịn, chia thành 20 gói, mỗi ngày dùng 1 gói chia làm 2 lần, mỗi lần lấy 10g, Dâm dương hoắc, sắc với 100ml nước uống cùng với Hải hà tán. Một đợt điều trị là 2 tháng. Trong thời gian uống thuốc phải kiêng phòng sự.

Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 25 tuổi, xã viên, sau khi lấy vợ vì dương vật không cương cứng lên được nên không thoả mãn nhu cầu của vợ, vợ chồng bất hòa, người bệnh vô cùng đau khổ, đã từng tìm nhiều thầy để chữa, tuy uống đã nhiều thứ bổ thận tráng dương nhưng chưa thấy tác dụng rõ rệt. Chúng tôi cho dùng "Hải hà tán" uống được 2 tuần lễ, dương vật đã cứng lên được, dùng liền hơn một tháng bệnh khỏi. Sau lại dặn uống thêm Lục vị địa hoàng, lấy âm để tích dương, củng cố căn nguyên. Hơn một năm hỏi lại, mừng vợ đã sinh 1 con.

Bàn luận: Trong bài có tôm biển vị cam hàn, sắc trong lúc chín thì biến ra đỏ, là một thuốc quan trọng tư bổ các kinh can thận tâm; Hạch đào nhân chuyên lợi tam tiêu, bổ mệnh môn; Dâm dương hoắc bổ âm trợ dương; ba thứ bổ cả âm dương, giúp ích lẫn nhau nên hiệu quả nhanh.


236. Dương vật cương cứng dị thường (bệnh cường trung)

Biện chứng đông y: Can thận âm khuy, tướng hỏa sí thịnh.

Cách trị: Bổ âm chế dương.

Đơn thuốc: Tri bá địa hoàng hoàn gia vị.

Công thức: Tri bá địa hoàng (thuốc bán trên thị trường) mỗi ngày uống 2 lần sớm tối theo liều người lớn. Quy bản 24g, Mẫu lệ 24g, Côn bố 60g, Hải tảo 60g. Sắc lấy nước, mỗi ngày 1 thang chia sớm tối, cùng uống với Tri bá địa hoàng hoàn.

Hiệu quả lâm sàng: Chung X, nam, 27 tuổi, vì thủ dâm mà mắc bệnh dương vật cương cứng không thôi đã hơn 1 năm, lại thêm váng đầu căng óc, mặt đỏ miệng khát, buồn bực không yên, mùa hạ nóng nực, khổ không nói hết, dùng nước đá để ngâm lạnh, chườm để đỡ nhưng không ích gì. Đã dùng các thuốc đông như Long đờm tả can thang, Tri bá địa hoàng hoàn, Tam giác phục mạch thang... uống tới mấy chục thang mà chưa thấy kết quả, lo lắng mất ăn mất ngủ, kém phấn khởi. Mới nhìn thì thân thể còn khỏe, lưỡi sạch không rêu, mạch huyền sác hữu lực, rõ ràng là bệnh thủy khuy ở dưới, tướng hỏa sí thịnh. Hỏi thì biết đã từng dùng thuốc theo đơn uống với nước muối để nguội, mỗi ngày hai lần, mỗi lần khoảng 250ml, sau khi uống thì thấy dương vật dãn mềm nhưng tác dụng chưa được bền vững, vì nghĩ rằng gốc bệnh này là can thận âm hư biểu hiện dương cang mà cam hàn thi dương âm, khổ hàn thì hóa táo, cho nên dùng Long đờm tả can thang không có kết quả, hoặc mặn có thể vào xương làm nhuyễn kiên, chúng tôi đã dùng Tri bá địa hoàng hoàn thêm Quy bản, Mẫu lệ, Côn bố, Hải tảo, cho uống liền 10 thang để theo dõi. Sau khi uống xong 10 thang, bệnh khỏi.

Bàn luận: Đã dùng bài này thêm Trần bì 6g, Sao bạch truật 9g, uống hơn 20 thang, chữa khỏi bệnh nhân mắc bệnh này đã hơn nửa năm. Dương vật cương cứng khác thường lâu ngày không xuống đông y gọi là "bệnh cường trung" bệnh do can thận âm hư, tưởng hỏa sí thịnh, tuy có kết hợp chứng thấp nhiệt, tì hư, vẫn lấy bổ âm chế dương làm gốc. Dùng bài Tri bá địa hoàng hoàn không thấy hiệu quả rõ rệt tức là hiệu lực của thuốc không đạt, phải dùng thêm Hải tảo, Côn bố, Quy bản, Mẫu lệ để tăng cường tác dụng tư âm nhuyễn kiên mới đạt được hiệu quả. Đây chỉ là một kinh nghiệm lâm sàng của chúng tôi, xin nêu lên để tham khảo.


237. Chứng mộng du

Biện chứng đông y: Tâm can dinh hư, tâm hỏa rối loạn làm thần chí không yên.

Cách trị: Dưỡng huyết an thần.

Đơn thuốc: Gia vị Cam mạch đại táo thang.

Công thức: Cam thảo 12g, Tiểu mạch 24g, Đại táo 10 quả, Toan táo nhân 15g, Thảo hà xa 9g, Bá tử nhân 9g, Sinh địa 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nam, 38 tuổi, kế toán, sơ chẩn ngày 29-12-1956. Từ nửa cuối năm 1953, bị váng đầu mất ngủ, hay nằm mơ, tim hồi hộp, hay quên, ngủ hay nói mê không ngớt, gần đây nửa đêm không tự chủ dậy đi lung tung, lúc đó thần chí mơ hồ, ngăn lại cũng không tỉnh, nếu dắt ép về giường ngủ thì hôm sau tinh thần mệt mỏi, chân tay bải hoải, hỏi đêm qua tình hình thế nào thì chẳng biết gì. Ăn uống ít, miệng khô mà đắng, tâm phiền, lưỡi sạch, mạch huyền nhuyễn. Sau khi chẩn đoán cho dùng "Gia vị cam mạch đại táo thang". Uống được 24 thang thì các chứng đều hết. Theo dõi 7 năm, chưa thấy tái phát.

Bàn luận: Về chứng mộng du thì đông y cho rằng, nguyên nhân phần lớn do hai tạng tâm can hư mà ra. Tâm thì chủ về huyết mà chứa thần, can chức huyết mà che chở hồn, dương nhập vào âm thì ngủ, dương xuất khỏi âm thì thức tỉnh, khí huyết đầy đủ thì tâm thần được nuôi dưỡng, can tàng được hồn, ngủ được yên, còn khi âm huyết khuy tổn, tất can hỏa vượng lên mà tâm hỏa tự bốc, làm cho hồn mộng mung lung mà ngủ chẳng yên, đầu váng mắt hoa cùng lúc sinh ra. Dùng "Gia vị cam mạch đại táo thang" có tác dụng dưỡng huyết an thần nên khỏi bệnh.


238. Histeria (ý bệnh)

Biện chứng đông y: Nhiệt tà nội kết, nhiễu loạn thần minh.

Cách trị: Dưỡng âm trừ nhiệt, giải uất trừ phiền.

Đơn thuốc: Gia vị chi tử xị thang.

Công thức: Sinh chi tử 9g, Đạm đậu xị 115g, Mạch môn đông 10g, Quảng uất kim 10g, Thạch xương bồ 10g, Đạm trúc diệp 5g, Chích cam thảo 6g. Sắc uống, mỗi ngày một thang. Người thực nhiệt thì thêm Đại hoàng, Chỉ thực, Hậu phác, người can dương mạnh thì thêm Sinh thạch cao, Cúc hoa, Tang diệp, Kỷ quả, người đờm thấp thịnh thì thêm Đảm nam tinh, Quất hồng, Bạch phục linh; người âm hư nội nhiệt thì thêm Toan táo nhân, Sinh a giao, Sinh kê tử hoàng.

Hiệu quả lâm sàng: Triệu XX, nữ, 46 tuổi, nông dân, sơ chẩn ngày 6-5-1976. Bệnh nhân kể là mắc bệnh đã 8 năm, lên cơn từng đợt. Mỗi lần phát bệnh thì tâm phiền, tinh thần rối loạn, hai mắt nhắm lại, răng cắn chặt, cứ thế kéo dài 3-5 ngày đến hơn 10 ngày. Lúc tinh thần bị kích động thì phát bệnh luôn luôn. Mỗi lần bệnh phát thì đại tiện bí kết, thường ba ngày đi ngoài một lần, tiểu tiện vàng. Đã từng uống nhiều thứ thuốc trấn tĩnh và thuốc tẩy, chưa thấy kết quả tốt. Khám thấy thể chất người bệnh tốt, tinh thần u uất, trí lực bình thường, chất lưỡi ở rìa và đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi ở giữa thì vàng, mạch trầm huyền có lực. Chẩn đoán lâm sàng là histeria. Đây là vì uất nhiệt kết lại bên trong, lên phạm thần minh. Cần trị bằng phép dưỡng âm thanh nhiệt, giải uất trừ phiền. Chúng tôi đã dùng "Gia vị chi tử xị thang", trong bài này lại cho thêm Đại hoàng (chế rượu) 10g, Chỉ thực (sao) 9g, Hậu phác (chế gừng) 9g. Cả thảy gia giảm thêm bớt uống hơn 20 thang, bệnh khỏi hết.

Trương X.X, nữ, 50 tuổi, cán bộ, sơ chẩn ngày 33-2-1975. Bệnh nhân cho biết đã mắc bệnh tới 10 năm, lúc phát bệnh thì nặng đầu, tức ngực tâm phiền, sau đó răng cắn chặt, đờm dãi sùi ra, tinh thần không tỉnh táo, tay chân lạnh, hai tay nắm chặt, sau khi khóc to thì các chứng lui dần. Thỉnh thoảng vì tinh thần không thư thái bệnh lại lên cơn, mỗi lần cơn bệnh kéo dài trên dưới 2 giờ. Kinh nguyệt bình thường, ngoài ra không thấy có gì đặc biệt. Chẩn đoán lâm sàng là histeria. Cho dùng gia vị "Chi tử xị thang", bỏ Mạch môn đông, thêm Bạch biển đậu 21g, Đảm nam tinh 6g, Mao quất hồng 12g, Bạch phục linh 30g, Đại táo 3 quả; dùng thuốc khoảng 30 thang, bệnh khỏi hẳn chưa thấy tái phát.


239. Thấp khớp cấp

Biện chứng đông y: Phong hàn vào lạc, khí huyết không thông, kinh mạch tắc nghẽn.

Cách trị: Khư phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc.

Đơn thuốc: Kháng phong thấp thang.

Công thức: Chế xuyên ô 10g, Quế chi 10g, Khương hoạt 10g, Phòng phong 10g, Bào sơn giáp 10g, Kỳ xà 10g, Chế nhũ hương, Một dược, mỗi thứ 10g, Tế tân 3g, Ma hoàng 3g, Ngô công 4 con. Sắc uống, mỗi ngày một thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lương XX, nữ, 28 tuổi, công nhân, ngày 2-4-1976 được bệnh viện xí nghiệp chẩn trị. Bệnh nhân đau di chuyển các khớp toàn thân, hơi sưng từng chỗ, rên rỉ liên tục, nằm liệt giường đã hơn 1 tháng. Tây y chẩn đoán là thấp khớp cấp, chữa không khỏi. Chồng mang đến khoa đông y. Khám thấy chất lưỡi đỏ nhạt, rêu trắng hơi bẩn, mạch trầm trì, thử máu: huyết trầm 40mm/giờ. ASLO 1250 đơn vị, chữa bằng thuốc khư phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc. Cho uống "Kháng phong thấp thang", đúng căn nguyên bệnh, chỉ uống 5 thang, các chứng giảm hẳn. Lại uống tiếp bài này 5 thang nữa. Lúc khám lại, cùng chồng đi bộ đến, đã hết đau đớn phù nề, mạch tế bình, chất lưỡi đỏ nhuận, rêu trắng tan hết. Kiểm tra lại huyết trầm 4mm/giờ, ASLO 6225 đơn vị. Dùng bài trên bỏ bớt Sơn giáp, Xuyên công, Kỳ xà, Ma hoàng, thêm Đương quy, Hoàng kỳ mỗi thứ 15g, Bạch thược, Tần giao mỗi thứ 10g. Theo dõi 4 năm, chưa thấy tái phát.

Bàn luận: Y học hiện đại cho rằng thấp khớp có liên quan với nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết týp A. Khuẩn thể và các chất bài tiết của liên cầu khuẩn có tính kháng nguyên rất cao, kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể, hình thành phức hợp miễn dịch kháng nguyên kháng thể, khi phức hợp miễn dịch này đọng lại ở các khớp thì sinh ra chứng viêm khớp. Đối với bệnh này, y học hiện đại chưa có cách điều trị đặc hiệu, chỉ xử lý triệu chứng. Trong khi chữa bệnh này chúng tôi tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc biện chứng luận trị của đông y tìm ra gốc bệnh, quý hồ tinh nhất, cốt sao đạt được cái tinh của phép biện chứng, phép chữa trị phải tinh, thuốc dùng phải tinh. Như ca bệnh này là phong hàn thấp tí, nhưng chủ yếu là phong hàn, cách trị ắt tinh nhất ở "ôn". Dùng các vị thuốc khư phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc, không vì lý do phong thấp nhiệt cần chống nhiễm khuẩn mà dùng bừa các thuốc "thanh" còn thuốc thuộc loại trùng có thể có tác dụng xua tan các phức hợp miễn dịch.


240. Thấp khớp cấp

Biện chứng đông y: Phong thấp và nhiệt đánh lộn, lan khắp các khớp, khí huyết bị tắc nghẽn.

Cách trị: Sơ phong thông lạc, thanh nhiệt lương huyết.

Đơn thuốc: Tang phòng thang.

Công thức: Tang chi 47g, (sắc trước), Xuyên khung 15g, Ti qua lạc 12g, Sinh địa 24g, Phòng phong 9g, Câu đằng 12g, Ngưu tất 9g, Hoàng bá 9g, Bạch thược 12g, Nguyên sâm 12g, Tần giao 12g. Sắc uống, mỗi ngày một thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lư XX, nam, 28 tuổi, nông dân. Thân thể cao lớn, vốn thích ăn nhậu các thứ cay táo nhiệt, trung tuần tháng 12 năm 1974 ngoại cảm phát sốt, phải điều trị 7 ngày, bệnh lui nhưng hai chân đau mỏi, cử động khó chịu, dần dần co quắp, trở mình khó khăn, cuối cùng nằm liệt giường không dậy được, đã trị đông tây y tới nửa tháng không thấy chuyển biến tốt. Ngày 6 tháng 1 năm 1975, người nhà đem đến điều trị, thấy hai chân cả đùi lẫn bắp đều co quắp, đau và nóng, không co duỗi cử động gì được, nằm liệt giường, ăn uống, đại tiểu tiện đều cần có người giúp đỡ. Miệng khô, đái vàng, đại tiện bí, chất lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền tế sác. Bệnh do thích ăn nhậu hút chất cay. Kinh lạc trước có nhiệt ẩn náu, lại gặp ngoại cảm phong hàn, thấp tà quấy phá, nhiệt ở lý vì ngoại tà bao vây nên uất lại, khí huyết mất sự tuyên thông, lại kéo triền miên lâu ngày, tà khí từ ngoài vào cùng với nội nhiệt ở mãi không đi, hóa hỏa thương âm, tổn hại tân dịch, làm căn mạch mất sự tư dưỡng mà gây bệnh. Phép chữa chứng bệnh này là phải sơ phong thông lạc, thanh nhiệt lương huyết, dùng bài "Tang phòng thang", hai ngày thì ra mồ hôi, đi ngoài được, bệnh hơi giảm, vẫn dùng bài thuốc đó bỏ Tần giao, ngày thứ sáu thì đau đớn giảm hẳn, nằm ngồi được, ngày thứ mười có thể ra khỏi giường đứng lên, chống gậy tập đi. Bài thuốc trên thêm Xuyên mộc qua 12g, Ngũ gia bì 9g, chữa 1 tháng khỏi như bình thường tuy vẫn còn thấy vùng lưng tức tối vô lực, phải dùng đến các thuốc tư âm bổ thận, dùng liền 7 ngày để củng cố về sau.


241. Thấp khớp

Biện chứng đông y: Phong và thấp tắc ở trong, ngoại tà xâm nhập quấy phá, mạch lạc nghẽn tắc, khí huyết không thông.

Cách trị: Hoạt huyết, thông lạc, khử phong thấp.

Đơn thuốc: Tích toàn hoàn.

Công thức: Kim mao cẩu tích 30, Toàn yết 30g, Thổ miết trùng 30g, Đại hồi hương 30g. Tất cả tán bột mịn phun nước làm hoàn to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 10g, mỗi ngày uống 2 lần.

Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi một cách có hệ thống 106 ca bệnh này, khỏi 20 ca, có tác dụng rõ 32 ca, có tác dụng 43 ca, vô hiệu 11 ca, tỉ lệ hữu hiệu toàn bộ 89,6%.


242. Thấp khớp

Biện chứng đông y: Hàn tà thấp tà xâm nhập quấy phá, đọng lại ở kinh lạc, khí huyết vận hành bất thông.

Cách trị: Khu phong hành thấp, thanh hóa uất nhiệt.

Đơn thuốc: Gia vị quế chi thược dược tri mẫu thang.

Công thức: Quế chi 9g, Ma hoàng 9g, Phòng phong 9g, Phụ phiến 9g, Bạch truật 15g, Thương truật 15g, Cam thảo 15g, Sinh khương 15g, Bạch thược 30g, Tri mẫu 30g, Thạch cao 30g, Hoàng bá 30g, Ý mễ 60g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trịnh XX, nam, 45 tuổi, sơ chẩn ngày 21 tháng 10 năm 1975, gặp mưa bị ướt, nên tà của hàn thấp đình trệ lại làm cho các khớp ở chân sưng đỏ đau đớn, đã dùng nhiều thuốc đông thuốc tây chữa hiệu quả không rõ rệt, sau lại dùng hormon điều trị, bệnh lúc nặng lúc nhẹ, thời tiết thay đổi càng đau nặng. Khám thấy người bệnh sắc mặt vàng xanh, tinh thần mệt mỏi, chất lưỡi đỏ rêu vàng bẩn, các khớp tay chân đau đớn, khó co duỗi, cảm thấy sưng nóng, gặp lạnh thì hơi bớt, sốt sợ gió, tâm phiền miệng khát, mạch hoạt sác. Đây là cảm hàn thấp, tà uất hóa nhiệt, phải trị bằng phép khu phong hành thấp, thanh hóa uất nhiệt. Dùng 5 thang "Gia vị quế chi thược dược tri mẫu thang", uống xong thì các khớp đỡ đau, tiểu tiện còn váng đỏ, thấp nhiệt còn chưa hết, vẫn dùng bài thuốc trên, thêm Trạch tả 24g, Phòng kỷ 5g, uống 3 thang nữa thì khỏi trên lâm sàng, ra viện.

Bàn luận: Tà của hàn thấp xâm nhập quấy nhiễu, ngưng đọng ở kinh lạc khí huyết vận hành không thông mà sinh ra bệnh này, tà của hàn thấp uất mà hóa nhiệt ắt các khớp sưng đau, thấp nặng ắt các khớp không lợi, lý do làm cho phát sốt miệng khát, mạch hoạt sác, rêu vàng bẩn chính là do thấp nhiệt nội uất. Quế chi thược dược tri mẫu thang thêm các thuốc thanh nhiệt lợi thấp, trừ được thấp nhiệt của biểu lý, lại khử được tà của hàn thấp, nhưng thấp có tính chất nặng nề bám dính khó mà trừ được nhanh chóng, phải thêm Trạch tả, Phòng kỷ để bắt cái thấp phải theo tiểu tiện mà tống ra. Trong bài thuốc giảm lượng Ma, Quế, Phụ, bởi vì ở đây nhiệt nặng hơn hàn, giữ tính năng ôn kinh tán phát của chúng, dùng nhiều thuốc thanh nhiệt lợi thấp, là trị cái thấp nhiệt quá đáng, đồng thời đuổi tà tán hàn, thanh nhiệt khử thấp.


243. Thấp khớp

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà làm bế tắc kinh lạc.

Cách trị: Ôn kinh thông lạc, khu phong chỉ thống.

Đơn thuốc: Túi thuốc chườm.

Công thức: Lưu hoàng 60g, Bạch chỉ 30g, Xuyên khung 30g, Nhũ hương, Một dược mỗi thứ 10g. Các thuốc trên hỗn hợp tán bột mịn bỏ vào túi vải, dàn đều điều chỉnh chiều dày 0,3cm, dùng dây buộc chặt ngang dọc (như bọc tã cho trẻ em). Lấy miếng gừng tươi xát mặt cắt vào chỗ đau, sau đó đặt túi thuốc lên, ngoài đắp nóng thêm, xê dịch nếu nóng quá. Mỗi ngày làm một lần, mỗi lần dùng xong bảo quản kín không cho hả khí, dùng được 2 tuần.

Bàn luận: Bài này lấy Lưu hoàng làm chủ, lấy thêm các thứ cay xuyên qua lạc, hoạt huyết định thống, làm cho sức nhiệt của nó có thể vào tới chỗ sâu của cơ nhục, đạt tác dụng ôn kinh thông lạc khu thấp trấn thống. Bài này do chế biến thuốc cứu "Thái ất", "Lôi hoả", mà ra, nhưng diện tích chườm nóng lớn hơn, sức nhiệt sâu hơn. Túi thuốc chườm nóng này dễ sử dụng, rẻ nên bệnh nhân có thể tự làm. Trong thực tế, đối với các chứng viêm cân cơ, viêm quanh khớp vai, viêm cột sống phì đại, tổn thương phần mềm v.v... đều có hiệu quả.


244. Nốt thấp dưới da

Biện chứng đông y: Phong thấp tà xâm nhập thịt da.

Cách trị: Sơ phong khử thấp, hoạt thuyết thông lạc.

Đơn thuốc: Gia giảm kinh phòng tứ vật thang.

Công thức: Đương quy 12g, Xích thược 12g, Sinh địa 12g, Kinh giới 9g, Phòng phong 6g, Khổ sâm 15g, Ngưu tất 12g, Tô mộc 6g, Bồ công anh 30g, Cam thảo 6g. Sắc uống, mỗi ngày một thang.

Hiệu quả lâm sàng: Vũ XX, nữ, 24 tuổi, công nhân, đến khám ngày 10 tháng 7 năm 1962, mắc bệnh đã hơn 1 năm, triệu chứng chủ yếu là hai chân và vùng mắt cá có các cục cứng màu đỏ tía đi lại có cảm giác đau vướng. Đã khám tây y, chẩn đoán là hạt hạch thấp dưới da. Bệnh nhân váng đầu mệt nhọc, mặt vàng đỏ, chất lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoạt sác. Đó là do tà của phong thấp xâm nhập da thịt, vào sâu dinh huyết phong thấp và huyết cũng kết lại không tan đi mà thành ra. Phải trị bằng phép sơ phong khử thấp, hoạt huyết thông lạc. Cho dùng "Gia giảm kinh phòng tứ vật thang". Uống được 8 thang thì các cục cứng đỏ tía đã hết, đi lại như thường, mạch chuyển hoạt sác. Đó là phong thấp tà đã tan, dịch huyết tuần hành đã thông, vẫn dùng bài trên bỏ Kinh phòng, thêm Địa đinh 15g, Liên kiều 15g, để khử độc tà của thấp nhiệt còn sót lại, đánh thông kinh lạc. Uống 5 thang nữa để được công hiệu hoàn chỉnh.

Bàn luận: Theo lý luận của "Tố vấn, Sinh khí thông thiên luận" thì "dinh khí không thuận, đi ngược vào trong thịt, sinh ra ung thũng" và theo "Y tông kim giám" thì chứng ngoại khoa lưu chú có các nguyên nhân thấp đàm, ứ huyết, phong thấp, dùng biện chứng để tìm ra nguồn thì ca bệnh này là chứng phong thấp lưu chú, phong thấp nhập lạc, ngưng kết không tan, ngăn cản huyết dịch tuần hành, thành cục cứng đỏ tía mà đau chướng. Dùng thuốc khu phong khử thấp, hoạt huyết thông lạc, trong đó có thêm Ngưu tất, Tô mộc, Bồ công anh để hành huyết khử ứ, tiêu ung tán kết, cuối cùng mới thêm Địa đinh, Liên kiều để thanh lọc cái tà còn sót lại, cho nên thu được kết quả điều trị có thể nói là mỹ mãn.


245. Thấp khớp cấp

Biện chứng đông y: Thể chất dương thịnh, trong có nhiệt ẩn náu, phong hàn thấp tà quấy nhiễu.

Cách trị: Khư phong thấp, thanh nhiệt giải độc.

Đơn thuốc: Khư phong lợi thấp hoạt huyết (uống) thuốc rửa hoạt thông (rửa ngoài).

Công thức: Khư phong lợi thất hoạt huyết phương: Đương quy 9g, Hồng hoa 6g, Tần giao 9g, Phòng phong 9g, Tang kí sinh 12g, Mộc qua 9g, Ngưu tất 9g, Uy linh tiên 9g, Tì giải 9g, Thương truật 9g, Phục linh 9g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Thuốc rửa Hoạt thông: Sinh địa 15g, Đơn bì 9g, Xích thược 9g, Ngân hoa 15g, Tử hoa địa đinh 15g, Hoàng bá 9g, Mộc thông 9g, Ti qua lạc 9g, Sắc nước ngâm tẩm chỗ bị bệnh mỗi ngày 2-3 lần.

Hiệu quả lâm sàng: Lưu X, nữ, thanh niên, đến khám đầu tháng 10 năm 1978. Mắt cá chân sưng nóng và đau, không đi lại được, khớp gối cũng đau, không nghĩ đến ăn uống, bệnh đã hơn 20 ngày. Mạch tế sác, lưỡi sạch không rêu. Xét nghiệm máu lắng 54mm/giờ. Chẩn đoán lâm sàng là thấp khớp cấp. Đã dùng một ít thang thuốc, ngoài ra đã dùng "Thuốc rửa Hoạt thông" để rửa nhưng hiệu quả không rõ. Sau đó đổi sang uống "Khư phong lợi thấp hoạt huyết phương", nhưng dặn vẫn rửa ngoài bằng "Thuốc rửa Hoạt thông". Dùng thuốc đến ngày 21 tháng 10 mắt cá chân đã hết sưng, hết đau, nhưng khớp đầu gối có vẻ còn sưng đau. Dặn kiên trì uống thêm ít thang nữa nhằm đạt công hiệu đầy đủ. Hạ tuần tháng 11 năm ấy, anh của người bệnh đến cho biết cô em dùng thuốc xong đã khỏi bệnh ngay, tốc độ máu lắng giảm xuống bình thường, công tác trở lại.

Bàn luận: Thấp khớp là thuốc phạm trù "tí chứng" của đông y. Tí là có ý nghĩa bịt kín, ứng với trường hợp kinh lạc cơ biểu của người ta bị phong hàn thấp khí quấy rối, khí huyết không thông, cho nên các khớp đau đớn, lại thêm tê mỏi đều gọi là tí chứng. Có một loại nhiều tí, là do thể chất dương thịnh, trong thì có nhiệt ẩn náu, tuy có gặp phong hàn thấp tà nhưng vẫn có nhiều biểu hiện kiểu nhiệt. "Kim quỹ dực" nói: tạng phủ kinh lạc trước có chứa đầy nhiệt, mà gặp phong hàn thấp khí bên ngoài đến, nhiệt là hàn tà, khí không thông, hàn lâu ngày hóa nhiệt, ắt sinh tí nung đốt mà sinh bực bội. Bệnh của họ Tì là chứng bệnh này. Cho dùng Đương quy, Hồng hoa là để hoạt huyết, Tần giao, Phòng phong, Tang ký sinh. Tì giải là các thứ khư phong thấp. Mộc qua lợi cân cốt; Ngưu tất làm mạnh lưng gối; Uy linh tiên chủ về các chứng tì ngoan (ngoan cố); Thương truật, Phục linh làm khô tì lợi thấp. Lại dùng các thức thanh nhiệt giải độc sắc lên ngâm rửa để cho tính thuốc do lỗ chân lông mà đi vào, trong ngoài phối hợp mà trị bệnh, mới có kết quả tốt.


246. Viêm đa khớp dạng thấp

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà, ứ trệ kinh lạc.

Cách trị: Hoạt lạc chỉ thống.

Đơn thuốc: Tuyên lạc thông tí thang.

Công thức: Đương quy 15g, Thục địa 15g, Thương nhĩ tử 10g, Phòng phong (tổ ong) 10g, Ô xà 20g, Thổ miết trùng 10g, Toàn yết 3g, Ngô công 2 con, Sơn giáp châu 10g, Sơn long 30g, Dâm dương hoắc 20g, Kê huyết đằng 25g, Khương tang 5 con, Hải đồng bì 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu là hành tí: khử Thục địa, thêm Thiên ma 15g, Uy linh tiên 15g, Thanh phong đằng 15g; nếu là hàn tí: thêm Phụ tử 15g, nếu là thấp nhiệt: khử Dâm dương hoắc, Thục địa, thêm Thương truật 15g, Hoàng bá 15g, Mộc thông 10g, Tử kinh bì 10g, Bạch tiễn bì 15g, Bội lan 15g. Có sưng nề: khử Thục địa, thêm Bạch giới tử 15g, Mộc miết tử 1 hạt, Xích tiểu đậu 50-100 g.

Hiệu quả lâm sàng: Trương XX, nữ, 38 tuổi, nhân viên mua bán, viêm đa khớp dạng thấp đã gần 10 năm. Gần đây niêm mạc lở loét. Bệnh kéo dài không công tác được, thậm chí nằm liệt giường, tự dùng các thuốc hormon v.v... vẫn thấy còn đau, sưng nề, biến dạng, v.v... Uống hơn trăm thang "Tuyên lạc thông tí thang gia giảm" thì khỏi, theo dõi 5 năm vẫn đi làm bình thường.


247. Viêm đa khớp dạng thấp

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà, xâm nhập kinh lạc, lưu lại ở các khớp.

Cách trị: Khư phong tán hàn, sơ cân hoạt lạc.

Đơn thuốc: Ma hoàng ôn tí thang.

Công thức: Ma hoàng 10g, Khương hoạt 10g, Độc hoạt 10g, Thế xuyên ô 10g, Thí thảo ô 10g, Bát lý ma 1g, Quế chi 10g, Hoàng kỳ 20g, Xuyên ngưu tất 12g, Mộc qua 12g, Uy linh tiên 12g, Kê huyết đằng 10g, Tế tân 3g, Chế phụ 10g, Thân cân thảo 10g, Tầm cốt phong 10g, Thương nhĩ tử 10g, Tần giao 10g, Tang kí sinh 10g, Chích cam thảo 10g, Đương qui, Bạch thược đế phù chính khí.


248. Viêm đa khớp dạng thấp

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà, đọng ở các khớp, uất lâu hóa nhiệt, khí trệ huyết ứ.

Cách trị: Sơ phong thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ.

Đơn thuốc: Hi đồng ẩm, xạ hương, tam thất hoàn.

Công thức: Hi đồng ẩm: Hi thiêm thảo 30g, Hải đồng bi 30g, Nhẫn đông đằng 30g, Tang chi (non) 30g, Kê huyết đằng 15g, Tần giao 10g, Tri mẫu 10g, Cát căn 10g, Sinh ý mễ 30g, Phòng kỷ 10g. Thêm nước vừa đủ, nấu sôi 20 phút, sắc lại còn 300 ml, uống lúc còn ấm, mỗi ngày 2 lần. Xạ hương tam thất hoàn: Sinh toàn yết 60g. Tam thất 30g, Địa long 90g, Sinh hắc đậu 60 hạt, Xuyên ô 15g, Xạ hương 3g (nghiền nhỏ, bỏ vào sau). Tất cả nghiền thành bột mịn, dùng hồ gạo làm thành hoàn to bằng hạt đỗ xanh, mỗi ngày uống 2 lần (sáng, chiều) mỗi lần 7 đến 10 hoàn, với nước ấm.

Hiệu quả lâm sàng: Hứa XX, 27 tuổi, nhân viên thương nghiệp. Mắc bệnh viêm đa khớp dạng thấp đã 7 năm, thỉnh thoảng lại phát, mỗi lần phát bệnh thì sốt, các khớp lớn thì sưng đỏ, nóng đau, không hoạt động được, đã vào bệnh viện trước sau 3 lần; ở viện điều dưỡng đã chữa 2 đợt, mấy ngày trước lại thấy toàn thân khó chịu, các khớp đau, đến nay gót chân, gân gót cũng sưng đỏ đau, không hoạt động được. Ngày 28 tháng 7 năm 1977 đến khám, vợ phải dìu đi, sắc mặt bệch, dáng đau khổ, các khớp ngón tay, ngón chân, các khớp mắt cá, gối sưng đỏ, sờ thấy nóng rực, mạch tế nhu, rêu lưỡi trắng mỏng. Cho uống "Hi đồng ẩm", khám lại 8 lần. dùng tất cả 30 thang thuốc, các triệu chứng đỡ dần dần. Trong thời gian chữa bệnh, dùng kèm "Xạ hương tam thất hoàn", Trong bài thuốc tùy theo triệu chứng mà thêm Phòng phong, Bạch truật, Hoàng kỳ v.v... là các thuốc cố biểu. Theo dõi 10 tháng, gặp thời tiết thay đổi thì hơi khó chịu, các khớp chưa sưng lại, đã trở về công tác.

Bàn luận: Bệnh viêm đa khớp dạng tháp thuộc phạm vi trù chứng "tí" của đông y. "Chứng tí" phát sinh là do lỗ chân lông mở kết, doanh vệ không vững chắc, phong hàn thấp tà thừa hư xâm nhập vào mà thành. Vì tà làm tắc chính khí, không tuyên hành được mà đọng lại, khí huyết ngưng trệ, lâu thành ra tí. Tí là có ý bất thông, bất thông tắc thống, thấp tà trú ở khớp nên sưng, tà lâu hóa nhiệt, chuyển thành nhiệt tí, ca bệnh trên dùng phép sơ phong thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ, phối hợp với thuốc lá côn trùng để thu tà có công hiệu.


249. Viêm đa khớp dạng thấp

Biện chứng đông y: Phong thấp ứ trệ kinh lạc.

Cách trị: Khu phong thắng thấp, khứ ứ thông lạc.

Đơn thuốc: Long xà tán.

Công thức: Địa long 250g, Phòng phong 60g, Toàn trùng 20g, Bạch hoa xà 4-6 con, Ô tiêu xà 60g. Tất cả các thuốc trên rang khô, tán thành bột, rây mịn rồi cho vào nang nhựa, mỗi lần uống 4-6 nang, mỗi ngày 3 lần, mỗi đợt dùng một liều thuốc trên.

Bàn luận: Bài này chủ yếu dùng để chữa các bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Nhưng đối với các bệnh thấp khớp, viêm quanh khớp vai, đau thần kinh hông cũng có công hiệu.


250. Viêm đa khớp dạng thấp

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt đọng lại ở khớp.

Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, khử thấp hoạt lạc.

Đơn thuốc: Thương truật phòng kỷ thang gia vị.

Công thức: Thương truật 12g, Phòng kỷ 12g, Thông thảo 12g, Ý dĩ 15g, Địa long 12g, Ngưu tất 12g, Tô mộc 9g, Bồ công anh 30g, Kim ngân hoa 24g, Liên kiều 12g, Cam thảo 4,5g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Dương XX, nam, 18 tuổi, công nhân. Đến khám ngày 10/7/1970. Bệnh nhân sưng đau các khớp chân đã 2 tháng, hai đùi đau đớn, đi lại khó khăn và rất đau, có lúc phát sốt, không muốn ăn uống, sắc mặt vàng đỏ, môi và lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi trắng, gốc lưỡi hơi vàng, mạch tế sác mà nhu. Bệnh này do thấp nhiệt đọng lại ở khớp gây nên thấp nhiệt tí sưng đau, phải thanh nhiệt giải độc, khử thấp hoạt lạc. Cho dùng "Thương truật phòng kỷ thang gia giảm". Uống được 4 thang, hết sưng hết đau các khớp các chứng cũng hết. Cho dùng tiếp 2 thang, để củng cố hiệu quả.

Bàn luận: Từ sự phân tích mạch chứng của ca bệnh này ta thấy bệnh nhân vốn có nhiệt ẩn náu ở trong lại có hàn thấp hóa nhiệt, thấp và nhiệt cùng câu kết đọng lại ở khớp làm tắc nghẽn kinh lạc, doanh hệ tuần hoàn không điều hòa nữa mà sinh ra chứng thấp nhiệt tí. Trước hết dùng "Thương truật phòng kỷ thang gia vị" để thành nhiệt giải độc, khu phong hoạt lạc. Vì trong bài thuốc có Bồ công anh, Kim ngân hoa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc, tiêu ung tán kết, Tô mộc hành huyết khứ ứ thông lạc nên có tác dụng chữa bệnh nhanh.

251. Viêm đa khớp dạng thấp

Biện chứng đông y: Phong tà bịt nghẽn kinh lạc.

Cách trị: Ích khi khu phong thanh nhiệt thông lạc

Đơn thuốc: Kỳ kỷ thổ địa thang.

Công thức: Hoàng kỳ 12g, Phòng kỷ 15g, Thổ phục linh 30g, Địa cốt bì 20g, Phòng phong 12g, Đương qui 12g, Bạch truật 12g, Đại phong bì 20g, Khương hoạt 10g, Độc hoạt 10g, Tang chi 20g, Câu đằng 15g, Ngưu tất 10g, Lôi công đằng 6-12g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Bàn luận: Lôi công đằng trong bài này còn gọi là Hoàng đằng, Đoạn trường thảo v.v... vị hơi đắng, hơi cay, tính ôn rất độc, có các tác dụng khu phong thông lạc khử thấp chỉ thống, có hiệu quả tốt đối với chứng viêm đa khớp dạng thấp, có thể sử dụng phối hợp trong bài thuốc, cũng có thể sử dụng đơn độc. Nói chung người lớn mỗi ngày uống 6-15g, tối đa 30g, dùng quá liều có thể ngộ độc hoặc chết. Cần chú ý khi dùng.


252. Viêm đa khớp dạng thấp

Biện chứng đông y: Thận tinh không đầy đủ, phong hợp với đờm thấp thành chứng tí.

Cách trị: Bổ tinh dưỡng dịch, hóa thấp thông lạc, trừ phong định thống.

Đơn thuốc: Địa hoàng hợp tễ.

Công thức: Sinh địa hoàng 60g, Thục địa hoàng 30g, Bạch truật (sao) 60g, Đạm can khương 12g, Xuyên ô (chế) 6g, Bắc tế tân 4,5g, Ngô công 3 con (đã nát), Sinh cam thảo 5g. Mỗi ngày 1 thang, nước sắc 2 lần, uống làm 3 lần. Một tuần lễ sau khi bệnh chuyển biến tốt thì giảm lượng Sinh địa, thêm Hoàng kỳ 30g.

Bàn luận: Bài "Địa hoàng hợp tễ" được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm hiện đại dùng độc vị Can sinh địa để trị có kết quả bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Trên lâm sàng thấy dùng độc vị Can sinh địa thì hiệu quả chậm, tác dụng chỉ thống kém, khi dùng lượng lớn thì có tác dụng phụ, người bệnh đau bụng ỉa chảy. Sau khi uống 3-5 ngày thì bệnh nhân thường không muốn uống tiếp. Bài thuốc này có dùng thêm các thuốc lý trung như Bạch truật, Can khương để ôn trung kiện tì, thẩm thấp hóa ứ, lại thêm Xuyên ô, Tế tân, Ngô công để khu phong định thống, hiệu quả tăng lên rõ rệt, tác dụng phụ giảm hẳn đi.


253. Sốt cao

Biện chứng đông y: Tà nhiệt vào dương minh, đọng ở da thịt.

Công thức: Cam hàn thanh nhiệt.

Đơn thuốc: Thanh nhiệt thang.

Công thức: Sinh thạch cao 50g, Tri mẫu 10g, Cam thảo 10g, Ngạnh mễ 100g (bỏ bao mà sắc), Hoàng liên 5g, Hoàng cầm 10g, Sơn chi 10g, Hoàng bá 10g, Sinh khương 3 lát để dẫn thuốc. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Khương XX, nam, 14 tuổi, học sinh, sơ chẩn ngày 2/3/1978, cho biết sau khi phải cảm thì sốt cao, đã dùng các thuốc kháng sinh để giải nhiệt chấn thống và truyền dịch để điều trị, nhưng vẫn sốt cao trên 39,2 độ C, kéo dài 8 ngày không lui, cả nhà hoang mang lo sợ. Các triệu chứng hiện nay là: thân nhiệt 39,2 độ C, mặt đỏ, miêng khô khát, bồn chồn không yên, mồ hôi hầm hập. Lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô mà dày, sốt cao kéo dài không lui với 4 chứng là người nóng, miệng khát, ra mồ hôi, mạch hoạt sác mà dại, có thể chẩn đoán là chứng nhiệt ở dương minh "Nội kinh" viết: nhiệt ắt bình phu hoãn, lỗ chân lông mở, mồ hôi ra nhiều, tà nhiệt vào dương minh đọng ở da thịt không khử được, làm cho người nóng cao không lui. Thân nhiệt không lui ắt bì phu tri hoãn, hoãn ắt lỗ chân lông mở và ra mồ hôi do đó mồ hôi hầm hập. Mồ hôi ra và nhiệt thịnh ắt hại đến tân dịch làm cho miệng khát mà rêu lưỡi vàng khô. Nóng dữ ắt huyết dịch sôi sục, tuần hoàn tăng nhanh, các lạc mạnh nhỏ bé sung huyết, biểu hiện ra các chứng mặt đỏ, mắt đỏ, lưỡi đỏ, sẫm, mạch hoạt sác mà dại v.v... có thể sơ bộ chẩn đoán là chứng nhiệt ở dương minh, dùng phép cam hàn thanh nhiệt phối hợp thêm các thuốc khổ hàn thích hợp dùng bài Bạch hổ thang và Hoàng liên giải độc thang phối hợp (tức là bài Thanh nhiệt thang nói trên). Ngày 4 tháng 3 người nhà bệnh nhân hết sức mừng rỡ đến báo cho biết: hiệu quả của thuốc này đặc biệt tốt, hôm ấy uống hết 1 thang thuốc thì chứng người nóng đã lui một nửa, uống hết một nước sắc thứ hai thì thân nhiệt hạ xuống tới 36,4 độ C, bệnh khỏi.


254. Sốt nhẹ

Biện chứng đông y: Ôn tà phạm phế, chuyển ngược lên tâm bảo, tổn thương đến âm của can thận, ôn tà lâu ngày hư nhiệt không lui.

Cách trị: Tư âm thanh nhiệt.

Đơn thuốc: Thanh cốt tán gia giảm.

Công thức: Địa cốt bì 15g, Thanh hao 5g, Tri mẫu 12g, Đơn bì 12g, Hoài ngưu tất 10g, Thái tử sâm 15g, Mạch đông 10g, Ngũ vị tử 6g, Phi hoạt thạch 10g, Cam thảo 3g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Đoạn XX, nam, 30 tuổi, cán bộ. Tháng 9 năm 1979 đột nhiên sốt cao, thân nhiệt 39 độ C, điều trị ngay tại bệnh xá đơn vị. Khởi đầu chữa theo cảm mạo, theo dõi mấy ngày không hiệu quả phải vào bệnh viện. Qua nhiều xét nghiệm loại trừ các bệnh truyền nhiễm virút, vi khuẩn, rickettsia và các bệnh phong thấp nhiệt, bệnh máu, bệnh viêm gan. Tuy đã hội chẩn nhiều lần song chưa có chẩn đoán xác định, phải cho điều trị triệu chứng và nâng sức, nằm bệnh viên hơn 2 tháng sốt cao lui dần, thân nhiệt xuống đến 37,5 độ C thì xuất viện. Sau khi xuất viện cứ sốt nhẹ mãi không dứt. Ngày 25/3/1980 đến khám bệnh viện chúng tôi, thấy thần kinh suy sụp, mặt vàng bợt, người gày gò, mạch trầm tế mà hơi sác, chất lưỡi đỏ non, đến khám 8 lần. dùng "Thanh cốt tán gia giảm" tất cả 24 thang, thân nhiệt giảm xuống dưới 37 độ C, theo dõi 1 tuần lễ chưa thấy lên cao, hết cả chứng váng đầu, tim nhanh, sức khỏe được phục hồi.

Bàn luận: Sốt là triệu chứng thường thấy trên lâm sàng, có thể phát sinh trong nhiều quá trình bệnh lý. Đông y qui nạp về hai phương diện "ngoại cảm" và "nội thương", sốt do nội thương thì nhiệt độ thường thấy là sốt nhẹ, nguyên nhân bệnh lý phần nhiều là thể chất hư nhược hoặc nhiệt bệnh lâu ngày không khỏi, đến nỗi âm tinh bị tổn khuyết, trên lâm sàng tương đối hay gặp, ca bệnh nói trên là thuộc về nhiệt bệnh thương âm, nhưng lại kèm thấp tà kéo dài (rêu lưỡi trắng hơi vàng) thêm Hoạt thạch, Cam thảo để lợi thấp thanh nhiệt. Bài Thanh cốt tán này gốc từ cuốn "Chứng trị chuẩn thằng".


255. Sốt nhẹ

Biện chứng đông y: Khí hư phát nhiệt.

Cách trị: Bổ khí thăng đề.

Đơn thuốc: Bổ trung ích khí thang.

Công thức: Hoàng kỳ 30g, Bạch truật 9g, Trần bì 9g, Thăng ma 6g, Sài hồ 10g, Đảng sâm 12g, Đương qui 9g, Cam thảo 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Bàn luận: Những trường hợp sốt không rõ nguyên nhân mà không lui dùng phép bổ khí thăng đề, uống bổ trung ích khí thang phần lớn đạt kết quả như mong muốn. Kiểu sốt nhẹ này thân nhiệt nói chung trên dưới 38 độ C mà lâu ngày không khỏi, bạch cầu đều bình thường, đồng thời có những triệu chứng thở ngắn, lười nói, ăn giảm, tinh thần mệt mỏi, yếu sức, phân mềm, lỏng mạch lui hoặc hư sác vô lực, có lúc cũng thấy miệng khô môi đỏ, lưỡi đỏ dày v.v.... rất dễ chẩn đoán nhầm là âm hư, cho dùng thuốc dưỡng âm thanh nhiệt thường vô hiệu hoặc lại sốt nặng thêm. Dùng "Bổ trung ích khí" để chữa bệnh này quan trọng nhất là dùng lượng thuốc hợp lý. Lượng Hoàng kỳ phải cao, nói chung trên dưới 30g, Sài hồ trên dưới 10g, Sài hồ vốn có thể thanh nhiệt nhưng sốt do hư khí mà nếu không cùng dùng với Hoàng kỳ thì khó có công hiệu, đây chính là phép "Cam ôn đại nhiệt". Những điều kể trên là kinh nghiệm của cụ Trương Hải Phong.


256. Sốt nhẹ

Biện chứng đông y: Can đởm khí trệ, chứng bệnh của thiếu dương.

Cách trị: Sơ can thanh nhiệt, kiện tì lý khí.

Đơn thuốc: Tiêu sài hồ thang gia giảm.

Công thức: Sài hồ 9g, Hoàng cầm 15g, Liên kiều 15g, Song hoa 15g, Bản lam căn 30g, Bán hạ 9g, Đảng sâm 12g, Trần bì 9g, Thanh hao 12g, Chỉ xác 9g, Tiêu tam tiên mỗi thứ 9 g, Nhân sâm 6g (uống riêng nước). Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Đã điều trị 7 ca sốt nhẹ không điển hình như ca dưới đây đều khỏi. Chu XX, nam, 59 tuổi, cán bộ, 8 tháng trước do sỏi mật nên đã cắt bỏ túi mật, một tháng trước đây sốt nhẹ (37,1 - 37,5 độ C) không rõ nguyên nhân. Bạch cầu 6999/mm3, trung tính 72%, lympho 28%, gan có chức năng bình thường và không có triệu chứng thực thể, chiếu ngực và các xét nghiệm khác đều không thấy gì bất thường. Đã dùng nhiều thứ thuốc kháng khuẩn không có công hiệu, xin khám chữa đông y. Căn cứ tình trạng sốt nhẹ phải đi phải lại, váng đầu, rức đầu, ăn xong thì đầy bụng, ăn uống không ngon, sút cân, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng đắng, họng khô, ngực sườn đau âm ỉ, người yếu dễ ra mồ hôi, rêu lưỡi mỏng trắng, chất lưỡi đỏ thắm, mạch huyền. Đã phân tích các triệu chứng trên, đưa ra phép chữa và cách dùng thuốc. Cho bài trên 6 thang, thân nhiệt trở lại bình thường, các triệu chứng giảm nhẹ rõ rệt, lại uống thêm bài trên 8 tháng nữa, thân nhiệt bình thường bệnh khỏi.

Bàn luận: Người bệnh này thể chất yếu đuối, lại đã bị cắt bỏ túi mật, tuy đã quá 6 tháng nhưng chính khí chưa hồi phục, như vậy bất luận tình chí nội thương hoặc tà thừa hư xâm nhập đều có thể làm cho can khí ứ trệ, can chủ vệ sơ tiết, tính thích điều đạt, ứ lâu ắt có thể hóa nhiệt phát thành chứng bệnh của thiệu dương. Sách "Thương hàn luận" nói: "Thiếu âm mà bị bệnh thì miệng đắng họng khô, mắt hoa vậy", lại viết "hàn nhiệt đi đi lại lại, sườn ngực đầy khó chịu, chẳng muốn ăn uống, tâm phiền muốn nôn... thì phải dùng Tiêu sài hồ thang để chữa vậy". Cách trị ca bệnh này là theo phép của Tiêu sài hồ thang, lại kết hợp với bệnh chứng cụ thể của người bệnh là dùng các thuốc phù chính hòa trung và thanh nhiệt giải độc, lấy sài hồ, Thanh hao để giải uất nhiệt của thiếu dương, Bản lam căn, Liên kiều, Hoàng cầm, Song hoa giải độc kháng khuẩn để thanh trừ nội tà của thiếu dương, Nhân sân, Đảng sâm, Cam thảo bổ khí hòa trung tăng cường sức kháng bệnh của cơ thể, Trần bì, Bán hạ, Tiêu tam tiên, Chỉ xác kiện tì hòa vị, tiêu trừ các triệu chứng ở đường tiêu hóa. Phép điều trị và thuốc phù hợp với bệnh làm tăng tác dụng của thuốc, vừa công vừa bổ, đem lại kết quả nhanh chóng.


257. Sốt nhẹ (sốt mùa hè)

Biện chứng đông y: Thư nhiệt hiệp thấp.

Cách trị: Tuyên khai ôn hóa.

Đơn thuốc: Thanh tuyên ôn hóa ẩm.

Công thức: Liên kiều 15g, Phục linh 9g, Hà diệp 6g (có thể dùng 1 tàu lá sen tươi), Hạnh nhân 9g, Bội lan 9g, Mao căn 12g, Trần bì 6g, ý nhân 9g, Trúc diệp 6g, Cam thảo 3g, Song hoa 6g. Sắc uống thay nước trà.

Bàn luận: Mùa hè nóng nực mà sốt (sốt mùa hè) không lui và buổi chiều sốt tăng, bụng trên tắc khó chịu, khát nhiều song uống ít, hoặc cứ đến mùa hè thu thì mình nóng hoặc không thoải mãi, rêu lưỡi bẩn, mạch trệ, hoặc cảm phải thứ thấp mà sốt nhẹ không lui, đều có thể dùng bài này. Các chứng kể trên phần lớn là do thấp và nhiệt kết hợp gây lên, nếu không dùng phép khinh thanh tuyên hoá, một mặt thanh nhiệt, một mặt dùng thuốc phương hóa thấp tà thì không thể có công hiệu. Còn nếu có cả tiểu tà có thể thêm Lô căn và Bạc hà. Nếu tiểu tiện đỏ và ít thì có thể thêm Hoạt thạch (Thanh tuyên ôn hóa ẩm) cũng có thể chữa bệnh nhân bị gan mạn tính có các chứng can nhiệt tì thấp, biểu hiện chủ yếu là ăn ít, toàn thân mệt mỏi, sườn đau bụng chướng, miệng đắng lưỡi khô, buồn nôn, tay chận nặng nề yếu sức, lưỡi bẩn dính, trong miệng cũng bẩn dính. Trên cơ sở bài trên mà thêm Nhân trần, Sa nhân. Còn nếu dưới vùng dưới tim mà đầy tắc thì lúc đó có thể thêm Uất kim, Qua lâu xác, Chỉ xác.


258. Sốt nhẹ kéo dài

Biện chứng đông y: Dương hư khí nhược.

Cách trị: Ôn bổ dưỡng khí.

Đơn thuốc: Ôn dương ích khí phương.

Công thức: Đảng sâm 40g, Hoàng kỳ 50g, Cam thảo 10g, Thăng ma 10g, Tử tô 10g, Đương qui 15g, Bạch truật 15g, Trần bì 15g, Xuyên khung 5g, Phục thần 30g, Bán hạ 10g, Quế chi 15g, Ngũ vị tử 15g, Viễn chí 15g, Táo nhân 15g, Bá tử nhân 15g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nữ, 24 tuổi, sơ chẩn ngày 15/2/1978. Bốn năm trước đây, sốt nhẹ kéo dài mãi không lui. Thân nhiệt lúc nào cũng xấp xỉ 37 độ C, đã chữa bằng thuốc tây trước sau không hạ nhiệt. Triệu chứng biểu hiện là: đầu nhức, chóng mặt, yếu sức, thở ngắn, lười nói, tự đổ mồ hôi, tim đập, trong lòng hoảng loạn không yên, ngủ ít hay mơ, sợ gió sợ lạnh, tay chân không ấm, lúc vận động thì thở gấp như xuyễn, mặt trắng bệnh, lưỡi nhạt non mà ít rêu, mạch hơi nhược. Mạch chứng của dương hư. Đó là căn cứ để chẩn đoán là dương hư. Dương lui hãm xuống, thanh dương thì không thể thăng lên ở đầu mặt, gây đầu nhức chóng mặt, sắc mặt trắng bệch. Dương nhược ắt khí nhược, khí nhược ắt công năng của cơ thể suy thoái làm cho hơi thở ngắn, lười nói, toàn thân yếu mệt. Tâm khí hư, ắt tim đập trong lòng hoảng loạn ngủ ít mơ nhiều. Vệ khí hư ắt không thể cổ biểu nên mồ hôi tự ra. Dương hư mà sao lại nóng? Đó là vì dương khí của cơ thể trong tình trạng bình thường thì không ngừng toả ra ở cơ biểu, dương hư không đủ sức vượt ra ngoài mà uất lại ở đa cơ vì vậy mà 4 năm nay sốt nhẹ không lui. Cho uống "Ôn dương ích khí phương" lấy ôn dương bổ khí để trừ khử gốc bệnh. Khám lần thứ hai: ngày 20/2/1978, người bệnh cho biết đã uống hết 3 thang "Ôn dương ích khí phương", thân nhiệt hạ xuống còn 36,5 độ C, chứng sốt nhẹ 4 năm nay đã khỏi hẳn, hiện chỉ còn lại chứng tim đập nhanh, ngoài ra không còn gì khó chịu. Lại cho bài "Quế chi long cốt mẫu lệ thang gia giảm" để củng cố.


259. Sốt nhiễm khuẩn

Biện chứng đông y: Thử nhiệt hiệp với thấp.

Cách trị: Tâm lương giải cơ, thanh khí giải độc, kèm theo thấu biểu, phương thương hóa trọc thanh dinh và thông phủ.

Đơn thuốc: Ngân kiều bạch hổ thang.

Công thức: Ngân hoa 10 -15g, Liên kiều 10 - 15g, Cát căn 18-30g, Sinh thạch cao 50-100g (bao riêng sắc trước), Tri mẫu 10-15g, Thạch cao 10-15g (bao riêng cho vào sau), Cam thảo 6-10g. Trên là liều dùng cho người lớn, trẻ em và người già yếu có thể giảm lượng. Sắc uống hai lần. Người bệnh nặng có thể uống mỗi ngày 2 thang. Không có mồ hôi hoặc ít mồ hôi, các chứng biểu vệ nặng hoặc kèm ho xuyễn thì thêm Ma hoàng, Hạnh nhân; rêu lưỡi bẩn, vàng, yếu sức, ăn kém, ỉa lỏng kèm thấp thì bỏ Tri mẫu, Cát cánh, thêm Hoắc hương, Bội lan, táo bón, rêu lưỡi vàng đỏ, ban chẩn từng đám, mạch tế sác thì thêm Tê giác, Huyền sâm, Sinh địa, có mụn nhọt mưng mủ thì lấy Bạc hà đổi cho Thanh hao, thêm Bồ công anh, Xuyên liên. "Ngân kiều bạch hổ thang" điều trị bệnh nhân sốt cao do nhiễm khuẩn, như viêm phổi do vi khuẩn cúm, cảm mạo cúm, viêm não, nhiễm trùng cục bộ cấp, virut, viêm phổi, đều có hiệu quả tốt, bài là thuốc hạ sốt đông y khá ổn định, điều trị cả gốc lẫn ngọn. Những người sốt cao, sau khi biện chứng đều có thể dựa vào bài thuốc trên gia giảm, sau khi hết sốt cao lại tiếp tục biện chứng luận trị, có thể đạt được kết quả điều trị rất tốt.

Hiệu quả lâm sàng: Tăng XX, nam 21 tuổi, học viên đông y, đầu mùa hè 1966 giữa ngày nắng gắt lên núi hái thuốc, rồi xuống nước bơi lội, hai ngày sau sốt cao 39,6 độ C, ngày hôm ấy uống thuốc cảm mạo tự chế, sốt lui nhưng hôm sau lại lên tới 40,8 độ C, phải đến bệnh viện huyện cấp cứu. Chẩn đoán là: 1 - cảm mạo nặng. 2- thương hàn (là một bệnh ngoại cảm do hàn gây nên, không phải là bệnh thương hàn ở ruột). Đề nghị vào nằm viện, bệnh nhân xin điều trị đông y. Các triệu chứng là sốt cao, mặt bẩn, rêu lưỡi vàng bẩn, chất lưỡi đỏ tươi, mạch hoạt sác, biện chứng đầy đủ thì đây là thứ nhiệt hiệp thấp, bệnh ở phần vệ khí dùng "Ngân kiều bạch hổ thang" điều trị, mà khử Tri mẫu, Cát căn, thêm Hoắc hương, Bội lan diệp để phương hương hóa thấp. Uống được 2 thang thì sốt hạ đến 38,5 độ C. Lại dùng bài trên gia giảm thêm bớt ba thang nữa thì khỏi.


260. Sốt sau khi nhiễm nấm

Biện chứng đông y: Thân thể suy nhược sau khi mổ, nhiễm phải tà độc làm dinh vệ mất điều hòa.

Cách trị: Điều hòa dinh vệ.

Đơn thuốc: Quế chi thang gia vị.

Công thức: Quế chi 9g, Bạch thược 15g, Bạch truật 9g, Hoàng kỳ 24g, Sinh khương 9g, Đại táo 5 quả, Long cốt, Mẫu lệ mỗi thứ 15g, Cam thảo 3g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Dư XX, nam, 42 tuổi. Bị loét lở bờ cong nhỏ. Đã mổ cắt một phần dạ dày và nối thông dạ dày ruột chay. 18 tháng sau miệng nối bị dò vào kết tràng và bị nhiễm nấm. Vào viện mổ cắt bỏ miệng nối và kết tràng ngang, nối dạ dày ruột chay và kết tràng xuống. Sau đó chiều chiều lại sốt khoảng 37,5 - 38,5 độ C. Thử máu, thử nước tiểu thường quy, máu lắng, chiếu X quang ngực đều bình thường. Cấy máu, nước tiểu đều âm tính. Có thể ăn chế độ lỏng hoặc nửa lỏng. Có các biểu hiện sợ gió, ra mồ hôi, mệt lả, người gày, vẻ mặt tiều tụy, mặt trắng bệch, mạch nhu tế, đã từng dùng penicillin, streptomicin, neomycin không công hiệu. Sốt đến ngày thứ 48 chuyển sang dùng thuốc đông y. Đông y chẩn đoán cho là dinh vệ mất điều hòa, phép chữa phải điều hòa dinh vệ. Cho uống bài "Quế chi thang gia vị" mỗi ngày 1 thang, sau khi dùng 5 ngày thì hết sốt, thân nhiệt ổn định, sau khi mổ lại 58 ngày thì khỏi, xuất viện.

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com