Logo
Loading...

Sách Y học cổ truyền Thiên gia diệu phương phần 4

Thiên gia diệu phương phần 4

151. Viêm thận mạn

Biện chứng đông y: Tì thận dương hư, thấp có tì dương, bệnh lâu ngày khí hư gây ứ đọng.

Cách trị: Ôn bổ thận dương, kiện tì hóa thấp, dưỡng huyết hoạt huyết hóa ứ.

Đơn thuốc: Chân vũ thang, Phòng kỉ phục linh thang gia giảm.

Công thức: Hoàng kỳ 6g, Phụ tử 5g, (cho trước), Phòng kỉ 9g, Quế chi 5g, Phục linh 15g, Dâm dương hoắc 15g, Đan sâm 30g, Đảng sâm 15g, Đương quy 15g. Sắc uống mỗi ngày một thang.

Hiệu quả lâm sàng: Dương XX, nam, 55 tuổi, nông dân. Tới khám ngày 12-1977. Bệnh nhân kể: 5 năm trước bị phù thũng, đi tiểu nhiều lần, đau lưng, nằm viện điều trị đã đỡ rồi ra viện, lúc đó đã hết phù. Vài năm sau thường thấy lưng đau căng, đứng nhiều thì đau nặng thêm. Tiểu tiện nước giải trong lúc đầu thì ít khi đi nhiều, sau thường xuyên đi nhiều. Nhiều lần đến bệnh viện xét nghiệm nước tiểu, albumin từ (++) đến (+++). Mấy năm nay dùng nhiều loại thuốc tây y, đông y, song ngày càng suy nhược, lưng đau, sợ lạnh, sức yếu, chân tay nặng nề. Khi tới khám bệnh nhân sắc mặt tái, dinh dưỡng kém, lưỡi trắng nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm, tế, huyền. Huyết áp 160/3 mmHg. albumin niệu (+++), có ít hồng cầu. Chứng này là tì thận dương hư, thấp khốn tì dương, bệnh lâu ngày khí hư ứ động. Trị nó phải ôn bổ thận dương, kiện tì hóa thấp, dưỡng huyết hoạt huyết hóa ứ. Cho dùng Chân vũ thang, Phòng kỉ phục linh thang gia giảm, uống 3 thang. Khám lại: albumin niệu hết, giảm đau lưng, đi tiểu bình thường. Cho uống 3 thang nữa để củng cố. Sau đó nhiều lần xét nghiệm nước tiểu đều không thấy albumin niệu. Bệnh nhân cứ cách vài ngày cho đến nửa tháng lại uống 1 lần. Theo dõi 3 năm tiểu tiện luôn bình thường, tinh thần ngày một tốt, có thể tham gia lao động bình thường.

Bàn luận: Trường hợp bệnh nhân viêm thận mạn tính này biểu hiện ra thể chất ngày một suy, albumin niệu suốt 5 năm không giảm. Cho nên trong bài thuốc chủ yếu là để tráng thận dương, trọng dụng Hoàng kỳ để bổ khí mà tráng dương, trước sau bổ đồng thời dưỡng huyết hoạt huyết, phù chính ép hư thì ứ bị trừ. Dù bệnh lâu ngày nhưng vẫn có công hiệu nhanh chóng, thể chất phục hồi, albumin niệu mất, hiệu quả củng cố.


152. Viêm cầu thận mạn (thể phù)

Biện chứng đông y: Tì thận dương hư, thủy thấp nội đình, khí huyết ứ trệ.

Cách trị: Hoạt huyết hóa ứ, lợi thủy tiêu thũng.

Đơn thuốc: Gia vị hóa ứ thận viêm phương.

Công thức: Ích mẫu thảo 30g, Đan sâm 15g, Đương quy 15g, Mao căn 15g, Xa tiền tử 15g, Trạch tả 15g, Hồng hoa 12g, Xuyên khung 12g, Ngưu tất 12g, Bạch truật 12g, Ma hoàng 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Dương XX, nữ, 26 tuổi. Năm 1971 bị viêm cầu thận cấp. Sau đó bị phù, váng đầu, đau lưng, tái phát liên tục, từng nằm viện 2 lần, chẩn đoán viêm cầu thận mạn, tinh thần không phấn chấn, lười nói, đầu váng, mắt hoa, tứ chi lạnh, toàn thân căng đau, lưng mỏi, chân mềm yếu, nước tiểu ít, trong, tắt kinh đã 2 năm. Rêu lưỡi trắng bẩn, lưỡi tím, rìa lưỡi có điểm ứ, mạch trầm sác. Xét nghiệm nước tiểu: albumin (+++, bạch cầu 0-4, hồng cầu 0-2). Cho dùng 6 thang bài thuốc trên. Khám lần thứ hai: tinh thần khá hơn, lượng nước tiểu tăng, bớt phù nề, lưng và khớp tứ chi đau lạnh. Cần phải hoạt huyết hóa ứ, ôn dương lợi thủy. Uống bài thuốc trên bỏ Ma hoàng, Mao căn, thêm Nhục quế 3g, Ba kích 15g, Bổ cốt chỉ 12g, 6 thang. Khám lần thứ ba: hành kinh, phù cơ bản rút hết, lưng và khớp chân tay đỡ đau, lạnh. Xét nghiệm nước tiểu: albumin (+), bạch cầu 0-2. Tiếp tục ôn thận kiện tì bằng bài thuốc: Chế phụ phiếu (sắc trước), Bạch truật mỗi thứ 10g, Ba kích thiên, Độc hoạt, Phục linh mỗi thứ 12g, Nhục quế 3g, (tán bột, chiêu với nước thuốc). Uống 10 thang, khám lại lần thứ 4: mọi chứng ở toàn thân đều hết. Xét nghiệm nước tiểu bình thường. Uống tiếp 5 thang bài thuốc trên để củng cố. Theo dõi 2 năm, không thấy tái phát, có thể tham gia lao động.

Bàn luận: Sự vận hành của nước trong cơ thể dựa vào sự vận chuyển của tì, khí, sự điều hòa của phế khí và sự đóng mở của thận khí. Nếu phế, tì, thận mất chức năng thì vận hành của nước trong cơ thể bị trở ngại, thủy thấp dừng ứ bên trong, trào dâng mà thành phù. Thấp là âm tà, rất dễ làm trở ngại làm tắc khí cơ, thương tổn dương khí, lâu ngày dương hư hàn thắng, hàn thấp ngưng trệ, thì huyết không thông, dẫn tới khí trệ mất đi thì khí huyết lưu thông, phế, tì, thận phục hồi chức năng sinh lý, thông đường tuần hoàn nước, các chứng sẽ hết. Vì bệnh này hư thực lẫn lộn song gốc là hư, nên sau khi trừ được ứ trệ, phải kịp thời bổ hư trị gốc mà củng cố hiệu quả điều trị.


153. Chứng tăng urê huyết (viêm cầu thận mạn, suy thận)

Biện chứng đông y: Thận dương suy, trọc tà nội trở.

Cách trị: Ôn dương tả hạ.

Đơn thuốc: Giáng đạm thang.

Công thức: Thực phụ tử 30g, Sinh đại hoàng 30g, Mẫu lệ (nung) 50g. Sắc đặc còn 150ml, hòa thêm 15g, Nguyên minh phấn 15g, đợi cho ấm rồi thụt giữ ở ruột, ngày 1 lần.

Hiệu quả lâm sàng: Tiền XX,nam, 44 tuổi. Người bệnh mắc tăng huyết áp đã 3-4 năm, rồi mặt phù, lợm giọng, nôn mửa, bệnh viện chẩn đoán là viêm cầu thận mạn. Sau đó nhiều lần chữa thuốc đông tây, bệnh vẫn dai dẳng không dứt. Cách 1 năm, do mặt phù, lợm giọng, nôn mửa nặng thêm nên đến khám. Kiểm tra: dự trữ kiềm 44,3 dung tích %, đạm phi protit 123 mg%, K+14,7 mg%. 12 ngày sau đột nhiên hôn mê, tứ chi co giật, nôn ra chất màu cà phê, phân đen. Kiểm tra: dự trữ kiềm 36,6 dung tích %, đạm phi protit 206 mg%, K+20mg%. Na+230mg%, chẩn đoán là chứng tăng urê huyết, nhận vào viện. Kiểm tra: ngủ mê mệt, sắc mặt đen sạm, da toàn thân khô, mép và miệng có máu chảy rỉ ra, đồng tử to bằng nhau, còn phản ứng với ánh sáng, tim đập đều, tần số 84 lần/phút, vùng trước tim tiếng thổi độ I ở van 2 lá, không nghe thấy tiếng cọ sát màng tim, phổi (-), gan ở dưới bờ sườn 1,5cm, dưới mũi ức 3cm, chất không cứng. Lách không sờ thấy. Huyết áp 140/110mmHg, albumin niệu (+), hồng cầu (+), có ít bạch cầu. Ngón tay có khi co giật ngắt đoạn. Đại tiểu tiện đều không đi được. Lưỡi khô, bệu, rêu vàng đen, miệng hôi, mạch tế, trầm, huyền. Chứng này là âm dương đều kiệt, khí huyết đều suy, chính khí thiếu thốn, trọc tà dấy lên, che ngăn thanh không, xâm vào quyết âm. Trị bệnh phải một mặt phù chính, ích khí sinh tân và bổ âm dương, cho dùng Nhân sâm, Phong hộc làm trà uống, lại uống thêm Kim quĩ thận khí hoàn, mặt khác phải khử tà, bên trong dùng bài thuốc sắc ghi ở trên để phân thanh hóa trọc, lại dùng bài quý dương nghiệm phương: Bội lan, Xuyên liên, Xương bồ, Viễn chí, Trúc nhự, Thái tử sâm, Đại giả thạch (nung), Sinh địa. Bên ngoài dùng thuốc thẩm phân màng bụng bài Giáng đạm thang sắc đặc 150ml hòa với Nguyên minh phấn để thụt giữ ở ruột, mỗi ngày 1 lần. Điều trị như thế trong 10 ngày, đạm phi protit giảm còn 123 mg%, điều trị sau 1 tháng giảm còn 42,5mg% thì cho ra viện.

Bàn luận: Qua theo dõi lâm sàng, dùng Giang đạm thang thụt giữ ở ruột quả có thể làm giảm bệnh, giảm đạm phi protit ứ đọng trong máu. Phối hợp với các phương pháp khác để chữa chứng tăng urê huyết thì có thể thu được hiệu quả tương đối tốt.


154. Viêm bể thận

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt nội uẩn, trút xuống bàng quang, mất chức năng khí hóa, thủy đạo bất lợi.

Cách trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, lợi niệu, thông lâm.

Đơn thuốc: Ngân bồ tiêu độc ẩm.

Công thức: Bồ công anh 30-40g, Kim ngân hoa 15-30g, Lục nhất tán 12g, Đan sâm 12g, Hương phụ 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu kèm theo chứng sợ rét sốt nóng thì thêm Tang diệp 9g, Bạc hà 9g, nếu nước tiểu đỏ thì thêm Tiểu kế 12g, Ngẫu tiết 12g. nếu bệnh lâu ngày cơ thể hư nhược thì thêm Đương quy 12g, Đảng sâm 12g.

Hiệu quả lâm sàng: Ứng dụng bài Ngân bồ tiêu độc ẩm, có gia giảm tùy từng bệnh nhân, đã chữa cho 36 trường hợp viêm bể thận cấp tính, mạn tính, kết quả khỏi hẳn 30 trường hợp, chuyển biến tốt 3 trường hợp, vô hiệu quả 3 trường hợp. Lý XX, nữ, 39 tuổi, công nhân. Khám lần đầu ngày 23-4-1972. Lâm sàng chẩn đoán viêm bể thận mạn đã 1 năm rưỡi, 10 ngày trước đây lại thấy bệnh nhân nặng lên tiểu tiện đau, nóng, dầm dề không ngớt, lưng đau, miệng khát, chất lưỡi đỏ, mạch hoạt sác. Xét nghiệm nước tiểu: albumin (++), hồng cầu, bạch cầu đều tăng. Đây là chứng thấp nhiệt tà độc, nội kết bàng quang mất chức năng khí hóa thủy đạo bất lợi. Chữa nó phải thanh nhiệt lợi thấp, lợi niệu thông lâm. Cho dùng bài Ngân hồ tiêu độc ẩm thêm Hoàng bá 9g, Thạch vi 12gm, Biển súc 12g, uống 10 thang thì tiểu tiện thông các chứng bệnh đều giảm, chỉ còn đau mỏi thắt lưng bên phải, đầu váng, chân tay mềm yếu, bụng đầy kém ăn. Lưỡi chuyển màu hồng nhạt, mạch tế sác. Đó là tà còn sót lại chưa hết, tì thận dương hư. Lấy bài thuốc trên bỏ Thạch vi, Biển súc, thêm Tang kí sinh 9g, Câu kỉ 9g, Tật lê 9g, Tiêu tam tiên 9g. Uống hết 5 thang, xét nghiệm nước tiểu bình thường, các chứng đều hết, bệnh khỏi.

Bàn luận: Trong bài thuốc này, vị Bồ công anh theo sách Bản thảo bị yếu coi là "thông lâm diệu phẩm"; Ngân hoa thanh nhiệt; Lục nhất tán lợi thủy thông lâm; thấp nhiệt ẩn náu trong bị tiêu trừ, thông thoát đường thủy đạo hạ tiêu, bệnh tất khỏi.


155. Viêm bể thận mạn

Biện chứng đông y: Bàng quang thấp nhiệt uẩn kết, thủy đạo bất lợi, lâu ngày thương tổn đến thận âm.

Cách trị: Thanh nhiệt lợi thủy, tư thận dưỡng âm.

Đơn thuốc: Ngân kiều thạch hộc thang.

Công thức: Kim ngân hoa 10g, Liên kiều 10g, Sinh địa, Thục địa mỗi thứ 10g, Phấn đan 6g, Hoài sơn được 10g, Vân phục linh 10g, Xuyên thạch hộc 10g (cho vào trước), Trạch tả 10g, Cam thảo 5g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lương XX, nữ, 26 tuổi, bệnh nhân kể: bị đau lưng kèm đái buốt dai dẳng đã hơn 1 năm. Một năm lại đây, lưng đau mỏi, lạnh lưng, xét nghiệm nước tiểu thấy bạch cầu tăng lên. Nhiều lần đi đái buốt, nhưng không đái dắt. Đã dùng nhiều loại thuốc tây, nhưng bệnh không giảm. Một tuần lại đây, lưng lại đau dữ. Kiểm tra: vùng thận phải gõ đau, dương tính, điểm ấn đau ở phía trên đoạn giữa ống dẫn niệu, dương tính. Khi ngồi không sờ

thấy 2 thận. Nuôi cấy nước tiểu đoạn giữa: có mọc khuẩn Staphylococcus albus, đếm có trên 10 vạn/ml. Chất lưỡi hơi đỏ, rêu mỏng, mạch tế huyền. Chẩn đoán lâm sàng là viêm bể thận mạn tính. Cho dùng Ngân kiều thạch lộc thang; uống 7 thang, các chứng bệnh tiêu tan, cấy lại nước tiểu chuyển âm tính. Cho uống thêm 7 thang nữa để củng cố. Về sau 2 lần cấy lại nước tiểu, đều âm tính.


156. Sỏi tiết niệu

Biện chứng đông y: Thận hư, thấp nhiệt uẩn kết.

Cách trị: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm chỉ thống.

Đơn thuốc: Tang căn tam kim nhị thạch thang.

Công thức: Tang thu căn (Tang chi cũng được) 30g, Kim tiền thảo 30g, Hải kim sa 30g, Kê nội kim 10g (rang cát tán nhỏ, chia ra uống), Hoạt thạch 30g, Thạch vi 15g, Vương bất lưu hành 9g, Ngưu đằng 9g, Tì giải 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang chia làm 3 lần. Nếu tích nước bể thận thì thêm Bạch giới tử (sao), Lai phục tử (sao) mỗi thứ 15g.

Hiệu quả lâm sàng: Giang XX, nam, cán bộ. Tháng 9-1977, đang đi công tác đột nhiên bị đau lưng, cứ hơi ngửa lên cúi xuống là xương sống đau như gẫy, không chịu nổi. Mọi hoạt động bị hạn chế. Nước tiểu vàng đỏ, có máu rõ ràng. Uống thuốc, tiêm thuốc đều không đỡ, lập tức đưa về điều trị. Bệnh nhân vẻ đau đớn, mặt trắng bệch, mồ hôi vã ra. Kể rằng lưng đau từng cơn đau lan xuống bụng dưới, cơn đau lan xuống bẹn. Xét nghiệm nước tiểu: albumin (+), hồng cầu (+++), bạch cầu 6-9. Rêu lưỡi vàng, dày, bẩn, mạch trầm, huyền, có lực. Chụp phim chuẩn đoán là sỏi thận phải. Bệnh nhân xin uống thuốc đông y. Bèn cho uống liền 5 thang bài thuốc trên. Sau đó bênh nhân lại đến, mừng rỡ kể rằng: buổi sáng đi tiểu, bỗng thấy bị tắc, dòng nước tiểu bị ngắt, đau nhói không chịu được, đường niệu như có vật gì kẹt lại. Bèn lấy sức rặn mạnh, viên sỏi to bằng hạt đỗ tương theo nước tiểu bắn ra, chợt cảm thấy khắp người nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng. Lưng dần dần hết đau. Đi chụp phim X quang, hai thận và niệu quản không còn thấy bóng của sỏi. Bèn cấp cho thuốc bổ thận kiện tì trừ thấp để củng cố. Sau nửa năm hỏi lại, lưng không còn đau tái phát, xét nghiệm nước tiểu hoàn toàn bình thường. Nghe tin Giang XX bị sỏi đường niệu nhờ đông y mà thải được. Trần XX cũng đến yêu cầu chữa đông y. Ông này từng đi khám chẩn bệnh là sỏi niệu đạo trái kèm theo nước ứ bể thận trái. Dùng bài thuốc trên, bỏ Tì giải, thêm Bạch giới tử (sao) Lại phục tử (sao) đối với chứng ứ nước bể thận, uống liền 8 thang, trước sau đi tiểu ra 4 hạt sỏi to bằng hạt đỗ xanh. Các chứng lâm sàng đều cơ bản tiêu tan.

Bàn luận: Sỏi là một trong những bệnh thường gặp ở hệ tiết niệu. Sỏi phần nhiều bắt nguồn từ thận và bàng quang. Sỏi này chỉ có thể mổ lấy ra hoặc tự thải ra chứ rất khó hòa tan, vì vậy dễ tạo thành tắc đường niệu hoặc nhiễm khuẩn, nếu không kịp thời xử lý thì bể thận bị ứ nước, rồi chứng tăng urê huyết sẽ tới rất nguy hiểm. Mấy năm nay, chữa sỏi tiết niệu theo phương pháp kết hợp đông tây y, tức là tây y chẩn đoán rõ ràng chính xác (bao gồm kích thước, hình dáng, số lượng hạt sỏi, chức năng của thận tốt hay xấu, có nhiễm khuẩn không) rồi cho dùng bài thuôcỳ thải sỏi thích hợp để thải sỏi ra một cách kết quả, giải trừ đau đớn cho bệnh nhân. Qua những tư liệu tích luỹ được, việc thải sỏi quyết định bởi vị trí, kích thước và độ nhẵn của viên sỏi. Nếu các điều kiện trên thuận lợi, lấy bài thuốc trên làm chính, có gia giảm thêm thì hiệu quả thu được khá tốt. Nói chung sau khi uống thuốc, viên sỏi đều thải được ra ngoài.


157. Sỏi bàng quang

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt, ứ trở, hư nhược.

Cách trị: Lợi thấp hóa ứ, kết thông trở, bổ thận ích khí.

Đơn thuốc: Niệu lộ kết thạch thang.

Công thức: Hải kim sa 15g, Kim tiền thảo 15g, Xa tiền tử 10g, Mộc thông 6g, Bạch vân linh 10g, Thanh, Trần bì mỗi thứ 10g, Hoạt thạch 12g, Hổ phách mạt 3g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu nhiệt nặng thêm Đại hoàng, Sơn chi, Cam thảo sao. Nếu thấp nặng thêm Trư linh, Dĩ nhân; nếu đau kịch liệt thêm Nguyên hồ sách, Tiểu hồi hương, Xích thược, Nga truật; nếu khí hư thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược; nếu đái ra máu thêm Bồ hoàng, Đại tiểu kế; thận hư thêm Tang kí sinh, Xuyên đoạn, Thỏ ti tử, Nhục quế, Phụ phiến.

Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nam, 43 tuổi, công nhân nông trường. Tới khám ngày 2-5- 1974. Mắc bệnh đã 2 năm, đau hai bên bụng dưới, lan ra lưng, đau nhói như kim châm, lúc phát lúc không, đi tiểu bị đứt đoạn, khi đi tiểu, đau dương vật, mót giải, đôi khi đái máu. Ăn không ngon, thân thể nặng nề, gầy yếu. Miệng khát, không uống được nhiều. Rêu lưỡi bẩn, mạch hoãn, mạch trái hơi trầm. Kiểm tra nước tiểu (-). Chụp X quang, xác định sỏi bàng quang, ở vùng bàng quang có thể thấy bóng viên sỏi đường kính vài centimet. Chứng này là thấp trọng ứ trệ, chữa nó phải hóa thấp hành khí chỉ thống thông lâm. Cho uống 7 thang bài thuốc trên có giảm. Khám lại: đau bụng dưới hơi giảm, đi tiểu còn có lúc đau, thân thể gầy yếu, rêu lưỡi và mạch vẫn như cũ. Lại theo bài thuốc cũ có gia giảm, cho uống 7 thang. Tổng cộng dùng 1 thang. Chụp X quang kiểm tra sỏi đã bị tống thải ra hết.


158. Sỏi niệu quản

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt uẩn kết.

Cách trị: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm trục thạch.

Đơn thuốc: Trục thạch thang.

Công thức: Kim tiền thảo 30g, Hải kim sa đằng 18g, Bạch thược 10g, Sinh địa 12g, Kê nội kim 6g, Hổ phách mạt 3g, (chiêu uống với nước thuốc), Quảng mộc hương 4,5g (cho vào sau), Tiểu cam thảo 4,5g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần.

Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nữ, 33 tuổi, cán bộ, tới khám ngày 14-1-1976. Từ ngày 29-12- 1975 do bị đau lưng, đi đái dắt, mót đái, đái đau nên tới bệnh viện chụp X quang vùng bụng, ảnh cho thấy hình thận trái dường như hơi to. Ngang ụ ngồi trái trong tiểu khung có một đám mờ to bằng hạt lạc, bên cạnh lại có đám mờ nhỏ bằng nửa hạt gạo. Chẩn đoán là sỏi ở đoạn dưới niệu quản trái, kèm theo ứ nước ở bể thận trái. Bệnh nhân sợ mổ nên yêu cầu chữa bằng đông y. Lưỡi đỏ, rêu mỏng hơi vàng mạch huyền tế, hơi sác. Cho uống 6 thang "Trục thạch thang". Hết đau lưng, nhưng thỉnh thỏang cảm thấy đau trong thời gian rất ngắn. Mấy ngày nay cảm thấy chỗ đau chuyển xuống dưới. Mỗi lần đi tiểu xong thấy đau ở lỗ đái. Lưỡi vẫn như trước. Mạch huyền thốn nhược. Giữ nguyên bài thuốc, cho uống tiếp 14 thang, thì đái ra 2 viên sỏi, 1 viên bằng hạt lạc, 1 viên bằng nửa hạt gạo, hoàn toàn phù hợp với ảnh X quang. Ngoài ra còn đái ra một số chất như cát mịn. Sau đó bệnh cơ bản tiêu tan. Khuyên bệnh nhân uống bài thuốc lợi thủy thông lâm gồm: Trân châu thảo 12g, Tiểu diệp phong vĩ thảo 12g, Tiểu sinh địa 12g, Tiểu cam thảo 4,5g, Kim tiền thảo18g, Quảng mộc hương 3g (cho sau), lại uống mấy thang để củng cố.


159. Sỏi niệu quản

Biện chứng đông y: Hạ tiêu thấp nhiệt.

Cách trị: Thanh nhiệt tiêu thạch, lợi thủy thông lâm.

Đơn thuốc: Bài thạch thang.

Công thức: Kim tiền thảo 30g, Kê nội kim (sống) 15g, Biển xúc 15g, Cù mạch 15g, Hoạt thạch 30g, Xa tiền tử 15g, Mộc thông 6g, Đông quy tử 30g, Lưu hành tử 18g, Ngưu tất 10g, Bạch mao căn 30g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Dùng bài thuốc trên chữa đường tiết niệu nói chung không cần gia giảm, đặc biệt đối với bệnh thành cơn, cấp tính thì hiệu quả càng tốt. Liệu trình thường là 30 ngày. Tổng kết trong 100 trường hợp thì tỉ lệ thải được sỏi ra ngoài là 56%, làm tan sỏi 4%.


160. Sỏi niệu quản

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt hạ chú.

Cách trị: Tiêu thạch thông lâm, hành khí hóa ứ, thanh lợi thấp nhiệt.

Đơn thuốc: Niệu lộ bài thạch thang số 2.

Công thức: Kim tiền thảo 30g, Thạch vi 30g, Xa tiền tử 24g, Mộc thông 10g, Cù mạch 15g, Biển xúc 24g, Chi tử 20g, Đại hoàng 12g, Hoạt thạch 15g, Cam thảo sao 10g, Ngưu tất 15g, Chỉ xác 10g. Mỗi ngày 1 thang chia sắc làm 2 lần, một lần uống hết. Trong thời gian uống thuốc cố gắng uống nhiều nước, hoạt động nhiều, phối hợp gián đoạn với Tổng công kích liệu pháp. Phương pháp tổng công kích liệu pháp như sau: 8g30 uống 500ml nước, uống 75mg dihydroclorothiazid; 8g45 uống 1 thang "Niệu lộ bài thạch thang" số 2; 9g00 uống 500ml nước; 9g30 uống 500ml nước, tiêm bắp 1mg atropin 9g35 điện châm: huyện Chiếu hài (-), Tam âm giao (+), kích thích tương đối mạnh, sóng điện ngắt quãng, lưu kim 25 phút , 10 giờ xuống giường hoạt động.

Hiệu quả lâm sàng: Ứng dụng bài thuốc trên phối hợp với tổng công kích liệu pháp để điều trị 400 trường hợp sỏi niệu quản, trong đó thải ra sỏi có 240 trường hợp (60%), sỏi di chuyển xuống dưới 69 trường hợp (17,3%). Cộng tỉ lệ kết quả 77,3%. Trung bình thời gian điều trị là 19,2 ngày.

Bàn luận: Cần nắm vững bài thuốc thải sỏi trên thích ứng với các chứng sau: 1. Sỏi có đường kính ngang nhỏ hơn 1cm, đường kính dài nhỏ hơn 2cm, 2. Hệ tiết niệu không có dị dạng về giải phẫu và những biến đổi bệnh lý, 3. Chức năng thận bên bệnh còn tốt.


161. Sỏi thận và ứ nước bể thận

Biện chứng đông y: Thận khí hư tổn.

Cách trị: Ổn thận hành thủy.

Đơn thuốc: Phụ kim thang.

Công thức: Thục phụ tử 12g, Kim tiền thảo 30g, Trạch tả 10g, Thục hoàng địa 20g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lưu XX, nam, 46 tuổi, nhân viên, khám lần đầu ngày 15-6-1977. Bị sỏi thận phải đã hơn 1 năm, uống thuốc thải sỏi và phối hợp "tổng công kích" nhiều lần không kết quả. Vì bị ứ nước nhẹ, bệnh viện khuyên nên mổ, nhưng bệnh nhân yêu cầu dùng đông y. Đầu váng, mắt hoa, mặt phù, lưng bên phải nặng, bụng dưới và 2 chân lạnh, nước tiểu đục, đêm đi tiểu nhiều. Môi lưỡi trắng nhợt, mạch phù, hư mà trì. Chẩn đoán lâm sàng là sỏi thận và ứ nước bể thận. Sau khi uống 20 thang "Phụ kim thang", thể lực dần dần hồi phục. Tháng 9 năm ấy chụp phim kiểm tra thấy sỏi đã di chuyển xuống đoạn trên của niệu quản. Lúc ấy bụng dưới bị đau, trướng và nặng, tiểu tiện không lợi. Dùng bài thuốc cũ, thêm Đông qui tử 12g, Nhục quế 3g. Uống liền 25 thang cuối cùng thải ra 1 viên sỏi cỡ 0,9 x 1,4cm. Chụp phim không còn thấy sỏi. Các chứng đều đã hết.

Bàn luận: Chữa bệnh sỏi thận sao thêm ôn nhiệt? Kha Vân Bá nói rằng:" Trong thận có hỏa thì mới có thể trị thủy được", ứ bể nước do sỏi gắn đọng phần nhiều thuộc dương hư. Ôn vận thận dương là phép trị bệnh tốt, đặc biệt là đối với bệnh dương hư lâu ngày, có khả năng chịu được lượng Phụ tử nhiều hơn người bình thường. Xuất hiện cảm giác lạnh 2 chân là biểu hiện thận dương hư, đó là chứng có thể dùng Phụ phiến. Đau lưng đái ra máu, mủ mà dùng Phụ, Quế là vị thuốc tân, cam đại nhiệt thì dường như khó giải thích. Nhưng cần biết đau lưng, đái ra máu mủ là các chứng bệnh của sỏi. Căn cứ vào chỗ bụng dưới lạnh đau, thích nóng, thích xoa nắn, thì Kim tiền thảo thạch thông lâm, lại được đại nhiệt của Phụ tử, như vậy tính hãm tiêu tan mà giữ lại được tính thông lợi, một bên hàn một bên nhiệt, một đằng thông một đằng tắc, thăng giáng cùng tác dụng, chúng trợ giúp lẫn nhau để đạt kết quả. Dùng các vị khổ, cam hàn như Kim tiền thảo, Đông qui tử, thêm Nhục quế để trợ lực cho Phụ tử. Khí hóa hành, nhiệt giải tà xuất, đó là cái vững của sự không vững, sự thông của cái không thông. Thông dương không phải là ở chỗ thông lợi mà là do ôn, thận dương mà phấn chấn thì tinh ẩn sẽ dấu sẽ phục chính, cho nên chủ ý không phải là chữa đau, lạnh bụng dưới mà quan trọng là ở chỗ khôi phục chức năng của thận, do vậy mà sỏi bị đẩy xuống.


162. Bí đái

Biện chứng đông y: Thận dương hư, Bàng quang khí hóa thất thường.

Cách trị: Ổn thận thông dương, hóa khí hành thủy.

Đơn thuốc: Ngũ linh tán và Sâm phụ thang gia vị.

Công thức: Quế chi 10g, Phục linh 15g, Bạch truật 10g, Trạch tả 10g, Trư linh 10g, Đảng sâm 15g, Phụ tử 10g, Ô dược 12g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nữ, 69 tuổi, nội trợ. Khám lần đầu ngày 8-4-1980. Người bệnh kể, tiêu tiện không thông đã 12 ngày. Trước khi tới khám đã nằm điều trị năm ngày ở trạm xá địa phương. Đã thông đái, dùng neostignin, châm cứu, uống thuốc Bổ trung ích khí thang, kết quả không rõ, vẫn phải thông đái, bỏ thông đái lại bí như cũ. Nên 10 giờ tối ngày 7-4-1980 đến khám. Đã kiểm tra Nội khoa, Ngoại khoa, X quang đều không phát hiện điều gì khác thường, nên ngày 8-4 chuyển sang chữa đông y. Người bệnh tiểu tiện không thông, bụng dưới trướng nặng, lưng mỏi, sắc mặt vàng võ, tinh thần mệt mỏi, yếu ớt, tứ chi tê dại, không ấm, đầu váng, hơi thở ngắn, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch tế nhược. Căn cứ vào chứng và mạch thấy đây là chứng thận dương hư, bàng quang khí hóa thất thường. Phải trị bằng ôn thận thông dương hóa khí hành thủy. Bèn cho dùng "Ngũ linh tán và Sâm phụ thang gia vị". Khám lần 2 ngày 12-4; Sau khi uống 2 thang thì rút ống thông đái, uống hết 3 thang đến 5 giờ chiều ngày11 thì tự đi tiểu được 1 lần ra khoảng 400 ml, đến tối số lần đi tiểu tăng lên dần, cứ khoảng 7-8 hoặc 10 phút lại đi 1 lần, lượng nước tiểu không nhiều, cả đêm không ngủ, đến sáng hôm sau đi tất cả khoảng 30-40 lần. Bệnh nhân mệt vô cùng, đã hết chứng bệnh, lưỡi chuyển hồng nhạt, mạch vẫn tế nhược. Cho bệnh nhân ra viện dặn uống thêm 3 thang nữa. Ngày 18 tháng 4 con bệnh nhân đến cho biết mỗi ngày đi tiểu 6-7 lần, không có khó chịu nữa, tinh thần và thể lực đã khôi phục, đã làm được công việc nội trợ bình thường. Cho uống Kim thận khí hoàn 3 ngày để củng cố thêm.


163. Bí đái

Biện chứng đông y: Tà nhiệt ngụ ở hạ tiêu, thận quan không làm chức năng đóng mở, bàng quang khí hóa vô lực.

Cách trị: Ôn dưỡng thiếu hỏa, thăng thanh, giáng trọc.

Đơn thuốc: Gia vị thông quan hoàn (thang).

Công thức: Tri mẫu 10, Hoàng bá 10g, Nhục quế 10g, Thục phụ phiến 10g, Chỉ xác 10g, Thăng ma 4,5g. Sắc uống.

Hiệu quả lâm sàng: La XX, 38 tuổi, xã viên. Bệnh nhân viêm phổi, sốt cao hôn mê, bí đái mà vào viện. Bệnh viện dùng các thuốc kháng sinh kết hợp với hormon, đồng thời thông đái, đến ngày thứ tư thì hạ sốt, thần trí tỉnh táo. Tuy khỏi viêm phổi rồi vẫn chưa hết bí đái, dùng thuốc tây.... nhiều lần không khỏi, cần phải đặt ống thông liền 2 tuần. Vì sức yếu, nằm lâu, mông bị loét. Sau đó lại châm cứu và đắp ống gạo vào rốn vẫn không hết bí đái. Cho uống "Gia vị thông quan hoàn". Uống xong bệnh nhân thấy nhu động ruột tăng, sau 1 giờ thì tiểu tiện thông lợi.

Bàn luận: "Gia vị thông quan hoàn" bắt nguồn từ bài "Thông quan hoàn" (còn có tên Tư thận hoàn, trong sách "Lam thất bí tàng" của Lý Đông Viên. Bài này có 3 vị Tri mẫu, Hoàng bá, Nhục quế chủ trị nhiệt ở phần huyết của hạ tiêu, bệnh nhân bí tiểu tiện. Lấy cái khổ hàn của Tri bá mà tả hạ tiêu lại dùng 1 lượng nhỏ Nhục quế để giúp khí hóa do đó mà đạt được tác dụng thông lợi tiểu tiện. Bài này tăng lượng Nhục quế phối ngũ với Phụ tử, nhằm ôn dưỡng thiếu hỏa, lấy thiếu hỏa để sinh khí. Lại dùng thêm Chỉ xác, Thăng ma nhằm làm cho thanh dương thăng mạnh, trọc âm tụ giáng xuống do đó mà tiểu tiện thông lợi.


164. U tuyến tiền liệt kèm bí đái

Biện chứng đông y: Tì thận đều hư.

Cách trị: Ích khí kiện tì, ôn thận bổ dương, sáp lợi đồng dụng.

Đơn thuốc: Lão nhân long bế thang.

Công thức: Đảng sâm 24g, Hoàng kỳ 30g, Phục linh 12g, Bạch quả 9g, Tì giải 12g, Xa tiền 15g, Vương bất lưu hành 12g, Ngô thù du 5g, Nhục quế 6g, Thục địa 30g, Nhục thung dung15g, Cam thảo tiền 10g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Nhiễm khuẩn do thông đái, tiểu tiện đau nóng thì thêm Ngân hoa 30g, Thổ phục linh 30g, tiểu tiện có lẫn máu thì thêm Địa du thán 30g, toàn thân phù thũng thì thêm Trần bì, Đại phúc bì, Thông thảo, mỗi thứ 10g, người uống thuốc mà ăn uống giảm đi thì thêm Trần bì 10g, Sa nhân 9g.

Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi 65 ca, chữa khỏi 40 ca, chuyển biến tốt 11 ca; vô hiệu 6 ca, chuyển sang mổ 3 ca, ghi chép không rõ 5 ca. Trong số các ca khỏi có 4 ca tái phát, lại dùng bài trên điều trị vẫn có công hiệu. Người dùng ít nhất 2 thang, nhiều nhất 30 thang, bình quân trên dưới 10 thang, trong đó có 12 ca dùng từ 2 đến 5 thang, 15 ca 6-8 thang, 27 ca 10-19 thang, 3 ca 20-30 thang.


165. U tuyến tiền liệt kèm bí đái

Biện chứng đông y: Âm hư nhiệt náu ở hạ tiêu, bàng quang khí hóa bất lợi.

Cách trị: Tư âm giáng hỏa, hóa khí lợi thủy.

Đơn thuốc: Tư thận thông quan thang.

Công thức: Tri mẫu 18g, Hoàng bá 18g, Nhục quế 3g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, 65 tuổi. Người bệnh thân thể hư nhược, thấy tiểu tiện khó đã hơn 1 tháng. Sau khi kiểm tra ở bệnh viện đã chẩn đoán là u tuyến tiền liệt. Tuần lễ gần đây đái ít mà khó ra, như muốn đái song chỉ nhỏ từng giọt, bụng dưới đầy muốn xệ xuống, khó chịu, đầu váng tai ù, lưng khớp đau rũ, miệng khô họng ráo, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác. Đây là âm hư nhiệt náu ở hạ tiêu, bàng quang khí hóa bất lợi. Nên trị bằng phép tư âm giáng hỏa, hóa khí thủy lợi. Cho dùng "Tư thận thông quan thang". Uống được 3 ngày thì tự mình đi đái dễ dàng. Dặn sau đó uống Tri bá địa hoàng hoàn (bán ở trên thị trường) để có kết quả lâu dài.

Bàn luận: U tuyến tiền liệt kèm bí đái là bệnh thường thấy ở người già. Dùng "Tư thận thông quan thang" rất có thể nhanh chóng chữa khỏi chứng này, sau đó lại cho Tri bá địa hoàng hoàn để củng cố hiệu lực. Trên lâm sàng cho thấy phương pháp này đơn giản, có hiệu quả.


166. U tuyến tiền liệt kèm bí đái

Biện chứng đông y: Cả khí lẫn âm đều khuyết, bàng quang không khí gây tắc đái.

Cách trị: Bổ mạnh trung khí, tư thận thông quan.

Đơn thuốc: Hoàng kỳ cam thảo thang, kết hợp với Tư thận thông quan hoàn.

Công thức: Hoàng kỳ 30g, Cam thảo 10g, Nhục quế 6g, Hoàng bá 6g, Tri mẫu 6g. Mỗi ngày 1 thang, sắc chia 2 lần uống.


167.Viêm tuyến tiền liệt mạn

Biện chứng đông y: Tì thận khí hư, bàng quang không khí hóa được, thấp ẩn náu ở hạ tiêu.

Cách trị: Cố tì thận, lợi bàng quang, hóa thấp trọc.

Đơn thuốc: Gia vị bàng quang hóa trọc thang.

Công thức: Bắc hoàng kỳ 18g, Đảng sâm 15g, Tang phiêu tiêu 9g, Đan sâm 12g, Nữ trinh tử 15g, Thổ ti tử 12g, Tiểu hồi 4.5g, Đại ô dược 9g, Trạch tả 12g, Xa tiền tử 9g, Lưỡng đầu tiêm 9g, Vương bất lưu hành (tiết lệ quả) 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Giao X, nam, 58 tuổi, cán bộ, sơ chẩn ngày 25-4-197. Từ tháng 10 năm 1974 bệnh nhân đã đi đái vặt, đái gấp, đái đau, có cảm giác căng đau, ngắt quãng ở bụng dưới, ở tầng sinh môn, ở thắt lưng cùng, ở háng, đôi lúc có rét run, sốt. Đã kiểm tra ở bệnh viện thấy hồng cầu trong nước tiểu (+) bạch cầu (+)trong dịch tuyến tiền liệt có ít bạch cầu, một ít tiểu thể lecithin, nuôi cấy có mọc Staphylococcus albus. Chẩn đoán là viêm tuyến tiền liệt mạn, dùng thuốc tây phối hợp với điện trị liệu 2 tháng, bệnh hơi giảm nhưng vẫn thường phát lại. Sau khi dùng 120 thang thuốc đông dược vẫn chưa thấy có hiệu quả rõ. Khi đến khám vẫn đái vặt mà tắc, có lúc xón, niệu đạo thì cảm giác đau buốt, hai bên bụng dưới đau chướng, tầng sinh môn khó chịu, nhiều lúc đầu váng nhức (có cao huyết áp) rìa lưỡi có hàn răng, rêu lưỡi trắng dày. Đây là chứng tì thận khi hư, phải trị bằng cách cố tì thận, lợi bàng quang, hóa thấp trọc. Cho "Gia vị bàng quang hóa trọc thang". Uống được 3 thang thì nước tiểu đỡ đục hơn, đái thông hơn, bụng dưới đỡ đau chướng. Tiếp tục uống 10 thang nữa, các chứng không ngừng cải thiện, bụng dưới và tầng sinh môn đỡ khó chịu nhiều, tiểu tiện thông lợi, đại tiện bình thường, tinh thần và ăn uống đều tốt. Lại cứ theo bài trên uống mấy thang nữa để củng cố thêm hiệu quả.

Bàn luận: Viêm tuyến tiền liệt mạn là một bệnh thường thấy ở người già. Một số người mắc bệnh lâu ngày lại dùng nhiều thuốc danh lợi đến nỗi gây tì thận khí hư, khí hóa của bàng quang không tiến hành được, đái vặt mà không thông, thấp nhiệt đọng lại, khí cơ không mở được, không thông ắt đau làm cho thắt lưng cùng, bụng dưới và tầng sinh môn đau đơn khó chịu. Ca này dùng "gia vị bàng quang hóa trọc thang", trong bài có Thỏ ti tử, Nữ trinh tử, Tang phiêu diêu để cố thận, Hoàng kỳ Đan sâm để bổ khí, Tiểu hồi hương, Đại ô dược để hành khí hóa thấp, Đan sâm, Lưỡng đầu tiêm, Vương bất lưu hành để hoạt huyết tán kết, Trạch tả, Xa tiền tử để lợi liệu thông lọc, các vị thuốc này cùng hợp lực, uống liên tục làm cho bệnh mau khỏi hơn.


168. Đái không kìm được

Biện chứng đông y: Thận khí bất túc, thận dương suy vi, bàng quang thất ước.

Cách trị: Bổ ích thận khí, ôn bổ thận dương.

Đơn thuốc: Củng đề thang gia giảm.

Công thức: Bổ cốt chỉ 20g, Cữu tử 15g, Thỏ ti tử 20g, Bạch truật 15g, Phục linh 15g, Phụ tử 15g, Quế chi 10g, Ba kích 20g, Đảng sâm 15g, Thục địa 20g, ích trí nhân 10g, Sa nhân 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Hầu XX, nữ, 73 tuổi, sơ chẩn ngày 16-10-1977. Kể tiểu tiện không kìm được đã 4 năm. Trước đó 4 năm bệnh nhân đi đái vặt không rõ nguyên nhân, nước tiểu trong, lưng đau, đùi yếu, ho nhiều thở ngắn, toàn thân mệt mỏi, tay chân lạnh, sợ rét, sau đó bệnh tình tăng dần, tiểu tiện không kìm được, có nước tiểu là rỉ không kể ngày hay đêm, ba năm nay chưa từng vào nhà vệ sinh đi tiểu, rất khổ sở. Khám thấy mặt trắng bệch, ủ rũ, nói yếu, lưỡi nhạt rêu trắng mỏng, mạch trầm nhược, hai mạch xích càng nhược. Đây là thận khí bất túc, thận dương suy vi, bàng quang không chế ước được, phải trị bằng phép bổ ích thận khí, ôn bổ thận dương. Dùng bài "Củng đề thang gia giảm". Uống được 5 thang, bệnh tình cải thiện rõ rệt. Uống tiếp bài trên gia giảm, tất cả 16 thang thì khỏi bệnh.

Bàn luận: Thận là gốc của tiên thiên, là nguồn sinh đẻ phát dục của con người có quan hệ mật thiết với các tổ chức phủ tạng khác. Thận với bàng quang có quan hệ biểu lý với nhau, sự đóng mở của bàng quang do thận quản lý, dựa vào sự khí hóa của thận cho nên nói là "thận tư nhị tiện", vậy. Chỉ cần thận khí đầy đủ chức năng khí hóa bình thường thì bàng quang đóng mở bình thường, thận khí mà hư, khí hóa không tốt ắt bàng quang không chế ước được, cho nên tiểu tiện nhiều lần, thậm chí không kìm được. Khí là dương, nếu thận khí hư nhược, tất nhiên dẫn đến chỗ thận dương bất túc, cho nên sinh ra một loạt các biểu hiện hư hàn như ghê lạnh, mặt bệch, lưỡi nhạt, mạch trầm. Do đó có thể thấy bệnh này tuy ở bàng quang mà gốc lại ở thận. Trị bệnh phải dựa trên nguyên tắc tìm đến gốc do đó phải bổ ích thận khí, ôn bổ thận dương, thận khí khôi phục được, thận dương bổ được, thì chứng bàng quang thất ước tự khỏi. Trong bài thuốc có Cốt chỉ, Cữu tử. Thỏ ti tử, Ba kích, Thục địa đều là các thứ bổ thận, Đảng sâm, bạch truật, Phục linh để ích khí kiện tì, phù thổ chế thủy, Phụ tử, Quế chi ôn bổ thận dương, lại thêm Sa nhân để ngừa vị ngọt ngậy của các thuốc. Phép chữa và thuốc tương ứng với nhau làm các chứng đều tan, bệnh khỏi nhanh.


169. Đái không kìm được

Biện chứng đông y: Thận khí hư, bàng quang thất ước.

Cách trị: Bổ thận cố nhiếp

Đơn thuốc: Gia vị bổ trung ích khí thang.

Công thức: Hoàng kỳ 12g, ích trí nhân 9g, Sài hồ 4,5g, Đảng sâm 12g, Tang phiêu tiêu 9g, Trần bì 4,5g, Đương qui 9g, Phúc bồn tử 12g, Thăng ma 4,5g, Cam thảo 6g, Bạch truật 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trịnh XX, nữ, 30 tuổi, sơ chẩn ngày 20-12- 1971. Bệnh nhân mặt trắng bạch, không tự kiềm chế tiểu tiện được. Mạch yếu, rêu lưỡi mỏng. Sau khi khám cho dùng "Gia vị bổ trung ích khí thang". Uống liền 5 thang, sắc mặt người bệnh trở lại bình thường, các chứng giảm. Duy vẫn còn mạch yếu, rêu lưỡi mỏng. Bài thuốc trên có gia giảm uống thêm 5 thang để củng cố hiệu quả.

Bàn luận: Dùng bài thuốc Trung ích khí thang thêm Tang phiêu tiêu, Phúc bồn tử, ích trí nhân để bổ thận cố nhiếp nên kết quả nhanh chóng.


170. Đái dầm

Biện chứng đông y: Thận khí bất cố.

Cách trị: Bổ thận ích khí cố nhiếp.

Đơn thuốc: Gia vị tang phiêu tán (thang).

Công thức: Đảng sâm 15g, Tang phiêu tiêu 15g, Viễn chí 4,5g, Phục thần 15g, Ngũ vị tử 6g, Ô dược 6g, Sơn dược 12g, Thạch xương bồ 6g, Miết giáp 12g, Đương qui 9g, Thỏ ti tử 12g, ích trí nhân 15g, Bổ trung ích khí hoàn 30g (bao), Đoạn long cốt 12g, Đoạn mẫu lệ 12g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Cao X, 16 tuổi, sơ chẩn ngày 12-3-1973. Bệnh nhân từ nhỏ đã đái dầm, nay đã hơn 10 năm, rất khổ tâm, xin chẩn trị, chữa theo thận khí bất cố, dùng "Gia vị tang phiêu tán".

Uống liền 7 thang, khỏi hẳn đái dầm.


171. Đái máu (chưa rõ nguyên nhân)

Biện chứng đông y: Nhiệt ở hạ tiêu, tổn thương huyết lạc.

Cách trị: Thanh nhiệt tả hỏa chỉ huyết.

Đơn thuốc: Gia vị xích tiểu đậu đương qui tán (thang).

Công thức: Xích tiểu đậu 30-45g, Đương qui 9-12g, Mã xỉ hiện 30g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nữ, 26 tuổi đã có chồng, năm tháng nay liên tục xét nghiệm nước tiêu thấy hồng cầu (+) đến (+++), có lúc hơi có albumin. Lúc đầu qua xét nghiệm chẩn đoán là viêm bàng quang, lúc đó đau lưng và tiểu tiện nóng rát, sau đó các chứng trên đều hết nhưng soi kính thấy máu trong nước tiểu vẫn còn chưa hết. Chụp X quang vùng bụng, chụp tĩnh mạch bể thận, nuôi cấy nước tiểu, kiểm tra tìm được trực trùng kháng acid trong nước tiểu 24 giờ, tất cả đều không thấy gì khác thường. Đã 5 tháng, chạy chữa bằng nhiều thứ thuốc đông tây y chưa thấy kết quả. Đến chẩn trị, kiểm tra thấy trong nước tiểu albumin (-) có một ít bạch cầu, nhiều hồng cầu (+++), ngoài ra không có gì đặc biệt. Cho dùng "Gia vị xích tiểu đậu tương qui tán" (thang), uống được 6 thang, kiểm tra lại các xét nghiệm nước tiểu đã bình thường, Dặn bệnh nhân cứ theo bài trên tiếp tục uống 1 tháng nữa để củng cố. Đã nhiều lần xét nghiệm nước tiểu, trừ một vài lần ngẫu nhiên thấy 0-3 hồng cầu, tất cả đều tốt.


172. Đái máu (không rõ nguyên nhân)

Biện chứng đông y: Khí huyết đều suy, khí không thống huyết.

Cách trị: Bổ khí nhiếp huyết, dưỡng huyết chỉ huyết.

Đơn thuốc: Huyết lâm an dật thang.

Công thức: (Hồng) nhân sâm 6g, Bắc hoàng kỳ 15g, Toàn đương qui 10g, (Tỉnh) địa long 10g, Tiêm mao căn 15g, (Phấn) cam thảo 3g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Dịch XX, 72 tuổi, cán bộ hưu, sơ chẩn ngày 5-8-1963. Đã 7 năm bệnh nhân tiểu tiện có máu, tái phát mỗi năm 3-4 lần, mỗi lần khoảng 20-25 ngày, mỗi lần đều không rõ nguyên nhân. Mỗi lần như thế, tiểu tiện màu đỏ, rỏ giọt mãi khó hết. Đã chẩn trị ở bệnh viện, đã soi bàng quang và chụp ngược dòng, không tìm ra nguyên nhân đái máu, điều trị mãi không khỏi. Khám thấy mạch hư nhược, chất lưỡi nhạt bệu non, rêu trắng mỏng, sắc mặt không bóng. Đó là khí huyết đều suy, khí bất thông huyết, cần chữa bằng phép bổ khí nhiếp huyết dưỡng huyết chỉ huyết. Cho dùng "Huyết lâm an dật thang". Uống được 5 thang, hết đái máu, ăn được. Tuy vậy tinh thần còn kém, mạch và lưỡi vẫn như trước. Đổi dùng Bát chân thang thêm Hoàng kỳ, cho uống 20 thang, điều lý củng cố. Ba năm sau hỏi lại nói là sau khi dùng thuốc chưa tái phát.

Bàn luận: Bệnh nhân già quá tuổi bẩy chục, người hư nhược, khí huyết đều suy, khí chẳng thống huyết, cho nên đái ra máu không dừng, đến nỗi cả khí lẫn huyết đều suy cho dùng bài thuốc kinh nghiệm "Huyết lâm an dật thang", trong đó coi trọng Hồng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí huyết, phối hợp với Đương qui để dưỡng huyết hoạt huyết; Địa long, Mao căn để lương huyết chỉ huyết; Cam thảo để điều hòa các thuốc, như vậy chữa cả gốc lẫn ngọn và đã cầm được máu, sau lại dùng Bát trân thang gia vị, cùng bổ cả khí lẫn huyết để tốt về sau, làm cho bệnh lâu ngày cũng khỏi.


173. Đái máu dưỡng chấp (bệnh giun chỉ)

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt hạ trú.

Cách trị: Thanh nhiệt, thông lâm, kiện tì hóa trọc.

Đơn thuốc: Dưỡng trấp niệu thang.

Công thức: Tì giải 30g, Hải kim sa 30g, Vân linh 18g, Thạch vi 30g, Biển súc 15g, Bạch mao căn 30g, Hạn liên thảo 15g, Lục nhất tán 15g, Bạch truật 12g, Trư linh 12g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.


174. Sa thận (hai bên)

Biện chứng đông y: Trung tiêu hư hàn.

Cách trị: Ôn trung hành khí.

Đơn thuốc: Ôn trung hành khí thang.

Công thức: Nhục quế 5g, Can khương 10g, Đảng sâm 20g, Hoàng kỳ 20g, Cát căn 12g, Sài hồ 10g, Hoa binh lang 8g, Chỉ xác 12g, Cửu hương trùng 10g, Ngũ linh chi 6g, Kê nội kim 10g, Cam thảo 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Đồng thời có thể kết hợp trị bằng phép châm.

Hiệu quả lâm sàng: Cam X, nữ, 29 tuổi, công nhân, đến khám ngày 4/11/1977. Từ năm 1975 lại đây bụng trên đầy trướng khó chịu, vùng lưng căng thẳng, thân thể ngày một gày mòn. Đã kiểm tra bằng siêu âm phát hiện hai thận sa xuống, chẩn đoán là sa thận. Dùng bài "Ôn trung hành khí thang gia giảm" để trị. Đồng thời châm các huyệt Quan nguyên, Trung quản, Túc tam lý, mỗi ngày một lần. Điều trị hơn 20 ngày bệnh tình cải thiện, tinh thần chuyển biến tốt, đã kiểm tra siêu âm và chụp X quang, vị trí 2 thận đều khôi phục như thường, nửa năm sau hỏi lại, tình hình tốt.

Bàn luận: Dùng phép Ôn trung hành khí, sử dụng bài "Ôn trung hành khí thang" để điều trị sa dạ dày cũng có kết quả tương đối tốt. Ca bệnh trên ngoài hai thận sa, dạ dày cũng sa, dùng bài trên để trị đồng thời chứng sa dạ dày cũng chuyển biến tốt, dạ dày từ dưới đường nối hai mào chậu 14 cm kéo lên còn 2 cm, vùng dạ dày cảm thấy dễ chịu. Đã theo dõi 64 ca sa dạ dày, chữa khỏi 32 ca, có kết quả rõ rệt 20 ca, chuyển biến tốt 9 ca, vô hiệu 3 ca.

                                                     

175. Chứng không có tinh trùng

Biện chứng đông y: Thận khí tiên thiên hao tổn, tì khí hậu thiên không mạnh, can mất tác dụng thúc đẩy sự sinh sản làm cho tinh trùng không có.

Cách trị: Bổ ích tì thận bình can.

Đơn thuốc: Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị.

Công thức: Thục địa 50g, Sơn dược 10g, Đơn bì 10g, Trạch tả 10g, Phụ tử 10g, Sài hồ 10g, Bạch thược 10g, Câu kỉ 25g, Vân linh 15g, Bạch truật 15g, Nhân sâm 20g, Đương qui 30g, Cam thảo 5g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Triệu XX, nam, 30 tuổi, công nhân, kết hôn hơn 1 năm, vì vợ không có thai nên đi khám ở bệnh viện, kết quả phía vợ không bệnh tật gì. Xét nghiệm tinh dịch chồng thì không có tinh trùng, đã nhiều lần điều trị vẫn không chuyển biến gì. Có cảm giác đau lưng, hai đùi mỏi yếu, ngoài ra việc ăn uống đại tiểu tiện, ngủ đều bình thường. Vọng chẩn: dinh dưỡng khá, lưỡi đỏ ít rêu. Mạch chẩn: trầm tế mà hoãn. Xét nghiệm tinh dịch ước lượng 2 ml sắc trắng như sữa. Soi không thấy tinh trùng, nhiều lecithin.

Bàn luận: Tinh chất của sự ăn uống gọi là tinh của hậu thiên, thận là tiên thiên, tì là hậu thiên, tinh tiên thiên (sinh dục), được tinh của hậu thiên (ẩm thực) nuôi dưỡng thì mới có thể sản sinh ra tinh trùng liên tục, mà trong việc ăn uống dinh dưỡng của hậu thiên, thức ăn muốn biến thành chất dinh dưỡng, tinh phải dựa vào sự ôn dương của thận khí, thận khí có sung túc thì mới làm cho bệnh môn tướng hỏa chuyển được vào can đởm để có thể giúp cho sự tiêu hóa của tì vị, do dó bệnh này phải áp dụng phép bổ ích tì thận bình can. Dùng bài "Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị", sau khi uống hết 21 thang, khám tinh dịch thấy đặc dính như mầu xám, mỗi mm3 có khoảng 60 triệu tinh trùng. Uống tiếp bài này 15 thang nữa tinh trùng tăng lên tới 70 triệu, 80% có sức hoạt động. Năm sau vợ sinh con gái.


176. Đau dây thần kinh sinh ba

Biện chứng đông y: Can âm hư khuyết, can dương thượng cang, thượng nhiễu thanh không.

Cách trị: Dưỡng huyết nhu can, bình can tức phong, giải kinh chỉ thống.

Đơn thuốc: Ngũ bạch thang.

Công thức: Bạch thược 30g, Bạch tật lê 12g, Bạch phụ tử 9g, Bạch cương tàm 10g, Bạch chỉ 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nữ, 48 tuổi. Mặt bên phải của bệnh nhân đã hơn 3 năm đau từng cơn. Mỗi lần đau phần nhiều vì gặp gió hoặc các kích thích khác, đau khoảng 10 giây, đau như điện giật, một nửa mặt cơ bị co giật, chảy nước mắt v.v... Đã phải vào bệnh viện nhiều lần để điều trị, chẩn đoán là đau dây thần kinh sinh ba, đã uống thuốc như dilantin sodium, v.v... Châm cứu, không có tác dụng. Đến xin điều trị thì thấy đầu váng, bực bội mất ngủ, mặt đỏ, miệng và họng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyến tế và mạnh. Đây là chứng can âm hư khuyết, can dương thượng canh, phượng nhiễu thanh không. Cần trị bằng phép dưỡng huyết như can, bình can tức phong, giải kinh chỉ thống. Cho dùng "Ngũ bạch thang", dùng thêm Câu đằng, Ngưu tất. Uống được 3 thang, các chứng giảm nhiều, lại uống 6 thang, các chứng khỏi hết, không lên cơn đau nữa. Sau đó lại uống thêm Kỉ cúc địa hoàng hoàn 1 tháng liền để củng cố hiệu quả. Sau khi khỏi còn theo dõi 5 năm chưa thấy tái phát.

Bàn luận: "Ngũ bạch thang" gia giảm ngoài hiệu lực điều trị đau dây thần kinh sinh ba tương đối tốt, còn có hiệu lực nhất định đối với chứng đau đầu do cao huyết áp. Ca này trong bài thuốc đã dùng Bạch thược để dưỡng huyết nhu can, hòa âm tiềm dương, dùng Bạch tật lê, Bạch phụ tử, Cương tàm, Câu đằng để bình can tức phong, lấy Bạch chỉ để tăng sức thông khiếu, lại có vị Ngưu tất mà theo nghiên cứu dược lý hiện đại thì có tác dụng giãn mạch, hạ huyết áp, giảm đau, do đó thu được kết quả tốt.


177. Đau dây thần kinh sinh ba

Biện chứng đông y: Phong hàn ẩn náu ở não, làm tắc trệ thanh không.

Cách trị: Khư phong tán hàn, thông kinh, chỉ thống.

Đơn thuốc: Lư thống ninh.

Công thức: Xuyên khung 50g, Tất bát 50g, Bạch chỉ 50g, Xuyên tiêu 50g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Người thiên về nhiệt có thể thêm Đảm tinh 10g, Sơn chi 15g, người thiên về hàn có thể thêm Tế tân 5g, Chế Xuyên ô 15g.

Hiệu quả lâm sàng: Từ năm 1967 đã theo dõi "Lư thống ninh" gia giảm điều trị 200 ca bệnh đau dây thần kinh sinh ba, bình quân một liệu trình dài 2 tuần lễ, phần lớn bệnh nhân đã khỏi hoặc thuyên giảm rõ rệt, tổng cộng tỉ lệ khỏi là 90%, hỏi lại 1 năm sau trong số 150 ca, trừ 18 ca có tái phát còn tất cả đều có kết quả vững chắc.

Bàn luận: Trong thời gian uống "Lư thống ninh", bệnh nhân nên ngừng mọi phương pháp điều trị khác, nói chung 4-6 ngày là có kết quả. Đối với người uống thuốc một tuần rồi mà không thấy giảm đau thì tăng lượng Xuyên khung lên 75g, qua 10 năm theo dõi lâm sàng, thêm Xuyên khung lên như thế chưa thấy phát sinh tác dụng phụ. Căn cứ các tư liệu nghiên cứu dược lý hiện đại thì các thành phần chủ yếu điều trị đau thần kinh sinh ba trong bài này, có thể là chứa tetra methyl pyraxin và piperin. Thực tiễn cho thấy bài này dùng điều trị đau đầu do mạch máu, đau thắt ngực, viêm mút thần kinh đều có tác dụng nhất định.


178. Đau dây thần kinh sinh ba

Biện chứng đông y: Khí trệ huyết ứ, uất mà phát sốt, ứ nhiệt quấy lên, thanh không thất lợi.

Cách trị: Hành khí hoạt huyết, hóa ư thông lạc, thanh khí tỉnh não.

Đơn thuốc: Gia vị thược dược cam thảo thang.

Công thức: Bạch thược (sao) 18g, Chích cam thảo 9g, Chế hương phụ 9g, Qui vĩ 12g, Đào nhân 9g, Thích tật lê 9g, Cam cúc hoa 9g, Đại xuyên khung 5g, Sinh thạch cao 25g, Cao bản 5g, Toàn đương qui 9g, Hồng hoa (tươi) 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.


179. Đau dây thần kinh sinh ba

Biện chứng đông y: Khí hư huyết trệ, phong đàm quấy lên.

Cách trị: Bổ ích khí huyết khu phong hóa đàm, khư ứ thông kinh.

Đơn thuốc: Hóa ứ khu phong chỉ thống thang.

Công thức: Sinh hoàng kỳ 15g, Đương qui 6g, Xích thược 12g, Phòng phong 6g, Khương hoạt 3g, Ngô công 2 con, Đào nhân 12g, Hồng hoa 12g, Huyền sâm 15g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Bàn luận: Bài thuốc này là tiếp thu từ dân gian Tân Cương. Trong bài có Ngô công, công thức nguyên thủy là Toàn yết, nhưng Toàn yết khó kiếm, thay bằng Ngô công, hiệu quả không có gì khác.


180. Đau dây thần kinh sinh ba

Biện chứng đông y: Dương minh lạc hư, can phong thừa cơ tấn công.

Cách trị: Bình can tức phong chỉ thống.

Đơn thuốc: Tam thoa thần kinh thống phương.

Công thức: Kinh giới thán 9g, Thạch quyết minh 30g, (cho trước), Nguyên hồ 15g, Bạch tật lê 9g, Nộm câu đằng 12g, Bạch cương tàm 9g, Hương bạch chỉ 4,5g, Mãn kinh (sao) 9g, Trần bì 4,5g, Toàn yết phán 3g, (nuốt chửng). Sắc uống mỗi ngày 1 thang.


181. Viêm thần kinh mặt

Biện chứng đông y: Phong thấp đàm trở, ứ đinh kinh mạch.

Cách trị: Khư phong tán hàn, khử ứ hóa đàm, thông kinh hoạt lạc.

Đơn thuốc: Ngô công kiều chính ẩm.

Công thức: Ngô công 1 con (bỏ đầu, chân), Địa long 12g, Đương quy 12g, Khương hoạt 10g, Phòng phong 10g, Bạch chỉ 10g, Xuyên khung 9g, Xích thược 10g, Kê huyết đằng 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Đã theo dõi 5 ca viêm thần kinh mặt chữa bằng "Ngô công kiều chính ẩm" đều khỏi cả.


182. Viêm thần kinh mặt

Biện chứng đông y: Khí của cơ thể hư, nhược, lại thêm phong đàm, kinh mạch ứ trệ, phạm đến đầu mặt.

Cách trị: Bổ khí hoạt huyết, khư phong hóa đàm, khứ ứ thông lạc.

Đơn thuốc: Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Khiên chính tán phương.

Công thức: Sinh hoàng kỳ 100g, Quy vĩ 6g, Xích thược 5g, Can địa long 3g, Xuyên khung 3g, Đào nhân 3g, Hồng hoa 3g, Toàn yết 10g, Bạch phụ tử 6g, Cương tàm 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Trường XX, nam, 25 tuổi, xã viên, nửa tháng trước tự nhiên thấy mặt tê, sau đó thấy mặt lệch sang trái, nói phều phào, khi ăn uống thì chảy ra ngoài qua mép, tinh thần căng thẳng, tự tìm thuốc vườn, bôi máu lươn, không có chuyển biến gì, sau lại chữa cả đông tây y cũng không kết quả, đến xin chẩn trị. Chẩn đoán là viêm thần kinh mặt bên phải, cho uống Khiên chính tán phương, một tuần thì thấy mặt đỡ méo, uống thuốc trên 5 thang nữa chưa thấy công hiệu thêm. Vì vậy chuyển sang cho uống bài "Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Khiên chính tán phương", 5 thang, thì mặt cơ bản đã hết liệt. Lại uống 5 thang nữa, mặt trở lại bình thường, bệnh khỏi. Một năm sau hỏi lại, chưa thấy tái phát.

Bàn luận: Sau khi chữa khỏi ca viêm thần kinh mặt này bằng "Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Khiên chính tán phương" rồi để dùng chữa cho những người bệnh viêm thần kinh mặt khác đều thấy tác dụng tốt.


183. Đau dây thần kinh mặt.

Biện chứng đông y: Can không được nuôi, can phong động ở trong.

Cách trị: Nhu can tức phong hoạt lạc.

Đơn thuốc: Tứ vị thược dược thang gia vị.

Công thức: Bạch thược 30g, Sinh mẫu lệ 30g, Đan sâm 15g, Cam thảo 15g, Cát căn 15g, Sinh hoàng kỳ 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Bành XX, nữ, 51 tuổi, công nhân. Hơn nửa năm nay mặt bên trái và chân răng đột nhiên đau dữ dội kèm nửa mặt bị co giật. Lúc đầu đau chân răng và nửa mặt bên trái chưa rõ nguyên nhân, sau đó có mức độ đau và số cơn đau tăng dần, mỗi cơn kéo dài vài giây đến vài chục giây. Gặp nhó nhẹ hoặc nhai không cẩn thận là có thể gây cơn đau, nhất là sau khi ăn tôm rang thì càng rõ rệt, đau như dùi đâm, điện giật, kèm theo co giật ở dưới xương gò má trái, trước tai trái. Khi có cơn dau dữ dội, nửa đêm cũng chạy khỏi phòng nhảy nhót lung tung hoặc để nước máy xối vào chân răng, kêu la khóc lóc, ảnh hưởng rất xấu đến sự ăn ngủ, người bứt rứt không yên. Bệnh nhân kể có mấy lần đau không chịu nổi muốn chết được. Có lúc thấy răng hàm trên bên trái lung lay, răng lợi sưng đau, mồm hôi. Đã điều trị ở nhiều nơi, uống thuốc đông (khu phong, hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc), thuốc tây (trấn tĩnh, kháng sinh), châm cứu, tự bệnh nhân lại hãm nhiều tu hồng sâm, mạch đông để uống như trà đều vô hiệu. Ngày 6-12-1978 tới xin điều trị. Khám thấy: tay phải õm má trái, vẻ mặt đau đớn, răng hàm số 2 hàm trên bên trái lung lay, vùng lợi gần đó hơi tấy đỏ, sờ vào đau nhẹ, bờ lợi có thể thấy một ít chất trắng vàng. Lưỡi đỏ nhạt rêu mỏng, mạch trầm tế mà huyền. Sự tái phát đột nhiên những cơn đau dữ dội ở vùng mặt và chân răng cùng với những cơn co giật vùng mặt má, được quy là bệnh do phong tà vi "phong mà thắng thì tất phải động", bạo phong đến và đi rất nhanh. Nhưng bệnh nhân không có biểu hiện sợ gió và sốt mà lại có bứt rứt, bồn chồn, và ức uất, tác động lẫn nhau, mạch trầm tế huyền, tức là can không được nuôi, can phong động ở bên trong mà không phải là tác động của ngoại phong. Răng lung lay, lợi sưng đỏ, sờ thấy đau nhẹ bờ lợi có ít chất vàng trắng, miệng hôi là có nhiệt trong dương minh vị. Nên trị bằng phép nhu can tức phong hòa lạc, thêm thanh vị bài độc, uống 4 thang bài "Tứ vị thược dược thang gia vị" làm chính. Lần khám thứ hai" sau khi uống thuốc tất cả các triệu chứng kể trên đều chuyển biến rõ rệt, tinh thần cải thiện nhiều, lưỡi hơi đỏ, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế. Lại uống tiếp bài trên 5 thang nữa. Lần khám thứ ba: hết đau vùng chân răng, mặt cũng hết co giật, lợi bớt sưng đỏ rõ rệt, bờ lợi trở lại bình thường. Đã thử ăn tôm rang 1 lần không thấy tái phát. Người bệnh kể mấy năm gần đây đại tiện khô táo. Cho uống tiếp 5 thang bài thuốc trên có thêm 15g Qua lâu nhân để củng cố hiệu quả điều trị. Tháng 5 năm 1980 khám lại, người bệnh nói từ cuối năm 1978 dùng tất cả 14 thang bài thuốc trên hoàn toàn không thấy mặt, chân răng đau trở lại, răng hàm thứ hai bên trái cũng không lung lay nữa, cố tật đã khỏi hẳn.

Bàn luận: Chứng đau này, sách của Vương Khẳng Đường đời Minh "chứng trị chẩn thắng" có nói "Các chứng mặt đau đều thuộc hỏa, nơi hội tụ của các (đường kinh) dương là mặt, hỏa lại là dương vậy". Thực ra mặt đau có nguyên nhân hỏa mà cũng có nguyên nhân hàn phong, bệnh án này mặt đau chính là phong. Chỉ vì người bệnh mặt đau lại luôn luôn có kèm răng đau nhức đầu, cho nên khi biện chứng thường ngộ nhận phong chứng là nhiệt chứng hoặc quy nhầm nội phong thành ngoại phong mà cho những bài thuốc có nhiều vị thanh nhiệt tán phong. Chữa bệnh đau mặt đầu tiên phải bàn đến nguyên nhân, mà khi bàn đến nguyên nhân chứng phong thì đầu tiên phải bàn đến vấn đề nội phong hay ngoại phong, nếu không thì làm sao có thể "biết tà ở đâu đến mà chữa trị". Nếu không thì "bệnh có nguyên nhân bên trong mà lại phát tán bừa bãi, ắt gió nóng càng dữ dội thêm, như lò đã đỏ lại quạt thêm gió làm sao dập được lửa. "Tứ vị thược dược thang gia vị" là một bài thuốc có hiệu quả từ nhiều năm nay dùng để trị các chứng can phong gây ra như đau đầu, đau mặt, đau nửa đầu, đau răng. Trong bài này trọng dụng Bạch thược, Sinh mẫu lệ để nhu can tiềm dương, tức phong, Bạch thược cùng với Cam thảo, cam và toan hóa âm hoãn cấp chỉ thống, Đan sâm để dưỡng huyết hòa lạc. "Giới dĩ tiềm chi", "Cao giả ức chi", "toan dĩ thu chi", "huyết dịch dĩ nhu chi" can sẽ được như dương bị nổi lên sẽ được giữ lại ở thân thủy như vậy sẽ đổi cứng thành mềm, biến động thành tĩnh, phong sẽ tắt, đau sẽ hết.


184. Viêm đa thần kinh

Biện chứng đông y: Thể tạng vốn hư nhược, hàn thấp thấm vào phá hoại bên trong kinh mạch cơ da, khí huyết bị trở ngại, gân mạch không thư.

Cách trị: Ích khí kiện tì, tán hàn trừ thấp, thông kinh hoạt lạc.

Đơn thuốc: Khởi nuy thang.

Công thức: Sinh hoàng kỳ 30g, Tây đảng sâm 15g, Bạch truật 9g, Mạch nha (sao) 15g, Trần bì 3g, Quảng mộc hương 5g, Thăng ma 3g, Tế tân 3g, Bạch phụ tử 5g, Kê huyết đằng 9g, Thân cân thảo 15g, Ngưu tất 9g, Mã tiền tử (chế) 1,5g, Viễn chí 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Thường XX, nam, 23 tuổi, sơ chẩn ngày 14-6-1978. Bệnh nhân nói thể tạng vốn hư nhược, 10 ngày trước sau khi phòng sự xong thì xuống sông với đồ vật, sáng sớm hôm sau ngủ dậy thấy từ thắt lưng xuống tới hai đầu gối đều tê, hai hôm sau càng nặng chân tay rã rời không làm gì được, bìu dái co lên bụng. Đã điều trị ở địa phương không khỏi. Sau đó đến một bệnh viện điều trị, chẩn đoán là viêm da thần kinh, đã dùng vitamin B12... nhưng không thấy kết quả mới đến chúng tôi xin điều trị. Bệnh nhân thấy toàn thân tê dại tay chân nặng trĩu, hai chân thõng, miệng không khát, âm nang teo, trong lòng không yên. Đại tiểu tiện điều hòa. Chất lưỡi đỏ tái, rêu lưỡi mỏng trắng hơi vàng, mạch trầm tế hơi sác. Chứng này là "Tì hư khí nhược, hàn tháp thấm vào kinh lạc da cơ", đúng là thuộc phạm trù "nuy tí" của đông y. Sách "Tố vấn, Chương Uỷ luận" viết: " Trị nuy độc thủ dương minh". Chính thuộc dương minh, bể lục phủ ngũ tạng chủ nhuận tông cân, tông cân chủ thúc thì lợi cơ quan. Dựa vào đó, cho dùng "Khởi nuy thang", người bệnh dùng 3 thang, bệnh đã thấy giảm một nửa, dùng liền 12g thang, các triệu chứng mất hẳn, đi bộ hơn 2km về nhà, khỏi bệnh. Theo dõi 3 tháng, mọi mặt đều tốt công tác như thường.

Bàn luận: Ca bệnh này dùng "Khởi nuy thang", trong đó có Sinh hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Trần bì, Mạch nha (sao), Mộc hương để ích khí kiện tì hòa vị. Thăng ma thang phát tì dương, thúc cho tì khí thông tới tứ chi, bắp thịt. Tế tân, Bạch phụ tử, Thân cân thảo, Ngưu tất, Mã tiền tử (chế), Kê thuyết đằng khư phong tán hàn, trừ thấp lợi khiếu, thông kinh hoạt lạc, Viễn chí làm yên tâm thần, các vị phối ngũ tất tì khí thăng, khí huyết hòa, hàn thấp khử, kinh mạch thông, lợi cho cơ quan khỏi được bệnh nuy.


185. Viêm đa thần kinh

Biện chứng đông y: Thể tạng hư nhược, huyết ứ ngăn trở bên trong, lại cảm ngoại tà, tà bế kinh lạc.

Cách trị: Ích khí dưỡng huyết, trừ thấp tán hàn, khử ứ thông lạc

Đơn thuốc: Kiện bộ cường cân thang.

Công thức: Bắc hoàng kỳ 60g, Đương quy 15g, Bạch thược 12g, Xuyên kung 9g, Xích thược 12g, Đào nhân 9g, Hồng hoa 9g, Đỗ trọng 15g, Ngưu tất 9g, Mộc qua 9g, Phòng phong 12g, Tần giao 9g, Uy linh tiên 12g, Trần bì 12g, Xương sọ chó 15g, Cam thảo 3g, Sinh khương 3g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang chia làm 3 lần (trẻ em giảm bớt liều lượng). Tê chi trên thì thêm Khương hoạt 12g, tê chi dưới thì thêm Độc hoạt 12g, tê vùng mặt thì thêm Toàn yết 3g, Ngô công 1 con.

Hiệu quả lâm sàng: Đã theo dõi dùng bài thuốc "Kiện bộ cường cân thang" gia giảm điều trị 7 ca viêm đa thần kinh đều khỏi cả.


186. Viêm đa thần kinh

Biện chứng đông y: Tì hư khí nhược, hạ nguyên khuy tôn.

Cách trị: Ích khí kiện tì, Ôn bổ nguyên dương.

Đơn thuốc: Bổ ích cường nuy ẩm.

Công thức: Hoàng kỳ 21g, Đương quy 15g, Xuyên ngưu tất 15g, Mộc qua 12g, Bạch truật 12g, Thỏ ti tử 15g, Đỗ trọng (sao) 15g, Thục địa 12g, Phục linh 12g. Mỗi ngày 1 thang, sắc uống 3 lần lấy tất cả 600 ml cứ 8 giờ uống 200 ml.

Hiệu quả lâm sàng: Lý X.X, nam, 38 tuổi, liệt tay chân đã 45 ngày, vào viện ngày 15-10- 1972. Kể rằng khi phát bệnh thì đau đầu, sốt, toàn thân đau, sau đó đến tay chân, đầu ngón tay đau đớn, tê dại có cảm giác khác thường kiểu đeo găng tay, đi bi tất ngắn ở chân, như có kiến bò. Đã dùng Penicilin, cortison, các loại vitamin và thuốc đông y chưa thấy kết quả rõ rệt. Khám thấy: vẻ mặt đau khổ của bệnh mạn tính ngũ quan bình thường, huyết áp 120/70 mmHg, mạch đập 92 lần/phút, thân nhiệt 38 độ C. Tay chân liệt, cơ run mu tay trái, các cơ tay chân mô ngói cái, mô ngón út đều teo rõ rệt. Chuẩn đoán lâm sàng là viêm đa thần kinh. Đầu tiên chúng tôi cho thuốc kháng cảm nhiễm hợp tễ, chống nhiễm khuẩn (Bản lam căn 30g, Ngư tinh thảo 30g, Ngân hoa 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang) dùng liền 7 ngày, khống chế được các chứng đau mình mảy, sốt. Sau đó lại cho dùng "Bổ ích cường nuy ẩn" phối hợp với liệu pháp tiệm huyệt, các huyệt được chọn là Ngoại quan, Khúc trì, Túc tam lý. Hoàn khiêu, Tam âm giao, mỗi lần chỉ tiêm 2 huyệt, mỗi huyệt tiêm hỗn hợp vitamin B1 25mg, vitamin B12 12,5mg, mỗi ngày 1 lần, tất cả 60 ngày, các chứng đều chuyển tốt rõ rệt, cơ lực tay chân khôi phục đến độ 4 trở lên. Dặn tiếp tục điều trị kiên trì, củng cố 20 ngày nữa chữa khỏi bệnh về cơ bản, ra viện. Sau khi ra viện, đã tham gia lao động nông nghiệp, tình trạng tốt. Theo dõi chưa thấy tái phát.

Bàn luận: Chúng tôi đã trị nhiều ca viêm đa thần kinh bằng "Kháng cảm nhiễm hợp tễ", "Bổ ích cường nuy ẩm" và "Tiêm huyệt" đều đạt kết quả khá lý tưởng. Cần chú ý là khi bệnh nhân bị nhiễm khuẩn thì đầu tiên nên dùng hợp tễ chống nhiễm khuẩn này điều trị một thời gian khỏi rồi sẽ dùng "Bổ ích cường nuy ẩm", "Tiêm huyệt", để trị là thỏa đáng nhất.


187. Viêm đa thần kinh nhiễm khuẩn

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt tấn chú, lưu tán gân cốt.

Cách trị: Thanh nhiệt khử thấp thông lạc.

Đơn thuốc: Tam diệu hoàn gia vị thang.

Công thức: Thương truật 30g, Hoàng bá 20g, Ngưu tất 15g, Tục đoạn 15g, Kê huyết đằng 25g, Kim ngân hoa 25g, Bản lam căn 25g, Đại thanh diệp 15g, Công anh 50g, Liên kiều 15g, Thạch hộc 20g, Hoạt thạch 20g, Cam thảo 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Đỗ XX, nam, 19 tuổi, sốt đã 3 ngày, sau đó thấy hai tay khó cử động, không đủ sức cầm đồ vật, nhưng vẫn chịu khó làm việc 1 ngày nữa. Hôm sau tiếp đến chân khó cử động. Ba hôm nữa thì ăn cơm không cầm nổi thìa không đi lại được, phải có người cõng, không tự mình đi ra nhà vệ sinh để đại tiểu tiện. Khám thấy: thân nhiệt 37,2 độ C, tứ chi liệt mềm, không thể tự vận động. Nắm bắp chân thấy đau, mất phản xạ sâu. Chẩn đoán là viêm đa thần kinh nhiễm khuẩn (chứng nuy). Chữa bằng phép thanh nhiệt khu thấp thông lạc. Cho dùng "Tam diệu hoàn gia vị thang" sau khi uống 4 thang thì đứng được, đi được vài bước, Chữa trong nửa tháng, trừ ngồi sổm đứng lên còn khó, ngoài ra có thể cầm nắm đồ vật, đi lại cơ bản phục hồi như thường.

Bàn luận: "Tam diệu hoàn gia vị thang" có Thương truật là vị khổ ôn, táo thấp cường tì, Hoàng bá khổ hàn thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu, hai vị thuốc kết hợp với nhau có thể táo thấp thanh nhiệt, chủ trị thấp nhiệt tẩu chú, gân cốt đau đớn, thấp nhiệt xuyên xuống, phần dưới có mụn nước cả đến chứng thấp nhiệt thành nuy. Nếu mắc chứng nuy tí cước khí, mụn nhọt do thấp nhiệt gây nên thì trên lâm sàng thường lấy bài thuốc này làm bài thuốc chính. Trong thiên "Sinh khí thông thiên luận" sách Tố Vấn có nói " Thấp nhiệt không lùi thì gân lớn, gân nhỏ đuỗi dài, mềm co thì cong, duỗi dài thì teo". Đó là thấp nhiệt thấm vào mà dãn tới tí thông, nuy nhược. Nuy tí do thấp nhiệt thì phải chú trọng thanh nhiệt táo thấp, không nên dùng các thuốc cường cân tráng cốt. Ngưu tất là thứ để có thể cường cân cốt, lại có thể dãn thấp nhiệt đi xuống, chữa đầu gối sưng đỏ có hiệu quả. Chứng nuy là chứng có tứ chi teo yếu vô lực không cử động được.


188. Đau thần kinh hông

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tí, bế tắc kinh lạc.

Cách trị: Trừ thấp tán hàn, ôn thong kinh mạch.

Đơn thuốc: Tân phương quế chi thang.

Công thức: Quế chi 30-60g, Bạch thược 15-3g, Sinh khương 3-5 lát, Cam thảo 5-6 g, Đại táo 5-10 quả, Bắc hoàng kỳ 15-30g, Đương quy 10-15g, Xuyên ngưu tất 10-15g, Độc hoạt 10-15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Bàn luận: Nếu người đau thần kinh hông thể chất dương thịnh thể hiện ở lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền hoặc thực mà sác, thì nên cẩn thận khi dùng "Tân phương quế chi thang".


189. Đau thần kinh hông

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà, quấy nhiễn ở bên trong kinh mạch

Cách trị: Khu phong trừ thấp, ôn kinh, thông lạc

Đơn thuốc: Gia giảm thiên kim ô đầu thang.

Công thức: Chế xuyên ô 9g, Thục phụ tử 9g, Nhục quế 9g, Phòng phong 9g, Thục tiêu 9g, Tế tân 3g, Độc hoạt 15g, Can khương 5g, Tần giao 15g, Đương quy 30g, Bạch thược 12g, Phục linh 12g, Cam thảo 3g, Đại táo 5 quả. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Người đau nhiều ở thắt lưng thì nên thêm Đỗ trọng 12g, Thục đoạn 12g, Ngưu tất 12g. Người hư khí thì nên thêm Nhân sâm 6-9g, Hoàng kỳ 15-30g. Người chân tê nhiều thì nên thêm Toàn tùng 9g, Ngô công 2 con, Địa long 9g. Miêng khát, đại tiện bí thì bỏ Nhục quế, Phụ tử , Thục tiêu, Tế tân.

Hiệu quả lâm sàng: Đã theo dõi dùng "Gia giảm thiên kim ô đầu thang" điều trị có theo dõi 110 ca đau thần kinh hông, trong đó ttthể nặng 30 người, thể nhẹ 80 người đều có hiệu quả khá tốt. Một số người trong khi điều trị đã dùng phối hợp "Rượu thuốc" tác dụng càng tốt hơn. (cách chế rượu thuốc: Sinh đỗ trọng 9g, Sinh xuyên ô 9g, Sinh thảo ô 9g, Xuyên ngưu tất 9g, Xuyên mộc qua 9g, Toàn đương quy 9g, Lão quán thảo 9g, Sinh cam thảo 9g, rượu trắng loại I 1000 ml, các thứ thuốc trên đem ngâm rượu, bỏ lọ đậy kín, sau 1 tuần là uống được, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml, tối đa không quá 15ml, người không uống được rượu thì không dùng).

Bàn luận: Qua thực tiễn lâm sàng, chúng tôi nhận thấy bài thuốc và rượu thuốc trên có hiệu quả tốt đối với đau thần kinh hông nguyên phát, còn đối với bệnh nhân thứ phát như đau thần kinh hông do thoát vị đĩa đệm, thắt lưng cùng hóa thì hiệu quả ít. Tuy nhiên cũng có hiệu lực nhất định với các bệnh xương cột sống, thắng lưng có biểu hiện tăng sinh.


190. Đau thần kinh hông

Biện chứng đông y: Hàn thấp tà chuyển vào kinh lạc, khí huyết ứ tắc làm đường kinh không thông.

Cách trị: Khử thấp tán hàn, ôn thông kinh mạch , hóa ứ chỉ thống.

Đơn thuốc: Gia vị quế ô thang.

Công thức: Quế chi 12g, Bạch thược 30g, Đan sâm 30g, Chế xuyên ô 9g, Chích cam thảo 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Người bệnh đau nhiều thì có thể thêm Chế nhũ hương 9g, Chế một dược 9g, Ngưu tất 9g, Xuyên mộc qua 9g, Đào nhân 9g; chi dưới tê nhiều thì thêm Toàn yết 9g.

Hiệu quả lâm sàng: Đã dùng "Gia vị quế ô thang" điều trị có theo dõi 587 ca đau thần kinh hông, thấy 524 người sau khi uống thuốc 3-7 ngày đã khỏi hẳn về lâm sàng. Ngoài ra có 63 ca đau thần kinh hông do bị chèn ép, sau khi uống bài thuốc này thì triệu chứng có thuyên giảm rõ rệt trên lâm sàng, nhưng chưa khỏi hoàn toàn.

Bàn luận: Thực tiễn lâm sàng chứng tỏ, nếu bệnh nhân đau nhiều, bệnh tình khá nặng thì lúc đầu có thể uống mỗi ngày 2 thang, chia làm nhiều lần, đợi mấy hôm sau bệnh giảm sẽ uống mỗi ngày 1 thang, hiệu quả rất tốt.


191. Đau thần kinh hông

Biện chứng đông y: Hàn tà ngừng trệ, uất tắc kinh mạch.

Cách trị: Dưỡng huyết ôn kính, thòng mạch chỉ thống.

Đơn thuốc: Sài quế ôn kinh thang.

Công thức: Sài hồ 10g, Quế chi 10g, Bạch thược 10g, Đương quy 15g, Hồi hương (sao) 10g, Vân linh 10g, Nguyên hồ 10g, Xuyên ngưu tất 10g, Xuyên luyện tử 10g, Sinh khương 6g, Thục phụ tử 10g, Cam thảo 6g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.


192. Đau thần kinh hông

Biện chứng đông y: Phong thấp hạ chú xuyên qua kinh lạc ngăn cản khí huyết.

Cách trị: Khư phong thắng thấp, thông kinh chỉ thống.

Đơn thuốc: Thông lạc chấn kinh thang.

Công thức: Đan sâm 30-45g, Câu đằng 30g, Huyết kiệt 5g, Hy thiên thảo 15g, Ngô công 2 con, Địa long 12g, Sài hồ 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu thấy khát, miệng đắng, rêu lưỡi vàng, mạchsác thì có thể thêm Ngân hoa 30g, Hoàng bá 9g, Thương truật 6g. Người thiên về hàn thì có thể thêm Quế chi 10g. Phụ phiến 6g. Người thiên về thấp, đùi tê đau tức thì thêm Dĩ nhân 30g, Thông thảo 6g, Tang chi 15g. Chân co duỗi khó khăn thì thêm Cửu tiết phong 15g, Tục đoạn 15g, Mộc qua 6g. Có các chứng do ngoại thương kiêm ứ huyết nội trở thì thêm Hồng hoa 6g, Cốt toái bổ 15g.

Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi 36 ca đau thần kinh hông sau khi dùng "Thông lạc chấn kinh thang" gia giảm có 24 ca khỏi, 8 ca chuyển biến tốt, 4 ca vô hiệu.


193. Đau thần kinh hông

Biện chứng đông y: Cân mạch mệt mỏi tổn thương, khí huyết không vận đường kinh không thông.

Cách trị: Thư cân hoạt lạc, hoãn cáp chỉ thông.

Đơn thuốc: Gia vị thược dược cam thảo thang.

Công thức: Sinh bạch thược 50g, Chích cam thảo 50g, Nguyên hồ 15g, Anh túc xác 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Đau bên trái nhiều thì thêm Đan sâm 20g, đau bên phải nhiều thì thêm Hoàng kỳ 20g, người hàn thì thêm một lượng Xuyên ô thích hợp.

Hiệu quả lâm sàng: Hồ XX, nam, 40 tuổi, công nhân, hai năm trước bị vẹo lưng sau đó cảm tháy mông mặt phía sau đùi mặt ngoài bắp chân cho đến mu bàn chân chi dưới bên phải đau đi đau lại. Mấy ngày nay do lao lực bệnh tăng lên. Đã dùng thuốc đông tây y kết quả không tốt. Khám thấy mặt bệch, vẻ mặt đau khổ, bắp thịt ở đùi phải hơi teo, co lại đầu gối lỏng, co duỗi khó, mạch trầm mà vô lực, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng. Chẩn đoán lâm sàng là đau thần kinh hông. Đây là bệnh hư lâu ngày làm cho khí huyết thông vận được, gân mạch không được nuôi dưỡng, lại gặp lao thương đường kinh không thông, cần trị bằng phép nhu cân hoạt lạc, hoãn cấp chỉ thống. Cho uống "Gia vị thược dược cam thảo thang". Dùng được 3 thang, các chứng giảm quá nửa. Tiếp tục dùng bài trên thêm Hoàng kỳ, Ngưu tất mỗi thứ 20g, nhằm bổ ích khí huyết, dưỡng cân hoạt lạc. Lại uống 9 thang nữa, mọi chứng khỏi hoàn toàn. Theo dõi 2 năm chưa thấy tái phát.


194. Đau thần kinh gian sườn

Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, ứ huyết nội trở.

Cách trị: Thư can lý khí, hóa ứ chỉ thống.

Đơn thuốc: Đan chi tức thống thang.

Công thức: Đan sâm 12g, Linh chi (sao) 10g, Hương phụ 12g, Đương quy 10g, Phật thủ 12g, Sài hồ 10g, Tam thất phấn 3g, (chiêu với nước thuốc), Bạch thược 12g, Nguyên hồ 12g, Cam thảo 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Dương XX, nam, 36 tuổi. Đau xuyên hai bên sườn, lúc đau lúc không, ảnh hưởng tới hoạt động. Theo lời kể thì nguyên nhân không rõ, chỉ thấy trước khi bị bệnh thì tinh thần không thoải mái do cãi nhau trong gia đình. Mạch huyền, sáp, lưỡi bình thường, rêu trắng. Chẩn đoán lâm sàng là đau thần kinh gian sườn. Đây là chứng can uất khí trệ, ứ huyết nội trở. Cho dùng bài Đan chi tức thống thang, uống 2 thang khỏi ngay đau, mọi chứng đều hết, bệnh khỏi.

Bàn luận: Thực tiễn lâm sàng trong nhiều năm cho thấy, bài Đan chi tức thống thang dùng chữa đau thần kinh gian sườn thu được kết quả tốt, đồng thời đem chữa chứng đau, khó chịu ở hai bên sườn do viêm gan mạn hoặc xơ gan thời kỳ đầu cũng cho kết quả mĩ mãn.


195. Đau đầu do thần kinh

Biện chứng đông y: Phong hàn nội kết, trở trệ kinh mạch, thượng phạm thanh không.

Cách trị: Khử phong tán hàn, thông kinh chỉ thống.

Đơn thuốc: Cứu não thang.

Công thức: Tân di 9g, Xuyên khung 30g, Tế tân 3g, Đương quy 30g, Mạn kinh tử 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu đầu đau tức, mắt đỏ thì thêm Câu đằng 30g, Long đởm thảo 6g, Thạch quyết minh 30g; khí hư mệt mỏi thì thêm Sinh kỳ 15g, Đảng sâm 12g; mất ngủ mộng mị thì thêm Táo nhân (sao) 15g, Dạ giao đằng 15g, Sinh, Long mẫu mỗi thứ 15g; đau lâu không rứt, ứ trở mạch lạc thì thêm Thủy diệt (đỉa) 3g, Ngô công 3 con, Toàn trùng 5g, bị hành nôn mửa thì thêm Bán hạ 10g, Ngô thù du 6g, Sinh khương 5 lát, bị nhiệt nôn mửa thì thêm Đại giả thạch 15g, Trúc nhự 10g.

Hiệu quả lâm sàng: Trương XX, nữ, 18 tuổi, kế toán. Đau đầu đã 12 năm, chữa chạy nhiều mà vô hiệu. Tới khám ngày 12-6-1977. Người bệnh ngay từ nhỏ đã khổ vì đau đầu, cách vài ngày bệnh phát 1 lần, nhẹ thì phải nằm nghỉ ngơi, nặng thì phải tiêm hoặc uống thuốc giảm đau mới đỡ. Nửa năm nay, bệnh phát liên tục và càng kịch liệt hơn, châm cứu, hoặc uống thuốc giảm đau không còn  tác dụng. Khám thấy vẻ mặt đau đớn, tỉnh táo, biểu hiện lạnh nhạt, hai mắt không có Thần, đồng tử to đều, đáy mắt không có gì khác thường, huyết áp 126/74 mmHg, lưỡi đỏ nhạt, mạch huyền tế mà sáp. Chẩn đoán lâm sàng là đau đầu do thần kinh. Khám xong cho dùng Cứu não thang có thêm Thủy diệt 3g, Ngô công 3 con, Toàn trùng 5g. Uống 1 thang, đau đầu giảm hẳn. Uống 4 thang các chứng đều hết. Căn bệnh kéo dài 12 năm bỗng chốc khỏi hẳn. Để củng cố hiệu quả, giảm bớt liều lượng của bài thuốc trên, cho thêm Bạch thược 15g, Thục địa 15g, để dưỡng huyết tư âm, nhu can cố bản. Cho dùng 3 thang. Theo dõi 2 năm, bệnh không tái phát.

Bàn luận: Bài Cứu não thang được chép trong trong sách "Biện chứng lục" của Trần Sĩ Phong thời Thanh. áp dụng có gia giảm vào lâm sàng để chữa bệnh đau đầu do thần kinh thu được kết quả rất tốt, mà với các chứng đau đầu dai dẳng khác cũng có kết quả khá. Từ tháng 5-1977 đến tháng 4-1980 dùng bài Cứu não thang có gia giảm chữa cho 80 bệnh nhân đau đầu dai dẳng khác nhau phần lớn chỉ 3 đến 6 thang là khỏi hẳn hoặc giảm nhẹ.


196. Đau đầu do thần kinh

Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, ứ trở mạch lạc, thượng phạm thanh không não mất sự nuôi dưỡng.

Cách trị: Sơ can giải uất, hóa ứ thông kinh, hành khí chỉ thống.

Đơn thuốc: Sơ can hóa ứ chỉ thống thang.

Công thức: Sài hồ 15g, Xuyên khung 35g, Đào nhân 5g, Hồng hoa 5g, Hương phụ 20g, Phòng phong 15g, Khương hoạt 5g, Bạch chỉ 5g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Lưu XX, nam, 51 tuổi, công nhân. Khám lần đầu ngày 31-5-1975. Bệnh nhân kể đau đầu phát đi phát lại đã 12 năm. Mấy tháng nay trở nên kịch liệt, kèm theo tâm phiền buồn nôn, mắt mọng đau, lúc nặng phải dánh vào đỉnh đầu mới đỡ. Có khi kéo dài 2-3 ngày liền. Đã khám chữa nhièu lần ở bệnh viện, chẩn đoán là đau đầu do thần kinh, uống nhiều loại thuốc là không kết quả rõ rệt. Nay đến khám thấy mạch huyền, tế, chỉ có mạch xích bên trái phù, lưỡi rêu xám trắng, chất lưỡi tím xanh. Hợp chứng và mạch lại, thì đây là can uất khí trệ, ứ trở mạch lạc, thượng phạm thanh không, não mất nhu dưỡng. Chữa nó phải sơ can giải uất, hóa ứ thông kinh, hành khí chỉ thống. Cho dùng bài Sơ can hóa ứ chỉ thống thang. Uống được 3 thang, bệnh chứng giảm hẳn. Thêm vào bài thuốc Bán hạ 15g, Hoàng cầm 35g, Thương truật 20g, để tăng cường sức hòa giải thiếu dương kiện tì lý trung. Uống 3 thang nữa các chứng cơ bản tiêu trừ. Lúc này bệnh nhận bị cảm, sốt nhẹ. Bèn cho thêm vào bài thuốc các vị Thạch cao 25g, Sinh địa 25g, lại cho uống mấy thang nữa, các chứng đều hết, bệnh khỏi. Theo dõi nhiều năm, không tái phát.

Bàn luận: Người bệnh mắc đau dầu do thần kinh lâu 12 năm. Trong đông y có câu "Đau lâu ngày tất ứ" chữa trị phải theo cách hoạt huyết hóa ứ. Nhưng khảo xét kỹ nguyên lý "Can là bể máu" của người xưa thì muốn trị huyết trước tiên phải trị can, can khí mà thông suốt thì khí huyết điều hòa, tâm được máu nuôi, đường mạch thông suốt, huyết bị ứ ắt phải hoá, nên các chứng tiêu trừ. Dựa theo lý ấy, dùng bài Sơ can hóa ứ chỉ thống thang trong đó, có vị Sài hồ là thuốc chủ yếu để sơ can, phối hợp với các vị hành khí, hoạt huyết, hóa ứ, chỉ thống sẽ khiến được can khí thông suốt, khí huyết điều hoà, tâm mạch thông, huyết ứ tan, đau phải dứt. Ngoài ra, trong bài thuốc dùng lượng Xuyên khung đến 35g, theo như kinh nghiệm thực tiễn của chúng tôi thì vì bài này để trị đau đầu do thần kinh nên bắt buộc phải trọng dụng Xuyên khung, nếu không kết quả sẽ kém.

(Lời người dịch: nên cẩn thận khi dùng Xuyên khung liều cao như vậy).


197. Đau đầu do thần kinh

Biện chứng đông y: Can vị hư hàn, trọc khí thượng nghịch, khí bất hành huyết, huyết bất dinh cân.

Cách trị: Ôn can noãn vị, dưỡng huyết dinh cân.

Đơn thuốc: Tứ vật gia ngô thù du thang.

Công thức: Thục địa hoàng 10g, Đương quy 10g, Bạch thược 6g, Xuyên khung 5g, Ngô thù du 5g, Tây đảng sâm 15g, Sinh khương 10g, Đại táo 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Người nôn oẹ nhiều thì thêm Pháp bán hạ 10g.


198. Đau đầu do mạch máu

Biện chứng đông y: Ngoại cảm nội thương, ứ trở mạch đạo.

Cách trị: Khử tà an lý, thông kinh hoạt lạc, hóa ứ chỉ thống.

Đơn thuốc: Đầu thông linh thang.

Công thức: Đương quy 10g, Xuyên khung 15g, Sinh địa hoàng 10g, Bạch thược 15g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g, Phòng phong 10g, Bạch chỉ 10g, Khương hoạt 10g, Độc hoạt 6g, Câu đằng 20g, Kê huyết đằng 30g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu kiêm phong hàn thì thêm Ma hoàng 10g, Tế tân 10g, Phụ tử 10g, kiêm phong nhiệt thì thêm Sinh thạch cao 30g, Sài hồ 10g, Hoàng cầm 10g, kiêm ứ huyết thì tăng thêm lượng vị thuốc hoạt huyết trong bài thuốc, lại thêm Xích thược 10g, kèm đờm thấp thì thêm Ngũ linh tán; kèm can thận âm hư thì thêm Sinh long cốt 30g, Mẫu lệ 30g, Sinh địa tăng lên 15g.

Bàn luận: Qua thực tiễn lâm sàng nhận thấy áp dụng bài Đầu thông linh thang có gia giảm thích hợp để điều trị, ngoài bệnh đau đầu do mạch máu ra, đối với chứng đau đầu do căng thẳng, đa số trường hợp đều thu được kết quả khá tốt. Ngoài ra trong khi điều trị, sau khi dùng thuốc được vài thang, lượng Xuyên khung trong thang có thể tăng lên 20-30g. Còn khi chữa đau đầu do căng thẳng thì vị Bạch thược trong thang có thể tăng đến 30g. Nếu người bệnh kiêm cả mấy dạng thì có thể dùng kiêm cả mấy dạng kể trong bài thuốc. Thực tiễn lâm sàng chứng tỏ dùng như thế kết quả điều trị rất tốt.


199. Đau đầu do mạch máu

Biện chứng đông y: Ứtrở kinh mạch, kinh khí bất thư, thang dương bất cử, nhiễm loạn thanh không

Cách trị: Ích khí cử dương, hóa ứ thông lạc.

Đơn thuốc: Tân phương huyết phủ trục ứ thang.

Công thức: Bắc hoàng kỳ 15g, Xuyên khung 10g, Nhũ hương 10g, Sinh địa hoàng 20g, Xích thược 10g, Ngưu tất 12g, Ngô công 2 con, Đào nhân 10g, Tế tân 8g, Cam thảo 6g, Hồng hoa 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Quách X, nam, 40 tuổi, công nhân. Tới khám ngày 24-2-1979. Từ hơn 10 năm trước đã phát chứng đau đầu, sau nặng dần, mỗi tháng lên cơn 2-3 lần, có khi liên tục mấy ngày, chủ yếu là đau không chịu nổi ở trán và 2 thái dương. Khám không thấy khác thường. Chẩn đoán là đau đầu do mạch máu. Đã dùng nhiều thứ thuốc tây và đông y mà chưa đạt kết quả, nên tới khám. Mạch trầm huyền mà sáp, lưỡi đỏ thẫm, rêu trắng. Hợp mạch với chứng thì đây là bệnh đã lâu năm, bệnh lâu tất ứ, tất hư, ứ thì trở lạc, hư thì khí huyết không khả năng hoạt động. Hai cái cùng dẫn tới ứ huyết trở trệ, kinh khí bất thứ, thanh dương bất cử, thanh không thất lợi. Chữa nó phải ích khí cử dương, hóa ứ thông lạc. Cho dùng bài Tân phương huyết phủ trục ứ thang, uống 6 thang, các chứng giảm nhiều, nếu còn phát, thì cũng chỉ hơi đau. Cho uống tiếp 6 thang rồi ngừng lại theo dõi, thấy bệnh ổn định. Hơn 1 năm sau hỏi thăm, không thấy tái phát.

Bàn luận: Đau đầu lâu ngày dần thành cố tật, nếu muốn công hiệu nhanh thì các vị thuốc bình thường không trị nổi, phải làm thêm vào thuốc khử ứ hoạt huyết những vị khu phong thông lạc. Tế tân là vị tân nhiệt, giỏi về khu não phong, thúc đẩy các vị hoạt huyết ứ vào thẳng ổ bệnh, hợp sức công phá các ứ tích, hiệu quả rõ rệt. Vì thế trong các sách chép vị Tế tân phần nhiều chỉ dùng 1-3g, ở đây lại dùng đến 8g, Riêng về vị Tế tân này, các bậc tiền bối đã từng đi sâu nghiên cứu, cho rằng chỉ cần biện chứng mà dùng thuốc chính xác thì lượng dùng lớn mới có thể chém tướng chiếm cửa ải, giống như quân lính cốt ở mũi tiên phong vậy. Tác giả đã chữa cho vợ bị chứng cảm mạo, lượng tăng tới 9g, mà không thấy có phản ứng xấu. Vì vậy vị thuốc này có thể tăng lượng một cách thích hợp, không phải lo ngại gì. Nếu lại phối hợp các vị phù hợp thì càng không e ngại nữa. Tuy nhiên với bệnh nhân thể chất hư nhược thì tốt nhất là hãy cho lượng như bình thường.


200. Đau đầu do mạch máu

Biện chứng đông y: Can mộc ứ uất, hóa hỏa làm thương tổn đến âm, âm huyết bất túc, kinh khí bất hư, bế tắc não lạc, lại thêm phong tà, thượng nhiễu hanh không.

Cách trị: Dưỡng âm thanh nhiệt, khử phong thông lạc, hóa đờm chỉ thống.

Đơn thuốc: Thược dược mẫu đơn thang.

Công thức: Sinh bạch thược 30g, Mẫu đơn bì 10g, Cam thảo 10g, Đương quy 12g, Sinh địa hoàng 12g, Xuyên khung 6gh, Đào nhân 10g, Hồng hoa 6g, Cúc hoa 10g, Câu đằng 12g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Hiệu quả lâm sàng: Chu XX, nữ, 18 tuổi, khám lần đầu ngày 12-8-1978. Đau đầu đã 4 năm, gần như ngày nào cũng lên cơn, đau nhiều ở mé đầu phải, kèm nôn oẹ, ảnh hưởng tới ăn uống, sinh hoạt và học tập, rất khổ sở. Đã khám chữa ở bệnh viện, chẩn đoán là đau đầu do mạch máu kiểu đau nửa đầu, dùng thuốc đã nhiều mà không kết quả. Lần này đến khám, do tinh thần căng thẳng nên đau đầu càng nặng, nhìn sắc mặt kém tươi, rìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền, tế, đó là chứng mộc uất phong động. Dùng bài Thược dược mẫu đơn thang, uống liền 7 thang, chứng đau nửa đầu khỏi đến tám phần. Bèn cho thêm Phục linh 12g vào thang thuốc cũ, cho uống liền hơn 30 thang, khỏi đau đầu, các chứng đều hết. Sau hơn 3 năm, tình trạng vẫn tốt.

Bàn luận: Bài thuốc dùng cho ca bệnh này là do kết hợp 3 bài Thược dược cam thảo thang, Đào hồng tứ vật thang, Đan chi tiều dao tán thêm bớt mà thành, đem điều trị bệnh đau đầu do mạch máu kiểu đau nửa đầu được thực tế lâm sàng chứng tỏ cho kết quả rất lý tưởng.

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com