Logo
Loading...

Sách Nội Kinh Tố Vấn

Hoàng đế Nội Kinh Tố Vấn

THIÊN 36 : THÍCH NGƯỢC

Chứng Ngược phát từ kinh Túc Thái dương, khiến người yêu đau, đầu nặng, rét từ phía lưng phát sinh, trước hàn sau nhiệt, hơi nóùng bừng bừng ngùn ngụt... Lúc nhiệt, mồ hôi toát ra mà bệnh vẫn không đứt. Thích ở huyệt Uûy trung cho ra huyết [1].

Bệnh phát từ mạch Túc Thiếu dương, khiến người thân thể mỏi mệt, không hàn lắm, không nhiệt lắm, ghét thấy người, thấy người phấp phỏng sợ hãi... Nhiệt nhiều, hãn ra nhiều... Nên thích ở huyệt Túc Thiếu dương. Hiệp khê [2].

Bệnh ngược phát từ Túc Dương minh, khiến người trước rờn rợn ghê rét... Dần dần lâu mới nhiệt, đến lúc nhiệt giảm, hãn ra, thấy nhật nguyệt quanh và hỏa khí, đều lấy làm thích... Thích huyệt Túc Dương minh, xương dương [3].

Bệnh ngược phát tứ Tức Thái âm, khiến người không vui, thường thở dài, không thiết ăn, hàn nhiệt nhiều một khi hãn ra thời bệnh lại phát, phát thời ọe, ọe khỏi thời bệnh lui. Nên thích ngay. Công tôn [4].

Bệnh ngược phát từ Túc Thiếu âm khiến người nóùân thổ nhiều, nhiệt nhiều hàn ít, chỉ muốn đóng kín cửa lại để nằm... Bệnh này khó khỏi [5].

Bệnh ngược phát từ Túc quyết âm, khiến người yếu đau, thiếu phúc mãn, tiểu tiện không lợi, như long bế, mà không thật long bế, nhưnng lại muốn tiểu luôn, ý chí như sợ sệt, khi bất túc, trong bụng thường áy náy khó chịu... Nên thích túc Quyết âm. Thái xung [6].

Bệnh ngược phát tù Phế khiến người Tâm hàn, hàn rồi lại nhiệt, nhiệt đỡ lại hay sợ, như trông thấy vật gì... Thích Thủ Thái âm, Dương minh, liệt khuyết, Hợp cốc [7].

Bệnh ngược phát từ Tâm, khiến người trong Tâm rất phiền, chỉ muốn uống nước mát, lại hàn nhiều nhiệt ít... Nên thích Thủ Thiếu âm. Thần môn [8] .

Bệnh ngược phát từ Can, khiến người sắc mặt tái xanh, hay thở dài, như người sắp chết... Nên thích Túc Quyết âm, cho ra máu. Trung phong [9].

Bệnh ngược phát từ Tỳ, khiến người hàn, trong bụng đầy, nhiệt thời ruột sôi, sôi rồi hãn ra. Nên thích Túc Thái âm. Thương khâu [10].

Bệnh ngược phát từ Thận, khiến người nhờn nhờn ghét, yêu tích đau, phải uốn éo luôn, đại tiện khó, mắt trông trơ tráo mà không tỏ, tay chân lạnh... Thích Túc Thái dương, Uûy Trung, Thiếu âm, Đại trung [11].

Bệnh ngược phát từ vị, khiến người hay đói mà không ăn được, ăn vào lại đầy nghẽn, bụng to, thích tức dương minh, Giải khê, Túc tam lý, hoành mạch ở Túc Thái âm cho ra huyết [12].

Bệnh ngược phát rồi mình mới nóùng, thích động mạch ở trên xương khoai, lay châm cho rộng, chờ cho ra huyết, sẽ mát ngay [13].

Bệnh ngược đương lúc muốn hàn, thích Thủ Dương minh, Thiếu dương thái uyên, Thái âm, Túc Dương minh Thái âm [14].

Ngược mạch mãn và đại cấp dùng “trung châm” thích Bối du, và bên năm Khư du, mỗi huyệt một châm, theo đúng người béo gầy, chờ cho ra huyết [15].

Ngược mạch tiểu thực và cấp, “Cứu” huyệt Thiếu âm ở ống chân, thích huyệt Chỉ tỉnh [16].

Ngược mạch mãn, đại và cấp, thích Bối du, năm khư du, mỗi nơi một lần, chỉ để vừa hành huyết thời thôi [17].

Ngược mạch hoãn và quá hư, nên dùng thuốc uống, không nên dùng châm [18].

Phàm trị bệnh ngược, trước khi phát bệnh bằng một bữa ăn (ước nửa giờ đồng hồ) mới có thể chữa. Nếu quá lúc đó, sẽ lỡ, không nên chữa [19].

Các bệnh ngược, nếu không thấy biểu hiện ra ở mạch, thích mười đầu ngón tay cho ra huyết, huyết ra tất khỏi. Lại xem ở mình có những nóùát đỏ và nhỏ như hạt đậu, cũng thích cả đi [20].

Mười hai chứng ngược, lúc phát ra không giống nhau và cùng một lúc, phải nên xem xét bệnh hình, để biết thuộc về Tàng nào... [21]

Biết lúc bệnh phát, trước một lát bằng bữa ăn cơm, sẽ thích [22]. Một lần thích thời tà khí suy, hai lần thích thời bệnh bớt, ba lần thích thời khỏi. Nếu chưa khỏi, thích hai mạch ở dưới lưỡi cho ra huyết, nếu vẫn không khỏi, thích huyệt Uûy trung cho ra huyết, lại thích luôn cả Khư du và Bối du, tất khỏi. Hai mạch dưới lưỡi, tức là Liêm tuyền [23].

Thích bệnh ngược, phải thích vào khoảng giữa nơi bệnh sẽ phát[24]. Nếu trước nhức đầu và chân đi khó khăn nên thích trên đầu với hai bên Huyền lô trán, khoảng giữa hai lông mày trước, cho ra huyết [25]. Nếu cổ và lưng đau trước, thích trước ở các huyệt đó [26]. Nếu yêu tích đau trước, thích huyệt Uûy trung cho ra huyết [27]. Nếu tay và cánh tay đau trước, trước thích ở huyệt Thủ Thiếu âm, Dương minh [28]. Nếu ống chân đau nhức trước, thích mười ngón chân thuộc Túc Dương minh trước, cho ra huyết [29].

Về chứng phong ngược, khi bệnh phát thời hãn ra và ố phong. Thích bỏ huyết ở Tam dương kinh và Bối du [30].

Oáng chân đau quá, bóp mãi không khỏi, gọi là “Phụ tủy bệnh” dùng “Xàm châm” thích xâu vào xương huyết ra, khỏi ngay [31].

Thân thể hơi đau, thích Chí âm [32].

Các Tỉnh huyệt thuộc âm kinh, chưa ra huyết, nên cách ngày thích một lần [33].

Ngược không khát, cách ngày bệnh phát, thích Túc Thái dương, khát mà cách ngày bệnh phát, thích Túc Thiếu dương [34].

Oân ngược, hãn không ra được, nên thích năm mươi chín huyệt [35].

THIÊN 37 : KHÍ QUYẾT LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Năm Tàng, sáu Phủ, hàn nhiệt cùng chuyển di như thế nào? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Thận di hàn tới Tỳ, gây nên chứng ung, thũng, thiểu khí [2]. Tỳ di hàn tới Can, gây nên chứng ung thũng, co gân. Can di hàn tới Tâm, gây nên chứng cuồng và Cách trung [3]. Tâm di hàn tới Phế, gây nên chứng Phế tiêu, Phế tiêu là một chứng uống vào một phần, đi tiểu ra hai phần không thể chữa được [4]. Phế di hàn tới Thận, gây nên chứng Dũng thủy, “Dũng thủy” là một chứng án vào phúc bộ không kiên, thủy khí ký túc ở Đại trường, đi nhanh thời trong bụng kêu óc ách, như túi chứa nước. Hoàn toàn là thủy bệnh [5].

Tỳ di nhiệt tơí Can, thời gây nên chứng kinh, và Nục [6]. Can di nhiệt tới Tâm thời chết [7]. Tâm di nhiệt tới Phế, gây nên chứng Cách tiêu [8]. Phế di nhiệt tới Thận, gây nên chứng Nhu chí [9]. Thận di nhiệt tới Tỳ, gây nên hư và trường tiết, khó chữa [10].

Bào di nhiệt tới Bàng quang, gây nên chứng “long” và tiểu ra huyết [11]. Bàng quang di nhiệt tới Tiểu trường [12].

Cách trường không thấm xuống được, gây nên chứng lở nát trong miệng [13]. Tiểu trường di nhiệt tới Đại trường, gây nên chứng phục giả, chứng Trĩ [14]. Đại trường di nhiệt tới Vị ăn nhiều mà gầy mòn, gọi là chứng Thực diệc [15]. Vị di nhiệt tới đởm cũng gọi là chứng thực diệc [16]. Đởm di nhiệt tới Não, thời đau nhức ở trán và Ty uyên, rồi lại thêm cả chứng mục và mờ mắt. Đó, đều gây nên bởi khí quyết (1) [17].

THIÊN 38 : KHÁI LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Bệnh ở Phế, mà thành chứng ho, là vì sao? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Năm Tàng sáu Phủ, đều gây nên chứng “khái” không riêng gì một Phế [].

Xin cho biết chứng trạng... [3]

Bì mao, gốc sinh ra tự Phế. Bào mao mắc phải tà khí trước, tà khí liền theo với chỗ gốc sinh ra khái [4].

Các thức uống ăn có tính lạnh lọt vào Vị theo Phế mạch dẫn lên Phế, thời Phế hàn, Phế hàn thời trong ngoài đều có tà, tà ký túc luôn ở đó, liên gây nên chứng Phế khái [5].

Năm Tàng đều theo về từng mùa, để mắc bệnh, nếu không phải mùa, sẽ truyền lẫn cho nhau [6].

Người với trời đất, “tương tham”, cho nên năm Tàng đều theo từng mùa để chủ trị [7].

Cảm vì hàn thời mắc bệnh, nhẹ thời gây nên chứng khái, nặng thời gây nên chứng tiết, chứng thống (đau) [8].

Gặp mùa Thu, thời Phế bị tà trước, gặp mùa Xuân, thời Can bị tà trước, gặp mùa Hạ thời Tâm bị tà trước, gặp chí âm Thời Tỳ bị tà trước, gặp mùa Đông thời Thận bị tà trước [9].

Hoàng Đế hỏi:

Chứng trạng khác nhau thế nào? [14]

Kỳ Bá thưa rằng:

Chứng Trạng của Phế khái, khái mà thở suyễn thành tiếng, quá lắm thời nhổ ra huyết [16]. Chứng Trạng của Tâm khái, khái thời Tâm thống, trong cuống họng vướng mắc như nghẹn, quá lắm thời yết thũng, hầu tý [17]. Chứng trạng của Can khái, khái thời hai hiếp đau, quá lắm thời không thể trở mình, trở mình thời dươi Khư (dưới hiếp, tức lá lách) đầy [18]. Chứng trạng của Tỳ khái, khái thời Hữu hiếp đau, đau âm ỷ lên cả vai và lưng, quá lắm thời không thể cử động, cử động thời khái. Chứng trạng của Thận khái, khái thời đau nhức cả vai lưng, quá lắm thời khái ra dãi dây.

Hoàng Đế hỏi:

Chứng trạng của khái do sáu Phủ, thế nào? [20]

Kỳ Bá thưa rằng: [22]

Năm Tàng mắc khái lâu, sẽ đi sang sáu Phủ. Tỳ khái không dứt, thời di sang Vị [22]. Chứng trạng của Vị khái, lúc khái thường nóùân, quá lắm nóùân ra cả giun [23]. Can khái không dứt, thời di sang Đởm [24]. Chứng trạng của Đởm khái, lúc khái nôn ra cả Đởm trấp (chua, đắng) [25]. Tâm khái không dứt thì chuyển xuống Tiểu trường [26]. Chứng trạng của Tiểu trường khái, lúc khái thời thất khí (trung tiện), khí với khái đều mất [27]. Thận khái không dứt, di sang Bàng quang [28]. Chứng trạng của Bàng quang khái, lúc khái thời di niệu (són đái) [29]. Khái lâu không dứt thời di tới Tam tiêu. Chứng trạng của Tam tiêu khái, lúc khái thời phúc mãn, không muốn uống ăn [30]. Chứng đó đều tụ ở Vị, liên quan lên Phế, khiến bệnh nhân sinh nhiều nước mũi nước dãi, mặt phù thũng, do khí nghịch gây nên... [31]

Phương pháp liệu trị thế nào?

Trị Tàng thời trị ở Du, trị Phủ thời trị ở “hợp”, nếu phù thũng thời trị ở kinh (1) [32].

THIÊN 39 : CỬ THỐNG LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Tôi nghe người khéo nói đạo trời, tất có nghiệm ở người, khéo nóùi việc cổ, tất có hợp với kim, khéo nóùi việc người, tất có đầy đủ ở mình... Có như thế mới khỏi nhầm lẫn và có thể gọi là minh. Giờ tôi xin hỏi phu tử, làm sao nóùi mà có thể biết, trông mà có thể thấy, sờ mó mà có thể được... khiến cho có thể nghiệm ở mình, để khỏi có sự nhầm lẫn, có thể được chăng? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Xin cho biết rõ muốn biết gì? [2]

Hoàng Đế nóùi:

Xin cho biết. Năm Tàng bị “thốt thống” (vụt đau), do khí gì gây nên? [3]

Kỳ Bá thưa rằng:

Kinh mạch lúc nào cũng lưu hành không ngừng, vòng quanh không nghỉ [4]. Nếu hàm khí vào kinh mà ngừng trệ, dịt lại không dẫn đi được, ký túc ở ngoài mạch thời huyết ít, ký túc ở trong mạch thời khí không thông, nên “thốt nhiên” mà đau [5].

Hoàng Đế hỏi:

Chứng đau, có khi thốt nhiên khỏi, có khi đau quá không lúc nào dứt, có khi đau quá không thể đấm bóp, có khi đấm bóp mà đỡ đau, có khi dù đấm bóp vô ích, có khi suyễn quá, mạch bựt lên tay, có khi Tâm với bối cùng rút mà đau, có khi hiệp lặc với Thiếu phúc cùng rút mà đau, có khi phúc thống đau xuốngn âm cổ, có khi đau mãi mà thành tích, có khi đau mà nóùân, có khi trước phúc thống mà sau tiết tả, có khi đau mà vít không thông đại và tiểu... Đều không giống nhau, phân biệt thế nào cho được rành mạch? [6]

Kỳ Bá thưa rằng:

Hàn khí ký túc ở ngoài mạch thời mạch hàn, mạch hàn thời co quắp, co quắp thời cân cấp, do đó bên ngoài dẫn tới các tiểu lạc, cho nên thốt nhiên đau. Được hơi nóùng thời đau khỏi ngay. Nếu lại phạm thêm khí hàn, thời chứng đau sẽ phải lâu [7].

Hàn khí ký túc ở trong kinh mạch, cùng khí nóùng xung đột lẫn nhau, khiến cho mạch đầy ràn. Vì đầy ràn nên đau không thể đấm bóp [8].

Hàn khí ngừng trệ, khí nóùng ngược lên, do đó mạch đầy lớn mà khí huyết loạn, cho nên đau không thể đấm bóp [9].

Hàn khí ký túc ở khoảng Trường vị, phía dưới mạc nguyên, huyết không dẫn đi được, các tiểu lạc co rút, cho nên đau, đấm bóp thời huyết khí tan rã đi, nên đỡ đau [10].

Hàn khí ký túc ấy ở mạch xương sống, cho nên án mạnh tay xuống cũng không tới, nên dù có đấm bóp cũng vô ích [11].

Hàn khí ký túc ở xung mạch, xung mạch khởi quan nguyên, theo “phúc bộ” dẫn lên. Hàn khí ký túc thời mạch không thông, mạch không thông khiến cho khí nghẽn lên ở Hung nên suyễn và mạch động bựt lên tay [12].

Hàn khí ký túc ở mạch Bối du, khiến cho mạch xáp (dịt), mạch xáp thời huyết hư, huyết hư thời đau. Du đó rót vào Tâm, cho nên cùng rút mà đau. Đấm bóp thời hơi nóùng dẫn được đến, nên khỏi đau [13].

Hàn khí ký túc ở mạch quyết âm. Mạch quyết âm chằng xuống âm khí, buộc lên Bào. Về hàn khí ký túc ở trong mạch, nên huyết xáp, mạch cấp, do đó gây nên chứng hiệp lạc với Thiếu phúc rút nhau mà đau. Hàn khí ký túc ở âm cổ, mạch ở âm cổ dẫn lên Thiếu phúc, huyết bị xáp lại ở dưới rút lên, nên phúc thồng thời đau rút xuống cả âm cổ [14].

Hàn khí ký túc ở khoảng Tiểu trường Mạc nguyên, và ở bên trong Lạc huyết. Huyết bị xáp không chảy được tới đại kinh, huyết với khí ngừng trị không dẫn đi được, cho nên dần dà thành tích... [15]

Hàn khí ký túc ở năm Tàng, quyết nghịch tiết trở lên, âm khí kiệt, dưỡng khí không lọt vào được thời lại sống [16].

Hàn khí ký túc ở Trường vị, quyết nghịch ngược lên, cho nên đau mà nóùân [17].

Hàn khí ký túc ở Tiểu trường, tại đó không thể gây thành chứng tụ, cho nên sau khi đau thời tiết hạ [18].

Nhiệt khí lưu ở Tiểu trường, trong Tiểu trường đau, nóùng nhiều và tiêu khát... Khí nóùng làm tiêu khô các vật cặn bã trong tiểu trường, nên đau mà ví không thông [19].

Hoàng Đế hỏi:

“Nóùi mà có thể biết, trong mà có thể thấy” là thế nào? [20]

Kỳ Bá thưa rằng:

Năm Tàng, sáu Phủ đều có bộ vị ở mặt. Trước hãy xem ở sắc Hoàng, Xích là nhiệt, bạch là hàn, thanh và hắc là thống... Đó là trong mà có thể thấy [21].

Sờ mó mà biết được, là thế nào? [22]

Trông cái mạch của chủ bệnh “kiên” mà đầy huyết, với lúc ấn tay lõm xuống… Đó đều là do sờ mó mà biết [23].

Hoàng Đế hỏi: [24]

Tôi biết trăm bệnh, phần nhiều sinh ra bởi khí. Nóùä thời khí thượng (ngược lên), hỷ thời khí hoãn, bi thời khí tiêu, khủng thời khí hạ (dẫn xuống), hàn thời khí thâu, thử thời khí tiết, kinh thời khí loạn, lao thời khí háo (hao mòn), tư (nghĩ ngợi), thời khí kết... Chín thứ khí không giống nhau, vậy chứng hậu như thế nào? [25]

Kỳ Bá thưa rằng:

Nóùä thời khí nghịch, quá lắm thời nóùân ra máu, hoặc thành chứng xôn, tiết [26].

Hỷ thời khí hòa, chí đạt, vinh vệ thông lợi, nên khí hoãn [27].

Bi thời Tâm hệ co rút. Phế xèo rộng ra, khiến cho Thượng tiêu không thông vinh, vệ không bố tán. nhiệt khí lưu lại bên trong, nên khí tiêu [28].

Khủng thời tinh bị sụt xuống, khiến cho Thượng tiêu bị vít, vít thời khí lại phải quay trở xuống, khiến cho Hạ tiêu phát trướng. Cho nên khí không lưu hành [29].

Hàn thời tấu lý bị vít, khí không dẫn hành được, nên phải thâu liễm lại [30].

Thử thời tấu lý dãn ra, vinh vệ thông, hãn ra nhiều, nên khí tiết [31].

Kinh thời Tâm không tựa vào đầu, thần không nhờ vào đâu, cho nên khí loạn [32].

Lao thời suyễn và hãn đều tiết ra, trong ngoài đều háo tán, nên khí háo [33].

Tư thời Tâm buộc vào một nơi, thần chú vào một việc, khiến cho chính khí lưu trệ không lưu thông, nên mới thánh khí kết [34].

THIÊN 40 : PHÚC TRUNG LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc bệnh tâm phúc mãn, sớm ăn thời chiều không thể ăn... Bệnh đó tên là gì? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó tên là Cổ trướng [2].

Hoàng Đế hỏi:

Điều trị thế nào? [3]

Kỳ Bá đáp:

Dùng kê thỉ lễ. Một liều bớt, hai liều khỏi.

Hoàng Đế hỏi:

Có khi lại phục phát là vì sao? [4]

Đó là do sự uống ăn không giữ gìn, nên mới gây nên sự “ngã lại” như vậy [5].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc chứng “đầy ách” ở Hung Hiếp và chi lạc, không ăn được. Mỗi khi bệnh sắp phát, thời như ngửi thấy mùi tanh hôi nước mũi chẩy ra, nhổ ra huyết, tứ chi lạnh, mắt hoa, thường thường đại, tiểu tiện cũng ra huyết... Đó là bệnh gì? Vì sao mà mắc phải? [6]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó gọi là huyết khô. Nguyên nhân do lúc ít tuổi, có sự gì thoát mất nhiều huyết, hoặc nhân lúc say rượi mà nhập phòng, trung khí kiệt. Can thương, ở con gái thời nguyệt cự không xuống được [7].

Điều trị dùng phương pháp nào? làm sao để phục hồi? [8]

Dùng bốn phần Ô tặc cốt, một phần Lự nhự. Hai vị hợp lại dùng Trứng chim sẻ luyện làm hoàn, viên bằng hạt đỗ nhỏ. Mỗi lần dùng 5 viên sau khi ăn cơm, tiêu với nước Bào ngư... Thuốc đ làm cho lợi trường. Can bị tổn thương [9].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc chứng thiếu phúc to phình lên, trên dưới tả hữu như có rễ. Đó là bệnh gì? [10]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó tên là Phục lương [11].

Vì sao mắc chứng ấy? Phục lương do đâu mà có? [12]

Có một túi bọc máu và mủ đặc ở ngoài Trường Vị... Rất khó chữa. Mỗi khi án mạnh tay vào chỗ đó, thời đau điếng muốn chết [13].

Vì sao mắc bệnh ấy [14].

Đó vì: ở dưới thời liền với Tam âm, tất có lúc cũng “hạ” ra đôi ít nùng huyết, ở trên thời với Vị quản, tất có mọc “Ung” ở trong Vị quản... Tất phải trả qua lâu ngày lắm mới gây nên bệnh ấy. Rất khó chữa [15]. Nếu ở phía trên rốn là nghịch, ở phía dưới rốn là thuận [15]. Đừng động đến. Về phép điều trị, đã bàn rõ ở thiên Thích pháp [17].

Hoàng Đế hỏi:

Có người suốt cả thân thể, đùi, vế, chân đều thống, lại đau ở xung quanh rốn... Là bệnh gì? [18]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó cũng gọi là Phục Lương, tức là phong căn, (gốc của chứng phong [19]. Cái khí phong tà, tràn ra ở Đại trường, mà bám vào Hoang [20]. Mà cái gốc của Hoang lại ở dưới rốn, nên mới đau ở xung quanh rốn [21]. Không nên vọng động vào nóù. Nếu động vào nó sẽ gây nên chứng thủy sáp (tiểu tiện buốt, nhỏ giọt, không ra được) [22].

Hoàng Đế hỏi:

Phu tử thường nói chứng nhiệt trung, Tiêu trung không nên dùng các thứ cao lương, phương thảo, Thạch dược... Nếu dùng thạch dược sẽ phát điên, dùng phương thảo sẽ phát cuồng... [23] Nghĩ như chứng nhiệt trung, tiêu trung, phần nhiều chỉ hạng người phú quý hay mắc. Giờ dùng thức cao lương, thế là không hợp với lòng họ, cấm dùng phương thảo thạch dược thì bệnh không sao khỏi được. Vậy xin cho biết phải liệu trị thế nào bệnh đó [24].

Kỳ Bá thưa rằng:

Cái khí của phương thảo tốt, cái khí của thạch dược hãn (dữ tợn, độc). Hai thứ khí ấy đều có cái tính “cấp, tật, kiện, kính...” Cho nên, nếu không phải là người có tâm tính hòa hoãn không uống được nóù [24]. Phàm nhiệt khí thời lật hãn (dữ tợn), khí cũng vậy, hai thứ ấy gặp nhau sẽ gây nên sự xung đột, e làm nóùäi thương đến Tỳ. Tỳ thuộc thổ mà ghét mộc. Nếu uống thứ thuốc ấy, đến ngày Giáp Aát sẽ nguy [25].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc chứng: Ung thũng, cảnh thống. Hung mãn phúc trướng. Đó là bệnh gì? Vì cớ sao mắc phải? [26]

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó là bệnh quyết nghịch [27].

Điều trị thế nào? [28]

Nếu dùng phép Cứu thời ám (câm không nói được), dùng phép thích thời phát cuồng... Đợi đến lúc huyết khí cùng hợp lại với nhau, mới có thể chữa. Vì sao? Dương khí đã bốc nhiều lên trên, tức là ở trên hữu dư, nếu cứu thời dương, khí sẽ thụt vào âm, vào âm thời thành ấm, nếu thích thời dương khí hư, hư thời sẽ phát cuồng. Vậy phải đợi lúc huyết khí cùng hợp với nhau sẽ chữa, mới mong toàn vẹn được [29].

Hoàng Đế hỏi:

Sao có thể biết đàn bà có thai? [30]

Kỳ Bá thưa rằng:

Vì là người bệnh (như nôn ọe, mỏi mệt, không muốn ăn v.v...), mà chẩn mạch thời mạch không có bệnh [31].

Hoàng Đế hỏi:

Người mắc bệnh nhiệt, mà có đau là vì sao? [32]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh nhiệt đó thuộc về Dương mạch. Do khi của Tam dương động. Nhân một thịnh thuộc Thiếu dương, hai thịnh thuộc Thái dương, ba thịnh thuộc Dương minh, rồi mới vào các kinh âm. Vì Dương lấn vào âm, nên mới mắc bệnh ở đầu với phúc. Do đó mới sinh ra sân trướng và đầu thống [33].

Hoàng Đế khen phải.

CHƯƠNG 41 : THÍCH YÊU THỐNG

Túc Thái dương mạch, khiến người yêu thống (đau ngang chỗ thắt lưng), đau rút suốt xương sống lên cổ, dưới xuống tới xương khu... Lưng như mang vật gì nặng. Thích Uûy trung thuộc chính kinh Thác dương cho ra huyết. Mùa xuân đừng để thấy huyết [1].

Mạch kinh Thiếu dương khiến người yêu thống, như người lấy kim đâm vào trong da, không thể cúi ngửa, không thể ngảnh đi ngảnh lại... Thích vào đầu thành cốt thuộc kinh Thiếu dương cho ra huyết. Thành cốt ở tại đầu gối, phía ngoài bên cạnh xương bánh chè. Mùa hạ đừng để cho thấy huyết [2].

Mạch kinh Dương minh, khiến người yêu thống không thể ngoảnh đi ngảnh lại... Nếu ngảnh lại hoảng hốt như trông thấy gì lạ… Thích ba nốt tại trước ống chân thuộc Kinh Dương minh, để cho trên dưới đều hòa và ra huyết. Mùa Thu đừng để cho thấy huyết [3].

Mạch kinh Túc Thiếu Âm khiến người ta bị yếu thống, đau suốt xương sống và cổ “Nổi liêm”. Thích hai nốt tại phía trong xương thuộc kinh Thiếu âm. Mùa Xuân đừng để cho thấy huyết. Nếu ra huyết quá nhiều sẽ khó hồi phục [4].

Mạch kinh quyết âm khiến người yêu thống, trong “yêu” cứng đờ như giương dây cung nốt... thích ở mạch quyết âm, mạch đó ở sâu trong bọng chân, rờ tay vào thấy chỗ nào xúc xỉu tức là mạch, sẽ thích. Bệnh này khiến người hay nóùi, nhưng lại nói lộn xộn. Nên thích ba nốt [5].

Bệnh ở giải mạch khiến người yêu thống, đau rút lên vai, mắt trong mập mờ, thỉnh thoải lại di niệu. Thích giải mạch tại chỗ bên ngoài khe khớp xương đầu gối, thích hoàng mạch ở đó cho ra huyết, mủ trung thấy sắc huyết đổi sắc thì thôi. Bệnh ở giải mạch khiến người yêu thống như buộc chắc dây lưng thường như muốn gãy, lại hay sợ. Mạch này tại ủy trung, có kết lạc nổi lên như hạt gạo, thích vào đấy sẽ bắn máu ra. Thấy máu biến sắc đen thì khỏi [7].

Bệnh tại mạch Đồng âm, khiến người yêu thống tái yêu nổi lên như cái dùi nhỏ. Thích mạch Đồng âm, tại đầu phía trên mắt cá ngoài [7].

Bệnh ở Dương Duy khiến người yêu thống đau mà nổi cồn lên như thũng. Mạch này cùng với mạch Thái dương hợp, cách xương khoai 7 tấc, các đất một thước [8].

Bệnh ở mạch Hành lạc, khiến người yêu thống, không thể cúi ngửa. Nếu ngửa lên thời như muốn ngã. Bệnh này gây nên bởi mang vật nặng làm thương đến yêu, ác huyết tụ lại đó. Thích ở khoảng gần Khích dương hai nốt cho ra huyết [9].

Bệnh ở mạch Hội âm, khiến cho người yêu thống, lúc đau mồ hôi ra đằm đìa, tới khi mồ hôi ráo đi, khiến người khát muốn uống nước, lúc uống nước rồi lại muốn chạy. Thích mạch trước dương. Thích trên mạch trực dương ba nóùát. Mạch này tại trên Kiểu dưới Khích 5 tấc, nóù nằm ngang. Thấy mạch đó thịnh, phải để cho xuất huyết [10].

Bệnh ở mạch Phi dương khiến người yêu thống, lúc đau tê tái rầu rĩ, quá lắm thời kiêm cả bi và khủng. Thích mạch Phi dương tại phía trong xương khoai 5 tấc, trước mạch Thiếu ấm, cùng hội với mạch âm duy [11].

Bệnh ở mạch Xương dương khiến người yêu thống, đau rút sang lồng ngực, quá lắm, lưng như gãy, mắt trong lòe loẹt, lưỡi cong lại không thể nóùi, thích hai nốt ở Nội Cân, huyệt tại trước Giao tín, Đại cân phía trên xương khoai, và dưới xương khoai sau huyệt Thái âm hai tấc [12].

Bệnh ở Tán mạch khiến người yêu thống mà nhiệt, Nhiệt quá sinh phiền. Trong yêu như có mảnh gỗ chắn ngang, quá lắm thời di niệu. Thích Tán mạch tại khe thịt trước xương gối, tức là Thúc mạch. Thích ba nốt [13].

Bệnh ở mạch Nhục lý khiến người yêu thống đau không thể ho, ho thời gân rút gấp. Thích hai nốt ở mạch Nhục lý huyệt tại Dương phụ bên ngoài huyệt Thái dương và phía sau Tuyệt cốt thuộc Thái dương [14].

Yêu thống suốt lên xương sống, đau đến nóùãi cổ chỉ hơi ngọ ngoạy được, mắt trong lòe loẹt, như muốn ngã. Thích ở huyệt Khích trung thuộc Thái dương cho ra huyết. Uûy trung [15].

Yêu thống mà bộ phận trên hàn, thích ở huyệt Thái dương, Dương minh. Bộ phận trên nhiệt, thích ở huyệt Túc quyết âm đau không thể cúi ngửa, thích ở huyệt Thiếu dương, bên trong nóng mà suyễn, thích ở huyệt Thiếu âm, và thích ở huyệt Ủy trung cho ra huyết [16].

Yêu thống mà bộ phận trên hàn, đến không thể ngảnh đi, âm thụ ngảnh lại, thích ở huyệt Túc Dương minh, nếu bộ phận trên nhiệt, thích ở huyệt Túc Thái âm, nếu trung nhiệt mà suyễn, thích ở huyệt Túc thiếu âm [17].

Đại tiện khí, thích ở huyệt Túc quyết âm [18].

Thiếu phúc mãn, thích ở huyệt Túc quyết âm [19].

Đau nhữ gẫy, không thể cúi ngửa, không thể cử động, thích huyệt Túc Thái dương [20].

Đau rít lên trong đường xương sống, thích ở huyệt Túc Thiếu âm [21].

Yêu thống rút xuống Thiếu phúc, không thể ngửa, thích ở huyệt yêu cầu giao hai bên, lấy số ngày “sinh tử” của mặt trăng để định nốt thích (1), rút châm, khỏi ngay. Đau bên tả, thích bên hữu, đau bên hữu thích bên tả [22].

THIÊN 42 : PHONG LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Phong nó làm thương người, hoặc phát chứng hàn nhiệt, hoặc là chứng nhiệt trung, hoặc là chứng hàn trung, hoặc là lệ phong, hoặc là thiên khô, hoặc là phong... Bệnh đã khác nhau, danh cũng không giống, hoặc phạm tới cả năm Tàng sáu Phủ... Không hiểu nguyên nhân ra sao, xin cho biết rõ [1].

Kỳ Bá thưa rằng:

Phong khí tàng ở khoảng bì phu, trong không thể thông, ngoài không thể tiết... Nó “dẫn đi rất chóng mà biến đổi luôn” làm tấu lý mở rỗng, thời ghê rợn mà rét, làm tấu lý vít lấp, thời nhiệt mà khó chịu [2]. Nó hàn thời uống ăn kém sút, nó nhiệt thời cơ nhục hao mòn [3]. Nếu làm cho người bợt bạt mà không ăn được thời gọi là Hàn nhiệt [4].

Phong khí với khí của Dương minh dồn vào Vị, đi vòng lên đến phía đầu mắt, nếu là người béo, thời phong khí không tiết ra ngoài được, sẽ gây nên chứng Nhiệt trung mà mắt vàng, nếu là người gầy, thời tiết ra ngoài mà hàn, sẽ gây nên chứng hàn trung và chảy cả nước mắt, nước mũi [5].

Phong khí cùng vào với khí của Thái dương, dẫn đi ở mạch du, giải rắc ra ở khoảng phận nhục, cùng xung đột với Vệ khí, khiến cho mạch đạo không thông lợi, gây nên chứng cơ nhục sùi sưng thành mụn lở. Vệ khí có chỗ không dẫn hành được, sẽ gây nên chứng bất nhân [6].

Về Lệ phong, do vinh khí nhiệt tụ ở cơ nhục, khiến khí không trong mát, gây nên chứng dọc mũi loét nát mà sắc bại, bì phù lở nát. Phong hàn ký tục ở mạch mà không dẫn đi ngược, gọi là Lệ phong, hoặc lại gọi là “hàn, nhiệt” [7].

Tiết lập xuân, ngày Giáp, Aát, bị thương vì Phong, gọi là Can phong, mùa Hạ, Bính, Đinh bị thương vì phong, gọi là Tâm phong, mùa qúi hạ, Mậu, Kỷ bị thương vì phong, gọi là Tỳ phong, mùa Thu, Canh Tân bị trúng về tà, gọi là Thận phong [8].

Phong trúng Du huyệt của năm Tàng sáu Phủ, cũng gọi là phong của Tàng, Phủ [9].

Nếu trúng vào cửa ngõ của khí huyết, thời gọi là Thiên phong [10].

Phong khí theo phong phủ mà dẫn lên, gọi là Não phong [11].

Phong khí phạm vào đầu hệ, thời gây nên chứng mục phong, nhãn hàn [12].

Uống rượu mà trúng phong, thời là Lậu phong [13].

Nhập phòng, hãn ra mà trúng phong, thời là Nóäi phong [14].

Mới gội đầu mà trúng phong, thời là Thủ phong [15].

Phong phạm vào bộ phận trong đã lâu ngày, thời tà chứng Trường phong, Xôn tiết [16].

Phong lưu ở ngoài Tấu lý, thời là Tiết phong... [17]

Cho nên “phong là trưởng của trăm bệnh”. Đến khi nó biến hóa để gây nên chứng bệnh khác thời không có phương hướng nhất định... Nhưng tóm lại thời lúc nào cũng do “phong khí” mà gây nên [18].

Hoàng Đế hỏi:

Năm Tàng bị phong, chứng trạng khác nhau thế nào, và xin cho biết phép chẩn với bệnh nặng (sự biến chuyển của bệnh...) [19]

Kỳ Bá thưa rằng:

Chứng trạng của Phế phong, nhiều hãn mà ố phong, thỉnh thoảng ho, hơi thở ngắn, ban ngày nhẹ, về đêm nặng. Chẩn ở phía trên lông mày, sắc trắng bợt [20].

Chứng trạng của Tâm phong nhiều hãn mà ố phong môi khô rộp, hay giận giữ. Bệnh nặng thời nói ra khó khăn. Chẩn ở miệng, sắc đỏ [21].

Chứng trạng của Can phong nhiều hãn mà ố phong, hay bị (buồn, thương), họng khô, hay giận, có ý như ghét đàn bà. Chẩn ở dưới mắt, sắc mặt tái xanh [22].

Chứng trạng của Tỳ phong, nhiều hãn mà ố phong, thân thể mỏi mệt, tứ chi không muốn cử động, không muốn ăn, chẩn ở trên mũi, sắc vàng [23].

Chứng trạng của Thận phong, nhiều hãn mà ố phong, mặt phù thũng, xương sống đau không đứng thẳng được, trong lòng có sự như không được toại ý. Chẩn ở ngoài da, sắc sạm đen [24].

Chứng trạng của Vị phong, cổ nhiều hãn mà ố phong, uống ăn khó khăn, như có vướng mắc nuốt không trôi, phúc bộ hay đầy, nếu không đắp bụng thời hay trướng, ăn thức hàn thời sinh tiết tả. Chẩn thấy thân thể gầy mà bụng to [25].

Chứng trạng của Thủ phong, đầu và mặt nhiều hãn mà ố phong. Trước chứng phong phát sinh một ngày thời bệnh nặng, đầu nhức đến nóãi không thể bước ra ngoài, đến ngày phong phát, thời bệnh lại hơi bớt [26].

Chứng trạng của Lậu phong, có nhiều hãn, thường không dám mặc áo đơn, đến bữa ăn thời hãn ra, có khí hãn nhiều mà thở suyễn, ghê gió, áo thường ẩm ướt vì hãn, miệng khô và khát, không làm được công việc nhọc mệt [27].

Chứng trạng của tiết phong, nhiều hãn, hãn ra ướt cả áo, trong miệng khô, không làm được việc nặng nhọc, toàn thân đều đau và rét...(Rét vì ra hãn nhiều, thành vong dương) [28].

CHƯƠNG 43: TÝ LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Bệnh Tý (tê, đau) vì đâu sinh ra? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Ba khí “phong, hàn, thấp” lẫn lộn dồn đến, hợp lại thành chứng Tý. Trong ba khí đó, nếu phong khí thắng thời là Hàn Tý, hàn khí thắng thời là Thống tý, Thấp khí thắng thời là Chước tý [2].

Hoàng Đế hỏi:

Tôi nghe lại có năm chứng Tý, là vì sao? [3]

Kỳ Bá thưa rằng: Mắc bệnh về mùa Đông, là Cốt tý, mắc bệnh về mùa Xuân gọi là Cân tý, mắc bệnh về mùa hạ gọi là Mạch tý, mắc bệnh vào thời điểm Chí âm gọi là Cơ tý, mắc bệnh về mùa Thu gọi là Bò tý [4].

Hoàng Đế hỏi:

Có khí ở bên trong, ký túc vào năm Tàng, vậy khí nào làm nên thế? [5]

Kỳ Bá thưa rằng:

Năm Tàng đều có “Hợp” bệnh mắc lâu không giải đi được, sẽ ký túc vào nơi “hợp” đó. Cho nên, nếu Cốt tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Thận, Cân tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Can, Mạch tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Tâm, Cơ tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Tỳ, Bì tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Phế... [6] Vậy, phàm chứng Tý, đều theo về từng mùa, rồi lại cảm thêm với khi phong, hàn, thấp... mà gây nên [7].

Phàm chứng Tý ký túc ở năm tàng, sinh ra các chứng trạng sau này: [8]

Phế tý thời phiền mãn, suyễn mà ẩu (ọe) [9].

Tâm tý thời huyết mạch không thông, vì tà bách dưới Tâm, dồn mạnh phạm lên Tâm tàng, nên phiền, lại thêm chứng thượng khi mà suyễn, cuống họng khô, hay ợ, quyết khí ngược lên nên hay khủng [10].

Can Tý, đêm nằm hay giật mình, uống nước nhiều, tiểu tiện luôn, trong bụng anh ách, như đàn bà có thai [11].

Thận tý hay trướng, xương khu dồ lên, xương sống gù xuống [12].

Tỳ tý thời tứ chi mỏi mệt rã rời, hay lo, nóân ra nước dãi, trên Hung bị nghẽn [13].

Trường tý, uống nước luôn mà không tiểu tiện ra được, trung khí suyễn cấp, thỉnh thoảng lại thành chứng xôn tiết [14].

Bào tý thời thuộc bộ phận Thiếu phúc và Bàng quang, án mạnh tay, thấy đau ở bên trong như dội nước nóng vào, tiểu tiện lại ít, và hay chảy nước mũi trong [15].

Phàm âm khí (tức tàng khí) tĩnh thời tàng thần, táo thời tiêu vong, nếu uống ăn quá độ. Trường Vị sẽ bị thương (nếu bị thương, tà khí sẽ thừa cơ phạm vào mà gây nên chứng tý) [16].

Nếu thấy suyễn tức quá độ, thời biết chứng Tý tụ ở Phế, thấy ưu tư quá độ, thời biết chứng Tý tụ ở Tâm, thấy sự di niệu luôn luôn, thời biết chứng Tý tụ ở Thận, thấy sự mỏi mệt quá độ, thời biết chứng Tý tụ ở Can, thấy da dẻ khô khan xãm xĩnh, thời biết Tý tụ ở Tỳ [17]. Phàm chứng Tý không khỏi, sẽ càng ngày càng nặng thêm. Duy có chứng thuộc về “phong khí thắng” thời dễ khỏi hơn [18].

Hoàng Đế hỏi: Về chứng Tý, có người bị chết, cũng có người lâu ngày mới khỏi, là vì cớ sao? Xin cho biết rõ [19].

Kỳ Bá thưa rằng: Chứng Tý, phạm thẳng vào Tàng, sẽ chết, nếu lưu niên ở khoảng gân xương, thời lâu khỏi, nếu chỉ ở khoảng bì phu, thời chóng khỏi [20-].

Hoàng Đế hỏi: Nếu lý túc ở sáu phủ thì sao? [21]

Kỳ Bá thưa rằng: Đó cũng chỉ là do sự uống ăn, cư xử mà gây nên. Sáu phủ cũng đều có Du, các khí “phong, hàn, thấp, trúng vào Du, nhân có sự uống ăn tiếp theo, do Du mà vào, rồi đến ký túc vào Phủ [22].

Hoàng Đế hỏi: Dùng châm để điều trị, thế nào? [23]

Kỳ Bá thưa rằng: Năm Tàng có Du, sáu Phủ có Hợp. Theo bộ phận của mạch, để tìm nơi mắc bệnh mà thích, sẽ khỏi [24].

Hoàng Đế hỏi: Khí của doanh, Vệ, có gây nên bệnh Tý chăng? [25]

Kỳ Bá thưa rằng: Vinh, là tinh khí của thủy cốc. Nó hòa điều ở năm Tàng, thấm nhuần ở sáu Phủ, rồi sau mới dẫn vào mạch. Mạch đó vòng khắp trên dưới, suốt qua năm Tàng và chằng vào sáu Phủ [26]. Vệ, là một thứ hãn khí (mạnh, dữ) của thủy cốc. Cái tính của nó lật tật, hoạt lợi, không thể vào trong mạch, cho nên dẫn đi ở trong bì phu, khoảng phận nhục, hun lên “hoang mạc”, tan ra “hung phúc” [27].

Trái khí đó thời sinh bệnh, thuận khí đó thời sẽ khỏi [28].

Nó không hợp với các khí phong, hàn, thấp. Nên không gây nên bệnh Tý [29].

Hoàng Đế hỏi: Bệnh Tý có khí đau, có khí không đau, có khí bất nhân, có khí hàn, có khí nhiệt, có khí táo, có khi thấp... là vì sao? [30]

Kỳ Bá thưa rằng: [31]

Đau là do hàn khí nhiều. Còn như không đau và bất nhân, là vì bệnh lâu vào sâu, Doanh Vệ dẫn đi bị rít, kinh lạc có lúc xơ rỗng, nên bất thông, bì phu không có huyết thấm nhuần, nên bất nhân [32]. Đến như chứng hàn, do Dương khí ít, Aâm khí nhiều, giúp thêm cho bệnh, nên mới hàn [33]. Đến như nhiệt, do Dương khí nhiều, Aâm khí ít, bệnh khí thắng, dương gặp âm, nên mới thành Nhiệt tý [34]. Như nhiều hãn đằm đìa, đó là vì gặp thấp nhiều [35]. Dương khí ít, âm khí thịnh, hai khí cùng cảm nhau, nên hãn mới ra đằm đìa [36].

Lại có chứng Tý, không đau là vì sao? [37]

Tý mắc ở xương thời nặng, mắc vào mạch thời huyết đọng mà không chảy, mắc ở cân thời co vào mà không duỗi ra được mắc ở thịt thời bất nhân, bì thời hàn... Gặp năm chứng đó nên không đau [38]. Phàm bệnh Tý, gặp hàn, thời như kiến bò trong da, gặp nhiệt thời gân rã rời, không cử động được [39].

THIÊN 44 : NUY LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Năm Tàng, gây nên chứng Nuy, thế nào? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Phế chủ về bì mao, Tâm chủ về huyết, Can chủ về cân mạc, Tỳ chủ về cơ nhục, Thận chủ về cốt tủy [2].

Phế nhiệt, lá phổi khô, bì mao do đó hư nhược cấp bách, gây nên chứng Nuy bịch [3].

Tâm khí nhiệt, thời mạch ở dưới, quyết mà nghịch lên trên, do đó mạch ở dưới hư, vì hư sinh ra mạch nuy, ống chân rã rời không bước đi được [4].

Can khí nhiệt thời đởm rà ra mà miệng đắng, cân mạc khô, vì khô nên cân cấp mà co rút, thành chứng Cân nuy [5].

Tỳ khí nhiệt, thời Vy khô mà khát, cơ nhục bất nhân, thành chứng nhục nuy [6].

Thận khí nhiệt nên “yêu, tích” không cất lên được, xương khô mà tủy vơi, thành chứng cốt nuy [7].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết rõ nguyên nhân... [8]

Kỳ Bá thưa rằng:

Phế là một quan “trưởng” của các Tàng, nó như cái “lọng” che cho Tâm, Có sự gì bỏ mất, cầu không thể được, thời gây nên chứng.

Phế minh (kêu). Kêu thời Phế nhiệt mà Phế diệp khô đét đi... Nên mới nói:

“Năm Tàng do “Phế nhiệt, diệp tiêu”, gây nên chứng Nuy bịch (chân lỏng gân, không lê đi được) [9].

Bi ai quá độ thời bào mạch tuyệt. Bào mạch tuyệt khiến cho Dương khí phát động ở bên trong, do đó Tâm hạ huyết băng, thành chứng tiểu ra huyết. Cho nên ở bản kinh nói: “Đại kinh không hư, gây nên chứng cơ tý, truyền làm chứng Mạch Nuy” [10].

Nghĩ ngợi quá độ, không được toại nguyện, ý dâm ở bên ngoài, lại nhập phòng vô hạn, tông cân rã rời, thành chứng cân nuy, và Bạch dâm (tinh khí tự tiết ra). Cho nên kinh nói: “chứng Cân nuy sinh ra bởi Can mà nguyên nhân là sự nhập phòng” [11].

Vì yêm lưu ở nơi ẩm thấp, khiến cho thấp khí thấm thía ở trong Cơ nhục, thành “tý” mà bất nhân, do đó gây nên chứng Nhục nuy. Cho nên Kinh nói: “Nhục nuy gây nên bởi thấp” [12].

Vì sự đi xa nhọc mệt, gặp đại nhiệt mà khát, vì khát nên Dương khí bị suy sút ở bên trong, do đó nhiệt sẽ thừa cơ ký túc ở Thận. Thận là Thủy tàng. Giờ Thủy không thắng được Hỏa, thời xương khô mà tủy vơi, nên chân không thể đi xuống đất, gây nên chứng Cốt nuy. Cho nên ở Kinh nói: “chứng Cốt nuy gây nên bởi đại nhiệt” [13].

Hoàng Đế hỏi:

Lấy gì để phân biệt? [14]

Kỳ Bá thưa rằng:

Phế nhiệt thời sắc mặt trắng bợt mà lông rụng [15]. Tâm nhiệt thời sắc mặt đỏ mà Lạc mạch ràn [16]. Cam nhiệt thời sắc mặt tái xanh mà móng tay khô [17]. Tỳ nhiệt thời sắc mặt vàng mà thịt trường rung động [18]. Thận nhiệt thời sắc mặt đen xạm mà răng se [19].

Hoàng Đế hỏi:

Vậy sao nói đến phương pháp trị chứng. Nay lại chuyên trách về Dương minh, là thế nào? [20]

Kỳ Bá thưa rằng:

Dương minh là cái biểu của năm Tàng, sáu Phủ, chủ về làm nhuận cho tông cân, tông cân chủ về bó ràng ngoài xương, để cho các khớp được hoạt lợi [21]. Xung mạch là biểu của Kinh mạch. Chủ thấm nhuần cho các Khê, Cốc (các bắp thịt lớn, nhỏ), cùng với Dương minh hợp vào tông cân. Aâm, Dương bao trùm tất cả chỗ hội họp của tông cân [22]. Aâm dương bao trùm tất cả chỗ hội họp của Tông cân, để hội ở Khí khái, mà Dương minh sẽ là Trưởng, đều thuộc về Đái mạch, mà “lại’ sang Đốc mạch. Cho nên hễ Dương minh bị hư thời Tông cân bị lỏng ra, Đái mạch không dẫn tới nữa, cho nên chân “nuy” không dùng được [23]. Điều trị thế nào? [24] Trước phải bổ Vinh, rồi thông đến Du, làm cho những hư thực được quân bình, những nghịch thuận được điều hòa, cân mạch, cốt, nhục đều theo đúng vào mùa và tháng... Thời bệnh khỏi (1) [25].

Hoàng Đế khen là đúng.

CHƯƠNG 45 : QUYẾT LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Bệnh quyết (tay chân giá lạnh) chia ra hàn nhiệt, là vì sao ? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Dương khí suy ở dưới thời thành chứng Hàn quyết, âm khí suy ở dưới, thời thành chứng Nhiệt quyết (1) [2].

Hoàng Đế hỏi:

Về chứng Nhiệt quyết, tức là dương quyết, vậy sao lại khởi tứ túc tâm (lòng bàn chân, thuộc âm).? [3]

Kỳ Bá thưa rằng:

Dương khí phát ra khởi rừ ngoài năm đầu ngón chân. Phàm âm mạch hợp ở dưới chân mà tụ ở Túc tâm. Vì dương khí thắng, nên túc tâm nhiệt [4].

Vế chứng Hàn quyết, tức là âm quyết, vậy sao lại khởi tử năm đầu ngón tay, rồi lan đến gối.? [5]

Aâm khí phát ra khởi từ phía trong năm ngón tay, hợp ở dưới gối, mà tụ ở trên gối. Vì âm khí thắng, nên từ năm ngón tay đến trên gối hàn. Chứng hàn đó, không pháp sinh từ bên ngoài mà là từ bên trong [6].

Hoàng Đế hỏi:

Về chứng Hàn quyết, do Tàng nào bị khiếm khuyết mà gây nên? [7]

Kỳ Bá thưa rằng:

Tiền âm là nơi tụ họp của Tông cân, và là chỗ “hợp” của Thái âm, Dương minh [8].

Về hai mùa Xuân, Hạ thời dương nhiều mà âm khí ít, về hai mùa Thu Đông thời Aâm khí thịnh mà Dương khí suy [9].

Giờ người mắc bệnh đó, vì sức khỏe, về hai mùa Thu Đông làm lụng quá độ, khí ở dưới cố dẫn lên, không thể lại quay trở xuống... Do đó, tinh khí cũng bị ràn ra ở dưới. Cái tà âm hàn liền thừa cơ mà sấn lên [10].

Phàm khí, đều phải nhờ ở trung tiêu. Giờ Dương khí suy, không thể thấm nhuần ra Kinh, Lạc, dương khí càng ngày sút dần, âm khí càng ngày thịnh lên... vì vậy nên tay chân hàn [11].

Hoàng Đế hỏi:

Về chứng nhiệt quyết, do Tàng nào khiếm khuyết mà gây nên? [12]

Kỳ Bá thưa rằng:

Rượu uống vào Vị, thời Lạc mạch “mãn” mà Kinh mạch ‘hư”. Tỳ là một cơ quan du chuyển tân dịch cho Vị. Aâm khí đã hư, thời Dương khí sẽ lấn vào, do đó Vị thành ra không hòa. Vì Vị không hòa, nên tinh khí bị kiệt, không thể thấm nuôi ra Tứ chi...Vậy người mắc bệnh đó, tất do sự uống say, ăn nó mà nhập phòng, khí tụ ở Tỳ, không tán đi được. Tửu khí với cốc khí cùng xung đột nhau, nhiệt thịnh ở bên trong, cho nên khắp mình đều nhiệt, mà nước tiểu cũng đỏ [13]. Ngâm như rượu, khí của nó thịnh mà tật hãn, nó làm cho Thận khí hằng ngày suy sút, Dương khi hàng ngày tăng lên, vì vậy nên thủ túc mới nhiệt [14].

Hoàng Đế hỏi:

Về chứng quyết, có khi khiến người phúc mãn, có khi khiến người đột nhiên bất tri nhân (không biết người, tức bất tỉnh...), có người đến nửa ngày, hoặc suốt ngày, rồi mới tri nhân, là vì sao? [16]

Kỳ Bá thưa rằng:

Aâm khí thịnh ở trên thời dưới hư: vì dưới hư nên thành chứng phúc trướng mãn... Dương khí thịnh ở trên, thời khí ở dưới cũng theo lên, do đó tà khí cũng ngược lên, tà khí đã ngược lên thời Dương khí loạn. Dương khí loạn nên bất tri nhân [16].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết chứng Quyết của sáu Kinh mạch như thế nào ? [17]

Kỳ Bá thưa rằng:

Chứng Quyết thuộc kinh Cự dương thời đầu nhức và nặng, chân đi khó khăn, có khi chóng mặt mà ngã [18].

Chứng quyết của kinh Dương minh thời phát điên, chỉ muốn chạy ra kêu to, phúc mãn không thể nằm, mặt đỏ mà nóng, thấy bậy nói càn [19].

Chứng quyết của kinh Thiếu dương, bỗng dưng tai điếc, quai hàm sưng mà nhiệt, sườn đau, xương đầu gối không cử động được [20] .

Chứng quyết của kinh Thái âm, thời phúc mãn mà trướng vượt lên, đại tiện khi, không muốn ăn, ăn vào thời nóân, không nằm được [21].

Chứng quyết của kinh Thiếu âm thời miệng khô, nước tiểu đỏ, phúc mãn và tâm thống [22].

Chứng quyết của kinh quyết âm thời Thiếu phúc sưng và đau, phục trướng, tiểu tiện không lợi, hay nằm co đầu gối, âm hành rụt lại hoặc sưng, trong bọng chân nóng. Thịnh thời nên tả, hư thời nên bổ. Không thịnh không hư, nên thích ở bản kinh [23].

Chứng quyết nghịch ở Thái âm, ống chân đau rút. Tâm thống dẫn xuống phúc. Nên trị nơi chủ bệnh (tức Tỳ, vị Tỳ chủ về khí ở kinh này). (1) [24].

Chứng quyết nghịch của thiếu âm, hư mãn và ẩu nghịch, đi tả ra nước trong, nên trị nơi chủ bệnh của nó [25].

Chứng quyết nghịch của quyết âm, vòng ngang lưng đau, hư mãn và tiểu tiện bị vít, nói mê lảm nhảm... nên trị nơi chủ bệnh [26].

Ba kinh âm đều nghịch, đại tiểu đầu bị vít, khiến bệnh nhân tay chân giá lạnh, trong vòng ba ngày sẽ chết (1) [27].

Chứng quyết nghịch của Thái dương, ngã lăn, ẩu huyệt, hay Nục (đổ máu đằng mũi). Nên trị ở nơi chủ bệnh [28].

Chứng quyết nghịch của Thiếu dương, các cơ quan không dễ dàng, khiến cho yêu đau không đi được, cổ đau không ngoảnh được. Rồi phát ra chứng Trường ung, hoặc phát sinh, sẽ chết [29].

Chứng quyết nghịch của Dương Minh, suyễn và ho, mình nóng, hay kinh, nục ẩu huyết [30].

Chứng quyết nghịch của Thủ Thái âm, hư, đầy mà ho, hay nóân ra nước dãi... Trị ở nơi chủ bệnh [31].

Chứng quyết nghịch của Thủ Thái âm, Tâm thống rút lên cuống họng, mình nóng, không thể chữa [32].

Chứng Quyết nghịch của Thủ Thái dương, tai điếc, nước mắt chảy ra, cổ không thể ngoảnh được, yêu không thể cú ngửa được. Trị ở nơi chủ bệnh [33].

Chứng quyết nghịch của Thủ Dương minh, phát chứng Hầu tý, sưng trong cuống họng, hoặc thành chứng “Kinh”. Trị ở nơi chủ bệnh (1) [34].

THIÊN 46 : BỆNH NĂNG LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

- Người mắc bệnh Vị quản ung, chẩn thế nào có thể biết được? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

- Chẩn bệnh đó, nên “hậu” ở Vị mạch. Mạch đó sẽ Trầm. Tế Trầm, Tế là do khi nghịch. Nghịch thời mạch ở Nhân nghinh tất phải rất thịnh, rất thịnh nên nhiệt[2].

Nhân nghinh là mạch của Vị. Nếu nghịch mà thịnh thời đó là do nhiệt tụ ở Vị khẩu, mà không dẫn đi được, nên mới thành chứng Ung ở Vị khẩu [3].

Hoàng Đế hỏi:

Vì sao bệnh nhân không thể nằm yên? [4]

Kỳ Bá thưa rằng:

Vị Tàng bị thương, tinh khônng thể dẫn đi, qui tụ cả vào Vị, nên không thể nằm yên [5].

Không thể nằm ngửa được, là vì sao? [6]

Phế, như cái lọng che cho cả các Tàng. Phế khí thịnh nện mạch Đại, mạch đại nên không thể nằm ngửa. Đã bàn rõ ở thiên Kỳ hằng âm dương [7].

Có người mắc bệnh Quyết, chẩn mạch bên Hữu trầm mà Khẩn, mạch bên Tả Phù mà Trì...Vậy chủ bệnh ở đâu? [8]

Nếu chẩn về mùa Đông, mạch bên Hữu vốn nên Trầm Khẩn, đó là ứng với bốn mùa, mạch bên Tả Phù mà Trì, dó là trái với bốn mùa. Ở bên tả, nên chủ về bệnh ở Thận, cũng có quan hệ đến Phế, và đau ở “yêu” [9].

Vì sao? [10]

Vì mạch của kinh Thiếu âm suốt qua Thận, chằng lên phế. Giờ chẩn được Phế mạch, đủ biết là Thận cũng mắc bệnh mà thành chứng đau ở “yêu” [11].

Có người mắc chứng Cảnh ung (mụn ở cổ), hoặc dùng đá, hoặc dùng châm và cứu, mà đều khỏi, vậy chính bệnh nó ở đâu? [12]

Đó, danh tuy giống nhau, nhưng bệnh chứng lại có khác. Về khí của bệnh Ung, nên dùng đá để tả... Vì vậy nên bệnh danh không khác mà trị pháp lại khác [13].

Có người mắc bệnh “giận dữ, rồi dại”, nguyên nhân bởi đâu? [14]

Đó là sinh ra bởi khí dương ... [15]

Khí dương, sao lại có cuống? [16]

Dương khí vì nén ép, không phấn phát lên được, mới thành chứng cuồng nóä (1). Bệnh đó gọi là Dương quyết [17].

Điều trị bằng phép nào? [18]

Dương minh thời thường động, Cự dương Thiếu dương không động. Giờ lại động mà đại, tật, nên mới thành bệnh. Vậy giờ chỉ giảm bớt ăn, sẽ khỏi [19].

Phàm ăn, thời nhờ ở sự biến hóa của Thái âm mà trướng khí ở Dương minh. Dương minh là một cơ quan vừa nhiều khí lại nhiều huyết, nếu lại cho thêm thức ăn vào thời dương càng thịnh mà cuồng càng tăng. Vậy điều cần nhất là giảm bớt ăn, rồi cho uống nước “sinh thiết lạc”, vì nó có cái năng lực hạ khí rất hay [20].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc bệnh mình nóng, rã rời, hãn ra như tắm, ố phong và thiểu khi… Đó là bệnh gì? [21]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó gọi là Tửu phong [22].

Điều trị thế nào? [23]

Dùng Trạch tả, Truật, mỗi vị 10 phân, Mi hàm thảo (tức vô tâm thảo, hoặc vô phong thảo) 5 phân, dùng ba nhúm tay, uống sau khi ăn cơm [24].

Như nói: “mạch Trầm mà tế...” tức là khí chẩn mạch tin vào tay chỉ như hình “châm” lấy tay miết mạch xuống, nếu Tỳ khí tụ ở Tỳ thời mạch sẽ “kiên”, nếu Thận khí dồn lên Can, Can dồn lên Tâm thời mạch sẽ “đại” . [25]

THIÊN 47 : KỲ BỆNH LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

Có người có thai, được 9 tháng, bỗng dưng câm, là bệnh gì? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó là do mạch của bào lạc bị nghẽn... [2]

Vì sao? [3]

Bào lạc, buộc vào với mạch của Thủ Thiếu âm suốt qua Thận chằng lên cuống lưỡi... vì thế nên không nói được [4].

Điều trị thế nào? [5]

Không cần điều trị, qua 10 tháng, thai sinh rồi sẽ lại nói được [6].

Thích pháp nói: “Đừng làm tổn cho bất túc, đừng giúp ích cho hữu dư... đợi khi thành bệnh đã, rồi sau sẽ điều trị...”. “Đừng làm tổn bất túc” là vị bệnh nhân đã gầy còm, không còn dùng Châm, thạch vào đâu được nữa [7].

“Đừng giúp ích cho hữu dư..” là vì trong bụng “có hình” mà lại làm cho tiết ra, tức thời “tinh” cùng tiết ra theo, khiến cho bệnh tà được một mình chiếu cứ ở trong... Do đó, sẽ lại gây thêm bệnh [8].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc bệnh dưới hiếp mãn, khí nghịch, tới hai ba năm vẫn không khỏi, đó là bệnh gì? [9]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó gọi là “Tức tích”. Nó không trợ ngại việc ăn, nhưng không thể cứu và thích. Phả dùng phép Đạo dẫn rối mới uống thuốc, chỉ một mình thuốc không chữa được (1) [10].

Hoàng Đế hỏi:

Có người chứng thân thể, vế, đùi, bọng chân đều thũng, xung quanh rốn đau… Đó là bệnh gì? [11]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó gọi là Phục lương, tức là gốc của Phong khí nó tràn ra ngoài Đại tràng mà bám lên Hoang. Gốc của Hoang lại ở phía dưới rốn, vì thế nên đau ở xung quanh rốn. Đừng động đến nó. Nếu động đến nó sẽ gây nên thủy bệnh và Niệu sắc (tiểu tiện bí, rít, không ra được) [12].

Hoàng Đế hỏi:

Có người Xích mạch sắc quá, cân cấp mà lại hiện cả lên sắc mặt... Đó là bệnh gì? [13]

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó gọi là “Chẩn cân” (tức gân mắc bệnh). Bệnh nhân phúc bộ tất co rút, mặt hiện ra sắc trắng hoặc đen. Như vậy là bệnh [14].

Có người mắc chứng nhức đầu, vài năm mới khỏi. Vì đâu mà sinh ra như vậy? Và gọi là bệnh gì? [15]

Người đó tất từng phạm phải đại hàn, bên trong sâu vào tới xương tụy, tủy, tủy lấy não làm gốc. Vi não bị nghịch, nên thành chứng đầu thống, và đau tới cả răng. Tên bệnh là quyết nghịch [16].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc bệnh, trong miệng cứ có vị ngọt luôn, tên là bệnh gì? Vì sao mắc phải? [17]

Đó là ngũ khí ràn lên. Trên là Tỳ đản [18].

Phàm năm vị ăn vào miệng chứa ở Vị, Tỳ vì Vị dẫn hành tinh khí. Bao tân dịch đều ở Tỳ, nên thành chứng khẩu cam (ngọt ở miệng). Bệnh đó do ăn nhiều các thứ “phì mỹ” (béo, ngon) mà sinh ra [19].

Phàm chất béo, khiến người sinh chứng nóäi nhiệt, vị ngọt, khiến người sinh chứng trung mãn. Đến khi khí đó ràn lên, sẽ chuyển thành chứng Tiêu khát (vì nóäi nhiệt). Nên dùng cỏ Lan để điều trị, vì nó bài trừ được khí trầm uất (uất tích lâu ở trong) [20].

Có người mắc chứng, trong miệng có vị đắng, lấy huyệt tuyền mà miệng đắng... Tên là bệnh gì? Và vì sao mắc bệnh ấy? [21]

Bệnh đó tên là Đởm đản. Can là một cơ quan có cái nhiệm vụ như vị Tướng quân, nhưng phải thủ quyết ở Đởm, yết hầu, cuống họng là “ngoại sứ” của Can, mà cùng liên lạc với Đởm [22].

Bệnh nhân tất thường có việc mưu lự không quyết, khiến Đởm hư, khi ràn lên, thành chứng đắng miệng. Nên thích ở Đởm mạc Du. Về phương pháp điều trị, đã có ở thiên “Aâm dương thập nhị quan tương sử”

(Aùn: Thiên này, ở Tố vấn là Linh Khu đều không có. Có lẽ do một cổ kinh nào khác mà giờ không còn) [23].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc bệnh “long”, ngày đi tiểu tới vài mươi lần... Như thế là thuộc về bất túc, mình nóng như than, cổ với ức như bị ngăn cách, mạch ở Nhân nghinh táo thịnh, thở suyễn khi nghịch... Như thế là thuộc về hữu dư. Chẩn đến mạch ở Thái âm thời lại “vi, tế” như sợi tóc... Như thế lại là bất túc. Vậy bệnh đó ở đâu và tên là gì? [24]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh tại Thái âm, mà thịnh ở Vị, kiêm cả ở Phế, tên là Quyết. Chết không chữa được (1) . Đó tức là thuộc về chứng “Ngũ hữu dư, nhị bất túc” [25].

Ngũ hữu dư, nhị bất túc là gì? [26]

Năm bệnh khí thuộc hữu dư, và hai bệnh khí thuộc bất túc (2). Giờ bên ngoài đã có năm hữu dư, bên trong lại có hai bất túc, biểu lý âm dương đều đã đoạn tuyệt, còn sống làm sao được [27].

Hoàng Đế hỏi:

Người mới lọt lòng đã mắc tật điên, vậy tân bệnh là gì? Và vì sao mà mắc? [28]

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó gọi là Thai bệnh. Nguyên nhân do từ khí còn nằm trong bụng mẹ, người mẹ bị điều gì quá sợ hãi khí ngược lên mà không giáng xuống được, tinh với khí dồn ở làm một, nên đứa con mới phát chứng điên như vậy (1) [29] .

Hoàng Đế hỏi:

Có người mặt “ụ” ra như bị thủy thũng, thiết vào mạch thời Đại và Khẩn. Khắp mình không đau đớn, mình không gầy đi, nhưng không ăn được, và chỉ ăn rất ít. Đó là bệnh gì? [30]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh đó phát sinh tại Thận, gọi là Tận phong. Người mắc Thận phong, không ăn được, hay kinh (sợ), sau khi khỏi kinh, nếu Tâm khí rã rời thời sẽ chết (1) [31].

THIÊN 48 : ĐẠI KỲ LUẬN

Phàm Can khí mãn, Thận khí mãn, Phế khí mãn. Mạch tất sẽ đều “thực”, và thành chứng thũng (tức phù thũng, bệnh ở bộ phân da) [1].

Phế bị nghẽn, suyễn mà hai bên sườn (khư) mãn, nằm thời kinh, không tiểu tiện được [2].

Thận bị nghẽn, từ thiếu phúc đến dưới chân đều mãn (đầy) bộng chân có bên nhỏ bên to, nếu bệnh biến sẽ thành thiên khô [3].

Tâm mạch mãn và đại, phát thành chứng giản khiết và Cân loan (co gân) [9].

Can mạch tiểu và cấp, phát thành chứng giản khiết và Cân loan [10].

Can mạch bỗng dưng bạo loạn, tất do có sự kinh hãi. Nếu mạc không đến mà ấm (như câm không nói ra được), không cần chữa, sẽ tự khỏi (khi nào mạch đến sẽ nói được) [11].

Thận mạch tiểu và cấp, Cân mạch tiểu và cấp, Tâm mạch tiểu và cấp... [12]

Không bựt lên tay, đều là chứng giả (Một chứng thuộc loại tích tụ) [13].

Mạch của Can, Thận đều Trầm, là chứng thạch thủy, nếu đều phù, sẽ là chứng phong thủy, nếu đều hư, sẽ chết, nếu đều tiểu và huyền, sẽ phát kinh (đoạn này nói về mạch của Can bới Thận giống nhau, thời bệnh cũng không khác) [14].

Mạch của Thận Đại, Cấp và Trầm, mạch của Can Đại, Cấp và Trầm... Đều thuộc bệnh Sán (Sán tức là Sán khi, đau rút ở bụng dưới, khác với “Sán” ta thường dùng [15].

Mạch của Tâm bựt lên tay, Đoạt và Cấp, là có chứng Tâm sán, mạch của Phế Trầm và bựt lên tay là có chứng Phế sán [16].

Tam Dương mạch cấp là có chứng giả, Tam Aâm mạch cấp là có chứng Sán [17].

Nhị Aâm mạch cấp là chứng giản quyết. Nhị Dương mạch cấp là có chứng Kinh [18].

Mạch của Tỳ bên ngoài hiện ra Cổ (cũng như bác, bựt lên tay) mà bên trong Trầm, là chứng Trường tiết, lâu sẽ tự khỏi [19].

Mạch của Can Tiểu và Hoãn, chứng Trường tiết, dễ trị (Hoãn là nhiệt nhiều, Tiểu là huyết khí đều ít. Đây, vì cái khí Dương nhiệt, bách vào Aâm tàng, khiến huyết khí của Can tàng tiết xuống mà thành hư, nên mạch Tiểu và Hoãn. Nhưng Can vốn chủ về tàng huyết, nên dù bị cái khí dương nhiệt, cũng còn dễ chữa) [20].

Mạch của Thận Tiểu, bựt lên tay mà lại Trầm, là chứng Trường tiết và ra huyết. Nếu huyết ôn (ấm) mà mình nóng, sẽ chết [21].

Tâm và Can mắc chứng Trường tiết cũng ra huyết nhưng nếu hai Tàng cùng mắc bệnh, còn có thể chữa. Phàm mạch Trầm, Tiểu, Sắc là chứng Trường tiết, nếu mình nóng là chứng nguy, nóng luôn 7 ngày sẽ chết [22].

Mạch của Vị Trầm mà cổ, lại Sắc, nếu đẩy ra ngoài... Mạch của Tâm tiểu kiên và Cấp... Đều mắc chứng “Cách” và thiên khô. Con trai sẽ bị ở bên tả, con gái ở bên hữu. Nếu không “ấm” lưỡi uốn đi uốn lại được, có thể chữa, ba mươi ngày sẽ khỏi, nếu tuổi chưa đầy hai mươi, thời ba năm sẽ chết (2) [23].

Mạch đến mà Bác, huyết nục, mình lại nóng, sẽ chết, nếu nục mà mạch Câu và Phù, thời là thường mạch, không ngại (1) [24] .

Mạch đến Hoạt Cấp như Suyễn, gọi là Bạo quyết, chứng này sẽ hôn mê không biết gì [25].

Mạch đến mà Sác, khiến người bạo kinh, ba ngày sẽ khỏi (1) [26].

Mạch đến “Phù hợp” (như làn sóng nóåi hợp lại nhau, hình dung sự vô căn), Phù hợp như đếm, mỗi tức từ 10 chí trở lên, đó là Kinh khí bất túc. Nếu “vi hiện” (mới hơi thấy) mạch ấy, trong vòng 9, 10 ngày sẽ chết [27].

Mạch đến “bừng bừng” như lửa cháy, đó là Tâm khí bị đoạt. Tới mùa cỏ khô (tức mùa Thu) sẽ chết [28].

Mạch đến lơ lửng như chiếc lá rơi, đó là Can khí đã hư. Tới mùa lá rụng (tức mùa Thu) sẽ chết [29].

Mạch đến vội vàng như “tỉnh khách” (khách đến hỏi thăm, tới cửa đi ngay), luồng mạch đầy lên tay mà cổ, đó là Thận khí bất túc, tới mùa Táo có hoa (tức Trường hạ) sẽ chết [30].

Mạch đến dấp dính như “Nê hoàn” (viên bùn, tròn mà không hoạt), đó là Vị tinh bất túc. Tới khi lá Du giáp rụng (Xuân) sẽ chết [31].

Mạch đến vướng mắc như “Hoàn cách”, đó là Đởm khí bất túc. Tới mùa chín (cuối Thu) sẽ chết (1) [32].

Mạch đến như nắn giây tơ, đó là Bào tinh bất túc. Bệnh nhân hay nói. Tới mùa sương xuống sẽ chết [33].

Mạch đến như Giải tật (ép sơn, chảy tung toé ra cả xung quanh)... Nếu “vị hiện” ba mươi ngày sẽ chết. (1) [34].

Mạch đến như Dũng toán (nước suối vọt lên). Phù mà cổ ở trong da... Đó là Thái dương khí bất túc, tiêu bản đều hư. Tới mùa rau Cửu có hoa (rau hẹ, tức mùa Xuân), sẽ chết [35].

Mạch đến như Đồi thó (đất lở, trông vẫn có, động đến thời lở xuống), án vào không được. Đó là cơ khí bất túc, mặt hiện sắc đen, tời mùa giây cát tốt (Xuân), sẽ chết [36].

Mạch đến như Huyền ung (tức hội áp, một cúc thịt bạu xuống giữa cuống họng. Nó tròn mà mềm) ấn tay vào tẹp xuống mà lại “phù” đại “ngay”, đó là Du khí của mười hai kinh bất túc. Tới mùa nước đóng thành băng (cuối đông), sẽ chết [37].

Mạch đến như Yến đao (dao để ngửa lưỡi), nó là một mạch tượng để tay nhẹ thời Tiểu và Cấp, án hơi nặng thời lai Kiên, Đại, và cấp... Đó là do khí uất, nhiệt của năm Tàng, dồn cả vào Thận. Bệnh nhân sẽ không thể ngồi lên được. Tới tiết Lập xuân sẽ chết [38].

Mạch đến như hoàn hoạt (trơn như viên đạn tròn) không dính tay, án vào không được (nó sẽ buột đi). Đó là khí của Đại trường bất túc. Tới mùa Tảo hiệp nảy ra (Hạ) sẽ chết [39].

Mạch đến nhẹ nhàng như đóa hoa mới nở. Khiến người hay sợ, nằm ngồi không yên, đi ứng thường nghe ngóng. Đó là tiều trường khí bất túc. Tới mùa cuối Thu sẽ chết (1) [40].

THIÊN 49 : MẠCH GIẢI

Ở Thái Dương mà “nói là”: Yêu thũng, mông đau, là vì tháng giêng, kiến Dần, Dần thuộc Thái dương. Tháng giêng, Dương ra ở trên, nhưng Aâm vẫn còn thịnh. Dương chưa có thể theo đúng thứ tự đề ra. Do đó, sinh ra chứng yêu thũng và mông (tức hao mông) đau [1].

Bệnh thiên hư mà đi (đi lệch), do tháng giêng dương khí đã giải đồng, địa khí tiết ra được rồi. Vậy mà nói là “thiên hử”, là vì khí mùa Đông rét, khí bất túc nên sinh chứng như vậy [2].

Nói là: “Cổ cứng, đau rút xuống lương...” là vì khí của Thái dương dẫn lên quá mạnh, rồi ngẽn lại ở đó [3].

Nói là: “Nếu quá lắm sẽ phát cuồng, phát điên... “Đó là vì Dương khí bốc lên cả trên, mà Aâm khí đành trơ trọi ở dưới. Dưới hư trên thực, nên mới sinh ra cuồng và điên, như vậy [4].

Nói là: “Mạch phù sẽ phát điếc...” Đều chỉ về bệnh phát sinh tại khí [5].

Nói là: “Dương khí vào trong sẽ thành ấm...:Đó là nói Dương khí đã suy, mà âm cũng hư, nên thành chứng trạng như vậy [6].

Phàm những chứng bị “nóäi đoạt” mà quyết, gây nên Aám và Phi (tứ chi rã rời) đều bởi Thận hư. Khí của Thiếu âm Thận không dẫn đến, cũng gây nên chứng quyết [7].

Ở Thiếu dương mà nói là “Tâm, Hiếp Thống”... Đó là nơi khí của Thiếu dương thịnh. Sở dĩ thịnh vì nó là Biểu của Tâm. Tới tháng chín, Dương khí hết mà âm khí thịnh, nên phát sinh là vì âm khí chủ về tàng vật. Vật đã tàng thời không thể động được, nên mới không thể trở mình [8].

Nói là: “Quá lắm thời chỉ muốn chạy nhảy...”. Đó là vì: Về tháng chín, muôn vật đều hư, cỏ cây rụng héo, thời khí ở con người cũng lánh Dương mà tới Aâm. Duy cái khí của Thiếu dương đương thịnh, dù có lọt vào ở bên dưới, nhưng vẫn có ý muốn bốc mạnh trở lên, nên mới thành chứng trạng như vậy [9].

Ở Dương Minh mà nói là “Rờn rợn, run rét...” Bởi Dương minh thuộc Ngọ, Tháng năm, là tháng một Aâm ở trong thịnh dương. Dương đương thịnh mà Aâm xen vào, nên mới thành chứng rờn rợn, run rét [10].

Nói là: “Bộng chân thũng, không tự do lại được”, do là vì tháng năm, một Aâm đã phát sinh ở trong thịnh dương mà Dương cũng bắt đầu suy từ đó. Nhưng bởi một Aám mới sinh cùng Dương xung đột, gây thành chứng hậu như vậy [11].

Nói là: Thượng suyễn mà thành Thủy thũng... “Đó là vì Aâm khí đã hạ giáng lại rấn lên, lên cùng với tà khi ký túc ở khoảng Tàng, Phủ, vì vậy nên Thủy thũng [12].

Nói là: “Hung thống và thiểu khí...” Đó là vì thủy khí ký túc ở Tàng, Phủ, Thủy thuộc Aâm khí, Aâm khí xen vào trong, nên mới thành hung thống và thiếu khí [13].

Nói là: “Quá lắm thời quyết, ghét người với hỏa, nghe tiếng “gõ” (mộc) thời rùng mình mà sợ..” Đó là vì Aâm khí với Dương khí cùng xung đột lẫn nhau, Thủy với Hỏa cùng ghét, nên mới rùng mình mà sợ [14].

Nói là: “Muốn đóng kín cửa mà ở một mình”. Đó là vì Aâm Dương cùng xung đột nhau. Dương đã hết mà Aâm lại thịnh, nên mới muốn đóng cửa mà ở một mình [15].

Nói là: “Bệnh đến thời muốn lên cao mà hát, cởi bỏ áo mà chạy...” đó là vì âm dương lại tranh giành nhau rồi dồn cả ra dương phận ở bên ngoài, nên mới gây thành chứng trạng như vậy [16].

Nói là: “Ký túc ở Tôn lạc, thời sinh ra nhực đầu, ty nục, và phúc thũng...” Đó là vị khí của Dương minh dồn lên trên. Trên tức là thuộc về Tôn lạc của Thái âm. Nên mới gây thành các chứng trạng như vậy [17].

Ở Thái âm, nói là “sẽ phát bệnh trướng”, vì Thái âm thuộc Tý, tháng mười một, khi của muôn vật đều thâu tàng vào trong, nên phát bệnh trướng [18].

Nói là: “chạy lên tâm thành chứng ợ...” vì âm khi thịnh dồn lên trên Dương minh “lạc” của Dương minh lạc thuộc Tâm, nên thành chứng ơ. [19]

Nói là “Aên vào thời ọe”, là vì vật chứa ở bên trong đầy ràn quá mà sinh ra [20].

Nói là: “Nếu được đại tiện hay trung tiện thời sẽ dễ chịu...” Vì tới tháng mười hai, âm khí suy ở dưới Dương khí muốn tiết ra đằng trên, nên dưới cũng có tiết được ra mới dễ chịu [21].

Ở Thiếu âm, nó là “sẽ phát yêu thống...” Vì thiếu âm tức là Thận. Về tháng mười, dương khí đều bị thương, nên mới yêu thống [22].

Nói là: Aáu, khái, thượng khí và suyễn” là vì Aâm khí ở dưới dương khí ở trên. Dương khí phù lên trên, không nương tựa vào đâu, nên phát chứng như vậy [23].

Nói là: “Mọi việc đều không thể làm, không thể đứng lâu, ngồi lâu, đứng lên thời mắt tờ mờ trông không tỏ...” Đó là vì muôn vật âm dương không định, chưa có chủ, Khí Thu mới đến, sương Thu mới xuống, muôn vật túc sái, âm dương bị đoạt, nên mới thành các chứng như vậy [24].

Nói là: “Ít khí và hay nóä...” Đó là vì khí của Thiếu dương không thông đạt ra bên ngoài, do đó dương khi không tiết ra được, Can khí cũng vì vậy mà không được thư xướng nên mới sinh ra hay nóä Chứng đó gọi là Tiên quyết [25].

Nói là: “Thường sợ sệt như sắp bị người bắt”. Đó là vì: Dương khí bên trong ít đi, âm khí bên ngoài lọt vào, hai khi cùng xung đột, nên mới thường sợ sệt [26].

Nói là: “Ngửi mùi thức ăn thì ghét...” Đó là vì Vị không có khí nên thành như vậy [27].

Nói là: Sắc mặt đen xạm” đó là vì khí bị đoạt ở bên trong, nên huyết sắc ở bên ngoài cũng biết đi mất [28].

Nói là: “Khái thời lại có huyết...” Đó là vì Dương mạch bị thương. Dương khí chưa thịnh ở bộ phận trên mà mạch lại mãn. Mãn thời khái, mà thường khi lại ra cả đằng mũi [29].

Ở quyết âm, mà nói là: “phát các chứng bệnh điên, sán, đàn bà thũng ở Thiếu phúc v.v... Đó là vì quyết -âm thuộc Thìn. Tháng ba, ân tà sinh ra ở trong Dương, nên mới thành chứng điên sán và thũng ở Thiếu phúc [30].

Nói là: “Sinh ra các chứng đồi, long, sán...” (đều là tên vác chứng khó tiểu tiện). Là vì: về tháng đó âm khí thịnh, khiến cho mạch phát trướng không thông, nên sinh chứng như vậy [31].

Nói là: Quá lắm thời “ách can” và “nhiệt trung...”là vì âm dương cùng xung đột nhau, sinh ra nhiệt. Vì sinh ra nhiệt nên mới thành chứng nhiệt trung và ách can [32].

THIÊN 50 : THÍCH YÊU LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết phần cốt yếu của phép thích [1].

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh có phù trầm, thích có nông sâu. Phải cho đúng nhẽ, đừng có trái đạo. Thái quá thời nóäi thương. Bất cập thời gây sự đừng có trái đạo. Thái quá thời nội thương. Bất cập thời gây sự nghẽn tắc ở ngoài, tà khí sẽ do đó mà lấn theo. Sâu nông không đúng, lại gây vạ lớn. Bên trong phạm vào 5 Tàng, rồi sau sinh bệnh lớn [2].

Cho nên nói: Có thứ bệnh ở hào mao (trong lòng), tấu lý, có thứ bệnh ở bì phu, có thứ bệnh ở cơ nhục, có thứ bệnh ở mạch có thứ bệnh ở Cân, có thứ bệnh ở cốt, có thứ bệnh ở Tủy [3].

Thích ở bì đừng làm thương đến nhục. Nếu thương đến nhục thời bên trong sẽ động vào Tý. Động vào Tý thời qua bảy mươi hai ngày, về bốn tháng cuối mùa, sẽ sinh ra bệnh phúc trướng, phiền, không muốn ăn (1) [4].

Thích ở nhục đừng làm thương đến mạch. Nếu thương đến mạch thời trong sẽ động vào Tâm. Động vào Tâm thời mùa Hạ phát bệnh Tâm thống [5].

Thích ở mạch đừng làm thương đến Cân. Nếu thương đến Cân thời bên trong sẽ động vào Can. Động vào Can thời mùa Xuân sẽ phát bệnh nhiệt, và gân lỏng [6].

Thích ở cân đừng làm thương đến cốt. Nếu thương đến Cốt, thời bên trong sẽ động đến Thận. Động đến Thận thời mùa Đông sẽ sinh bệnh trướng và yêu thống [7].

Thích ở cốt đừng làm thương đến tủy. Nếu thương đến Tủy thời tiêu thước và đau nhức trong ống chân... Thân thể cũng rã rời mỏi mệt [8].

THIÊN 51 : THÍCH TỄ LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết rõ sự nhất định của phép thích nên nóâng, nên sâu thế nào? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Thích ở cốt, đừng làm thương đến Cân, thích ở Cân đừng làm thương đến nhục, thích ở nhục, đừng làm thương đến mạch, thích ở mạch đừng làm thương đến bì, Thích ở bì, đừng làm thương đến nhục, thích ở nhục đừng làm thương đến Cân, thích ở Cân đừng làm thương đến Cốt [2].

Xin cho biết rõ [3]

Thích ở cốt đừng làm thương đến Cân...là nói nếu chậm vừa đến nhục đã thôi ngay. mà chưa vào đến Cân “Thích ở nhục đừng làm thương đến mạch” là nói nếu chậm vừa đếm mạch đã thôi, mà chưa vào đến nhục. “Thích ở mạch đừng làm thương đến bì” là nói: nếu châm vừa đến bì đã thôi, mà chưa vào đến mạch [4].

Như nói: ‘thích ở bì đừng làm thương đến nhục, là bệnh ở trong bì, châm cũng chỉ để vào đến trong bì, đừng phạm vào đến nhục. Nói: “thích ở nhục đừng làm thương đến Cân... là vì hễ quá nhục thời sẽ tới cân ngay. Nói thích ở cân đừng làm thương đến cốt...” là vì hễ quá cân thời sẽ tới cốt ngay. Đó tức là trái.

(Đoạn trên này nói về phép thích, cốt ở chừng mực không nên bất cập hoặc thái quá) [5].

Mạch đạt mà huyết ít, là do mạch có phong khí, nước uống vào ít, huyết không có sự trợ ích [6].

Phàm thực, là do ở khí hút vào, hư là do ở khí tiết ra. Khí thực là nhiệt, khí hư là hàn [7].

Nếu dùng châm để tả thực, thời tay tả làm rộng ở huyệt vừa châm ra. Nếu dùng châm để bổ hư, thời tay tả làm vít ở huyệt vừa châm lại [8].

Thiên 52 : THÍCH CẤM LUẬN

Hoàng Đế hỏi: Ta muốn nghe về những chỗ cấm châm.

Kỳ Bá đáp: Ngũ tạng đều có những chỗ yếu hại, cần phải chú ý. Can khí thường đi xuống, tác dụng ở phái bên phải, Tâm thì điều tiết âm khí ở ngoài biểu, Thận quản lý phần âm khí ở nội bộ, Tỳ có công năng chuyển vận tinh hoa của thuỷ cốc để nuôi dưỡng cho các tạng, Vị là cơ quan dung nạp và tiêu hoá thức ăn. Phía trên cách mạc có 2 tạng là Tâm Phế để duy trì sinh mệnh. cạnh đốt xương thứ 7 ở phía trong có Tâm bào lạc, những chỗ đó khi chữa bằng châm cần phải chú ý tránh. nếu thương tổn đến những chỗ trọng yếu đó thì sẽ nguy hiểm. Cho nên nói, theo được sự cấm kỵ đó thì không gây ra tai hoạ, nếu trái lại thì sẽ gặp tai hoạ.

“Hoàng đế hỏi: Xin cho biết về phép thích, có những cấm k gì ? Kỳ Bá trả lời:.... Thích trúng Tâm, 1 ngày chết, lúc mới phát động là chứng ợ. Thích trúng Can 5 ngày chết, lúc mới phát động là nói luôn miệng. Thích trúng Thận 6 ngày chết, lúc mới phát là chứng hắt hơi, Thích trúng Phế 3 ngày chết, lúc mới phát là chứng ho. Thích trúng Tỳ, 10 ngày chết, lúc mới phát là chứng nuốt nước miếng. Thích trúng Đởm 1 ngày rưỡi chết, lúc mới phát là chứng nôn (ẩu). Thích trên xương phụ, trúng vào đại mạch, huyết ra không dứt sẽ chết. Châm ở mặt, nếu trúng Lưu mạch, sẽ làm mắt mờ. Thích vào đầu, trúng vào não bộ, chạm vào não sẽ chết. Kinh mạch ở dưới ở dưới lưỡi nếu châm sâu quá, huyết ra nhiều, sẽ bị câm. Châm lầm đường lạc mạch phân bố ở dưới chân, huyết đọng lại ở bên trong làm chỗ đó sưng lên. Châm huyệt Uỷ Trung sâu quá, trúng đại mạch, sẽ ngất, sắc mặt nhợt nhạt. Châm ở Khí nhai, trúng mạch, huyết dịch sẽ tụ lại bên trong, làm cho vùng háng sưng trướng lên. Châm ở khe cột sống, trúng tủy sẽ thành chứng gù lưng. Thích ở vú, trúng Nhũ phòng sẽ sưng rồi loét nát. Thích ở giữa Khuyết Bồn quá sâu đến nỗi Phế khí tiết ra thành chứng suyễn, ho. Thích huyệt Ngư Tế ở tay, mạch hãm vào trong sẽ thành thũng.

Không được châm người bệnh mới uống rượu say, nếu châm sẽ làm cho khí huyết rối loạn. không châm khi người bệnh còn đang tức giận, nếu châm sẽ làm cho khí nghịch lên. Ngoài ra, nếu người bệnh sau khi lao dodọng quá nhọc mệt, sau khi ăn no hoặc đang đói, đang khát nước quá hoặc người bệnh mới bị kinh sợ nhiều thì đều không nên châm. Châm các huyệt ở mé trong đùi, nếu lầm hại đến đại mạch, máu sẽ chảy ra mãi không cầm thì sẽ chết. Châm huyệt Khách chủ nhân sâu quá làm hại đến lạc mạch sẽ sinh ra mủ trong tai làm cho tai điéc. Châm ở khớp gối làm cho chảy dịch ra thì sẽ què chân. Châm kinh thù Rhaí âm, nếu hại đến huyết mạch, ra nhiều huyết quá thì sẽ chết ngay. Châm kinh túc Thiếu âm làm cho Thận khí càng hư tổn mà ra huyết thì sinh chứng lưỡi khó nói.

Thiên 53 : THÍCH CHÍ LUẬN

Hoàng Đế hỏi: Ta muốn biết những điều cốt yếu của Hư Thực.

Kỳ Bá đáp: Khí thực thì hình thực, khí hư thì hình hư, đó là lẽ thường tình, nếu nghịch lại thì bị bệnh.

Cốc thịnh thì khí thịnh, Cốc hư thì khí hư, đó là lẽ thường, nếu nghịch lại thì bị bệnh.

Mạch thực thì huyết thực, mạch hư thì huyết hư, đó là bình thường, nếu mghịch lại thì bị bệnh.

Hoàng Đế hỏi: Thế nào là nghịch lại?

Kỳ bá đáp: Khí hư thânh nhiệt, đó là nghịch. Cốc (thức ăn) nhập vào quá nhiều mà khí ít, đó là nghịch. Mạch thịnh mà huyết ít, đó là nghịch. Mạch nhỏ mà huyết nhiều, đó là nghịch Khí thịnh mà thân nhiệt là thương hàn; Khí hư mà thân nhiệt là thương thử. Thức ăn vào nhiều mà khí ít thì sẽ bị huyết thoát, thấp dồn xuống dưới. Thức ăn vào ít mà khí nhiều là tà khí ở tại Vị và Phế.

Mạch nhỏ mà huyết nhiều thì uống vào sẽ sinh nhiệt. Mạch mạnh mà huyết ít đó là mạch có phong khí, thuỷ tương không nhập vào được.

THIÊN 54 : CHÂM GIẢI

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết phép dùng Cửu châm (chín thứ châm) và thế nào là hư thực? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

“Khí hư thì bổ cho thực”, tức là đợi cho khi nào khí đến dưới châm đã nóng mới thôi, vì khí thực thời nhiệt. “Khí mãn thời làm cho tiết”, tức là đợi cho khi nào khí đến dươi châm lạnh mới thôi. Vì khí hư thời hàn. “Uất tích trời trừ đi” tức là dùng châm cho tiết bỏ ác huyết [2].

“Tà thắng thời làm cho nó hư đi”, vậy khí rút châm ra đừng bỏ vết châm lại để cho tà khí cứ theo đó mà tiết ra [3].

Như nói: “thong thả mà nhanh thời sẽ thực”, tức là lúc rút châm thời thong thả, nhưng sau khi châm rút ra hết rồi, kịp vít ngay vết châm lại. Như nói: “nhanh mà thong thả thời sẽ hư”, tức là rút châm ra nhanh mà thong thả mới lấy tay vít chỗ châm lại [4].

Nói “thực với hư” tức là nhận xem khi đến ở dưới châm lạnh hay ấm thời biết là khí nhiều hay ít [5].

Khí ở con người hư hay thực, như có như không, phải yên tĩnh để nhật xét, nếu vội vàng không thể sao biết được [6].

Bệnh có gốc ngọn, trị bệnh cũng phải có gốc ngọn. Có phân biệt được gốc ngọn, mới mong trị được bệnh [7].

Hư thời làm cho thực, thực thời làm cho hư, về phép bổ tả, phải giữ cho đúng [8].

Cái cốt yếu của sự hư thực, đối với phép dùng cửa châm, rất là tinh vi huyền ảo, nhưng cũng theo cái lẽ đương nhiên thôi [9].

Trong khí hoặc bổ hoặc tả, thời sự khai hạp của khí cũng phản ứng theo (tức như trên đã nói) [10].

Phàm chín thứ châm, danh và hình đều không giống nhau, có thể mới đầy đủ được phương pháp bổ và tả [11].

Thích vào thực, muốn hư, hãy lưu châm, chờ âm khí đến dưới châm nhiều rồi, sẽ rút châm [12].

Thích vào hư, muốn cho thực, chờ dương khí đến dưới châm nhiều rồi, sẽ rút châm [13].

Như nói: “kinh khí đã đến, cần giữ đừng lỡ...” tức là đừng để cho khí lại thay đổi trái khác, mới mong khỏi bệnh [14].

Như nói: “Sâu nóâng ở chí...” tức là đã biết rõ bệnh ở trong hay ngoài, để dùng châm hoặc sâu hoặc nóng cho đúng. Như nói: “xa gần như một”, tức là lúc thích sâu hay nóâng phải có nhất định [15].

Như nói: “Tay như nắm con hổ, tức là nói dùng châm phải vững vàng, không nên hấp tấp) [16].

Như nói: “Thần không thể nào mọi vật...” tức là bảo người dùng châm phải yên tĩnh để xem xét bệnh nhân, không nên để tâm vào việc khác [17].

Vậy lúc cầm châm để châm cho bệnh nhân, phải đoan trang yên tĩnh, dùng mắt của mình trong vào mắt của bệnh nhân, khiến bệnh nhân chú ý vào mình, nhờ ở đó mà khí lưu hành được dễ dãi [18].

Bì (da) của người, ứng với trời. Nhục của người ứng với đất, mạch của người ứng với người. Cân của người ứng với thì (mùa) tiếng của người ứng với âm, dương của người hợp với khí và ứng với luật, răng và mặt, mắt của người ứng với tinh (sao), khí ra vào của người ứng với phong (gió), Chín khiếu và ba trăm sáu mươi nhăm lạc, ưng với Dã (khu vực) [19].

Cho nên châm số 1 để châm bì, châm số 2 để châm nhục, châm số 3 để châm mạch, châm số 4 để châm cân, châm số 5 để châm cốt, châm số 6 để điều âm dương , châm số 7 để ích tinh, châm số 8 để trừ phong, châm số 9 để thông chín khiếu, và trừ 365 khí ở các tiết. Vì vậy, nên nói các châm đó đều có “sở chủ” [20].

Tâm, Ý của con người ứng với tám gió (gió của 8 phương) khí của con người ứng với trời, tóc, răng, tai, mắt và ngũ thanh của con người ứng với 5 âm, 6 luật, âm, dương, mạch, và huyết khí của con người, ứng với đất, can và mục của con người ứng với số cửu (tức chín). [21]

Can khai khiếu lên mắt, nên hợp gọi là “can mục”. Can thuộc mộc, mộc sinh ra bởi số 3. Ba nhân với ba tức là số chín) [22].

THIÊN 55 : TRƯỜNG THÍCH TIẾT LUẬN

Thích gia không cần phải chẩn, chỉ nghe bệnh nhân nói, cũng có thể thấu được bệnh tình [1].

Bệnh tại đầu, nhức đầu, dùng “tàng châm” để thích. Thích tới cốt, bệnh khỏi, sẽ thôi. Phàm thích, đừng làm thương đến cốt nhục và bì. Bì là con đường để châm [2].

Phàm trị về hàn nhiệt, phải dùng âm thích. Phương pháp âm thích, thích vào chính huyệt một châm, thích vào bàng huyệt 4 châm [3].

Nếu bệnh nặng và lâu, nên điều trị Đại tàng. Phàm thích Đại tàng, nên thích ở lưng mà cho gần tới Tàng. Bởi dư huyệt của Tàng ở lưng [4].

Thích ở Du mà gần tới Tàng, thời tàng khí với châm sẽ hợp nhau, mà chứng hàn nhiệt ở trong phúc sẽ bài trừ hết [5].

Nhưng cái cốt yếu của phép thích, không nên để cho huyết ra quá nhiều, chỉ phát châm nông cho huyết ra ít thôi [6].

Trị chứng ung thũng (mụn, sưng, nát), nên thích ngay trên Ung. Trong xem ung lớn hay nhỏ, để định sự thích sâu hay nông [7].

Thích ung lớn, nên cho ra nhiều huyết, thích ung nhỏ, nên để nông châm [8].

Phải giữ châm cho thật ngay, đừng để phạm đến thịt lành. Thích vừa đúng chỗ có máu mủ thì thôi [9].

Bệnh tại Thiếu phúc, có vật uất tích. Nhận ở Thiếu phúc, chỗ nào da “cồn dầy” lên thời thích. Lại thích ở hai bên đốt xương, Tân du sống thứ tư, thích ở hai bên yêu cốt, hai bên hiếp lặc... Để dẫn cho nhiệt khí ở trong phúc do dưới châm mà tiết ra[10].

Bệnh tại Thiếu phúc, phúc thống không đại, tiểu tiện được, gọi là Sán, thích ở Thiếu phúc, hai đùi, yêu và khỏa cốt... Thích để mũi châm lâu sẽ rút ra, nhiệt khí tiết ra hết, bệnh sẽ khỏi [11].

Bệnh tại cân, cân rút, khớp đau, không thể đi được, gọi là Cân tý. Vì thế phải thích ở trên cân, thích ở khoảng phận nhục, nhưng không được để trúng vào xương. Cân đã thư, bệnh sẽ hết, cân đã nóng, bệnh sẽ khỏi, và thôi không phải nữa [12].

Bệnh tại cơ phụ, cơ phụ đều đau, gọi là Cơ tý. Bệnh này gây nên bởi hàn thấp, phải thích ở đại phận nhục, tiểu phận nhục [13].

Châm nhiều huyệt và sâu, để cho khí nhiệt dẫn đến. Nhưng đừng làm thương đến cân cốt [14].

Nếu thương đến cân cốt, sẽ biến thành chứng nan hoán (tay chân rã rời bất toại bên tả, hoặc bên hữu) chờ bao giờ các phận nhục nhiệt đều, bệnh sẽ khỏi, và thôi không phải châm [15].

Bệnh tại cốt, cốt nặng không thể cử động được. Cốt tủy toan thống, do hàn khí phạm vào, gọi là Cốt tý. Phải thích sâu, đừng làm thương đến mạch và nhục. Vì con đường của nó phải đi qua Đại, tiểu phận nhục. Khi nào trong cốt nóng đều, bệnh khỏi, sẽ thôi không phải châm [16].

Có chứng bệnh, lúc mới phát, thường mỗi năm phát sinh một lần, nếu không chữa, dần dần đến mỗi tháng một lần, hoặc ba bốn lần gọi là bệnh... Điên. Thích ở các phận nhục, các mạnh. Nếu không có chứng hàn, thời dùng châm để làm cho điều hòa, bệnh khỏi sẽ thôi không phải châm [17].

Bệnh thuộc về phong, vừa hàn, vừa nhiệt, nhiệt hãn toát ra, nhiều lần. Trước hãy thích vào các phận lý, lạc, mạch. Nếu hãn vẫn ra, mà vẫn cứ hàn vừa nhiệt, thời ba ngày thích một lần, thích tới trăm ngày thì khỏi bệnh [18].

Bệnh đại phong (tức lệ phong), các khớp xương nặng nề, râu. Thích ở cơ nhục, để cho hãn ra, một trăm ngày thích ở cốt tuỷ, để cho hãn ra, một trăm ngày gọi là chứng Đại phong khoảng hai trăm ngày, râu và lông mày mọc lại, thì không châm nữa [19].

THIÊN 56 :BÌ BỘ LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Tôi nghe bì (da) có phận bộ, mạch có kinh kỷ, cân có kết lạc, cốt có độ lượng... Chủ về bệnh đều có khác nhau. Vậy tả, hữu, trên, dưới và Aâm, Dương ở đâu, sinh ra bệnh trước sau thế nào, xin cho biết rõ [1].

Kỳ Bá thưa rằng:

Muốn biết bì bộ, phải dùng Kinh mạch để ghi nhớ. Các Kinh khác đều như vậy [2].

Dương Lạc của Dương Minh, gọi là Hai phi. Trên dưới (tức Thủ, Túc Dương Minh) cùng một phép xét nhận. Hễ thấy trong bộ phận, có “phù lạc” hiện lên, tức là Lạc của Dương Minh. Trông xem sắc của nó, nếu xanh nhiều là “thống”, đen nhiều là “tý” hoàng và xích là nhiệt, trắng nhiều là hàn. Nếu năm sắc đều hiện làvừa hàn vừa nhiệt. Ở Lạc mà thịnh (nhiều), sẽ dẫn vào Kinh (1). Dương chủ về bệnh ở ngoài, Aâm chủ về bệnh ở trong. (2) [3].

Dương lạc của Thiếu dương, gọi là Khu trì. Trên dưới cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có “phù lạc” hiện lên, tức là Lạc của Thiếu dương. Lạc thịnh thời dẫn vào kinh. Cho nên ở Dương thời chủ dẫn vào, ở âm thời chủ dẫn ra, để lại thấm vào trong. Các kinh khác đều như vậy [4].

Dương lạc của Thái dương gọi là quan khu, trên dưới cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên tức là Lạc của Thái dương. Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh [5].

Aâm lạc của Thiếu âm gọi là Khu nhu. Trên dưới cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên, tức là Lạc của Thiếu âm. Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh. Khi dẫn vào Kinh, qua Dương bộ để rót vào Kinh, khi dẫn ra, do âm bộ rót vào trong Cốt [6].

Âm lạc của Tâm chủ gọi là Hạ kiên. Trên dưới cùng phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên, tức là Lạc của Tâm chủ, Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh. “Trên” tức Thủ quyết âm Tâm chủ, “dưới” tức Túc quyết âm Can [7].

Aâm lạc của Thái âm, gọi là quan trập. Trên dưới cùng phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có “phù lạc” hiện lên tức là Lạc của Thái âm. Lạc thịnh thời dẫn vào Kinh [8].

Phàm Lạc mạch của mười hai kinh, đều có hiện ra ở bì bộ [9].

Xem đó thời biết: trăm bệnh khi mới phát sinh đều trước từ bì mao. Tả trúng vào nó thời tấu lý mở ra. Tấu lý mở ra thời phạm vào Lạc mạch. Nếu cứ để nó ở đó mà không tả đi, thời nó sẽ truyền kinh. Vào kinh mà vẫn để vậy, thời nó lại truyền vào Phủ, và ký túc ở Trường, Vị [10].

Tà khí mới phạm vào bì mao, thời các chân lông đều “sẩn” cả lên, rồi tấu khi mở ra mà dẫn vào Lạc [11].

Khi vào lạc, thời Lạc mạch thịnh, sắc biến đi [12].

Khi dẫn vào Kinh, thời khi của Tàng phủ bị hư mà lõm xuống [13].

Nếu lưu ở khoảng cân cốt, hàn nhiều thời cân rút, cốt đau, nhiệt nhiều thời cân trùng, cốt tiêu, thịt sút, xương khoai nứt nẻ, lông tóc cứng thẳng, các bại chứng đều phát sinh [14].

Mười hai bộ của bì, phát sinh bệnh thế nào? [15]

Bì là bộ phận của mạch. Tà phạm vào bì thời tấu lý mở ra, do đó tà phạm vào Lạc mạch, lại do Lạc mạch phạm vào Kinh mạch. Kinh mạch mãn thời phạm vào Tàng, Phủ. Vậy biết. bì cũng có bộ phận, vì khi bất cập mới gây bệnh, nên bệnh lớn [16].

THIÊN 57 : KINH LẠC LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng: [1]

Lạc mạch hiện ra năm sắc khác nhau. Sở dĩ có sự không giống nhau đó, là vì sao? [2]

Kỳ Bá thưa rằng:

Kinh có thường sắc, còn lạc thời biến dịch rất không thường.

Thế nào là thường? [3]

Tâm đỏ, Phế trắng, Can xanh, Tỳ vàng, Thận đen. Đó là mạch sắc thường của các Kinh [4].

Âm Dương của Lạc, có ứng với Kinh không? [5]

Sắc của Âm lạc, ứng với Kinh, sắc của Dương lạc, biến đổi thông thường, theo bốn mùa mà dẫn đi [6].

Hàn nhiều thời “đọng rít”. Đọng rít thời hiện ra sắc xanh và đen; nhiệt nhiều thời “loãng chảy”. Loãng chảy thời hiện ra sắc vàng và đỏ. Nếu năm sắc cùng hiện ra một lúc, sẽ thành bệnh vừa hàn vừa nhiệt [7].

THIÊN 58 :KHI HUYẾT LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

Tôi nghe Khí huyết, có ba trăm sáu mươi nhăm huyệt, để ứng với một năm, xin cho biết rõ là làm sao? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Bối với Tâm cùng rút nhau vào mà đau, nên trị ở Thiên đột, Thập trùy với Thượng kỷ. Thượng kỷ tức là Vị quản: Hạ kỷ tức là Quan nguyên [2].

Hoàng Đế chắp tay, nhường qua một bên, không dám nhận mà nói [3]

Tà khí ở bối và Hung, nó liên lạc với âm, dương, tả, hữu như vậy, phát sinh ra bệnh tiền hậu đau và rít, hung hiếp đau không thể thở, không thể nằm, khi nhược lên, ngắn hơi và thiên thống [4].

Mạch của nó “phình to ra”, lệch sang, Khao môn mạch, chằng qua Hung, Hiếp, rẽ vào Tâm suốt lên cách, vòng lên vai, qua Thiên đột, lệch xuống dưới vai, giao ở dưới thập chùy (đốt xương sống thứ mười) [5].

Về Tàng du có năm mươi huyệt (Mỗi Tàng có năm huyệt. Năm lần năm là hai mươi lăm huyệt, mỗi huyệt lại chia làm tả hữu hai huyệt. Nên mới thành năm mươi huyệt) [6].

Phủ du bảy mươi hai huyệt [7].

Sáu Phủ, mỗi Phũ 6 huyết, 6 x 6 = 36. Mỗi huyệt lại chia làm tả hữu hai huyệt, nên mới thành 72 huyệt.

Nhiệt du năm mươi chín huyệt [8].

1) Ở trên đầu có 5 hàng, mỗi hàng 5 huyệt, thành 25 huyệt; Đại trử. Ưng du, Khuyết bồn, Cốt du, mỗi huyệt có 2, thành 8 huyệt, Khi nhai, Tam lý, Cự hư, Thượng hạ liêm, mỗi huyệt có 2, thành 8 huyệt; Vân môn, Ngu cốt, Uûy trung, Tủy không, mỗi huyệt có 2, thành 8 huyệt, bên cạnh du của 5 Tàng, đều có 2 huyệt, thành 10 huyệt. Hợp cả lại thành 59 huyệt.

Thủy du năm mươi bảy huyệt [9].

1) Trên xương “khu” 5 hàng, mỗi hàng năm huyệt thành 25 huyệt. Trên Phục thổ đều có hai hàng, mỗi hàng có 5 huyệt, thành 20 huyệt, trên Khỏa đều có 1 hàng, mỗi hàng có 6 huyệt, thành 12 huyệt. Tổng cộng thành 57 huyệt. Trở lên cộng 116 huyệt.

Trên đầu năm hàng, mỗi hàng năm huyệt. Thành hai mươi lăm huyệt (1).

1) Trên đây lại nói về huyệt của Nhiệt du một lần nữa, vì Nhiệt du tức cũng là Khí huyệt. Do ở nó “có thể lấy khí có thể tả nhiệt” lại có thể khiến nhiệt tà theo khí mà tiết ra, cho nên dưới đây lại nói: “Nhiệt du tại khí huyết”.

Hai bên trung lữ đều có 5, thành 10 huyệt [10]. Trên hai bên Đại trùy, đều có 1, thành 2 huyệt [11]. Phù bạch bên đồng tử mắt có 2 huyệt [12]. Lưỡng bễ áp hai huyệt [13]. Độc Tỵ 2 huyệt [14]. Huyệt Đa sở văn ở giữa tai, 2 huyệt [15] . My bản 2 huyệt [16]. Uyển cốt 2 huyệt [17]. Hàng trung ương một huyệt [18]. Chẩm cốt 2 huyệt [19]. ) Thượng quan hai huyệt [20]. Đại nghinh 2 huyệt [21]. Hạ quan hai huyệt. 23 Thiên trụ 2 huyệt [ 23]. Cự hư, thương, hạ liêm 4 huyệt [24]. Khúc nha 2 huyệt [25]. Thiên đột 1 huyệt [26]. Thiên phủ 2 huyệt [27]. Thiên dũ 2 huyệt [28]. Phù đột 2 huyệt [29]. Thiên song 2 huyệt [30]. Kiên giải 2 huyệt [31]. Quan nguyên 1 huyệt [32]. Uûy dương 2 huyệt [33]. Kiên trinh 2 huyệt [34]. Aâm môn 1 huyệt [35]. Tề 1 huyệt[36]. Hung du 12 huyệt [37]. Bối du 2 huyệt [38]. Ưng du 12 huyệt [39]. hận phục 2 huyệt [41]. Khỏa thượng hoành 2 huyệt [42]. Aâm, Dương kiêu 4 huyệt. Chiến hải + Thân mạch, Dương phụ [42].

Thủy du ở các phân nhục, nhiệt du tại khi huyết [43]. Hàn nhiệt du tại “lưỡng hài” (1) áp trung (Điều gốc) 2 huyệt [44].

Một huyệt Đại cấm (cấm rất ngặt) 25 thích, ở dưới huyệt Thiên phủ 5 tấc [45].

Hoàng Đế nói:

Tôi đã được biết rõ Khí huyệt ở những nơi đâu, nhờ có cách dùng châm rất được dễ dàng. Nhưng còn Tôn lạc và Khê, Cốc, tương ứng như thế nào, xin cho biết... [47]

Kỳ Bá thưa rằng:

Tôn lạc có 365 huyệt hội, cũng để ứng với một năm, vừa để thông Vinh, Vệ, có khi lại sinh những bệnh lạ lùng [48].

Nếu Vinh, Vệ bị ngừng đọng. Vệ tán, vinh tràn, khí kiệt, huyết nghẽn, thì bên ngoài sẽ phát hàn nhiệt, bên trong thời thành thiểu khí... Phải “tả” ngay đừng chậm, để thông Vinh, Vệ.

Vậy thấy sắc. Lạc hiện lên thời tả ngay, không cần phải xét đến “sở hội” [49].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết huyệt hội của Khê, Cốc thế nào? [50]

Kỳ Bá thưa:

Nơi đại hội của nhục gọi là Cốc, nơi tiểu hội của Nhục gọi là Khê, ở trong khoảng phận nhục và nơi hội của Khê Cốc, là để hành Vinh, Vệ, để tụ hội đại khí (1) [51].

Tà nhiều, khí nghẽn, mạch nhiệt, nhục bại, vinh vệ không lưu hành được, sẽ phải hóa thành mủ, trong làm tiêu hao cốt tủy, ngoài làm nứt vỡ bọng chân... Rồi lưu hành mãi ở các khớp xương, sẽ cùng gây nên tất bệnh [42].

Hàn tích ở bên trong vinh vệ không thuận, thịt nhăn, gân co, khuỷu tay không duỗi ra được. Bên trong thành chứng cốt tý, bên ngoài thành chứng bất nhất. Gọi là “bất túc” đó là bởi khi đại hàn ngừng trệ ở Khê, Cốc mà gây nên [43].

Khê và Cốc, 365 huyệt hội, cũng để ứng với một năm. Nếu khí vít tầm thường, chí tràn lan đi lại ở trong mạch, châm nhẹ có thể tới, thời phép châm cũng như các nơi khác [44].

THIÊN 59 : KHI PHỦ LUẬN

Mạch khí, của Túc Thái dương phát ra 78 huyệt. Hai đầu lông mày, mỗi bên một huyệt. Từ khoảng tóc tới cổ, ba tấc rưỡi, bên cạnh có 5 huyệt, cùng cách nhau 3 tấc [1].

Thấy phù khí hiện lên ở trong bì (da), có 5 hàng mỗi hàng có 5 huyệt. Năm lần năm, thành 25 huyệt. Hai bên đại cân ở cổ, mỗi bên có một huyệt. Từ hiệp bối trở xuống đến Cầu Vỹ 21 tiết khoảng đốt thứ 15, nếu có một huyệt. Du của 5 Tàng, mỗi Tàng đều có 5 Du, Du của 6 Phủ, mỗi phủ đều có 6 Du. Từ Uûy trung trở xuống đến cạnh Túc tiểu chỉ đều có 6 Du [2].

3) Mạch khí của Túc Thiếu dương phát ra 62 huyệt. Trên hai góc đầu (giác), mỗi bên đều có 2 huyệt, từ mắt thẳng lên phát tế, đều có 5 huyệt, phía trước tai đều có 1 huyệt, phía sau tai đều có 1 huyệt, dưới Nhuệ phát đều có một huyệt, dưới Khách chủ nhân đều có một huyệt, chỗ lõm phía sau tai, đều có một huyệt, ở Hạ quan, đều có một huyệt, ở Khuyết bồn, đều có một huyệt, ở dưới nách 3 tấc, từ Hiệp đến Khư, 8 khoảng, đều có một huyệt, bên cạnh Bễ khu đều có một huyệt, từ đầu gối đến ngón chân thứ hai, đều có 6 Du [3].

Mạch khí của Túc Dương minh phát ra 68 huyệt, Đầu trán và cạnh phát tế đều có 3 huyệt, hai bên Cầu cốt không đều có một huyệt, nơi cốt không của huyệt Đại nghinh, đều có một huyệt tại Nhân nghinh, đều có một huyệt, tại Khuyết bồn ngoài Cốt không đều có một huyệt, tại Ưng trung gian đều có một huyệt. Giáp Tể quảng 3 tấc, đều có 3 huyệt, tại Khí nhai động mạch, đều có một huyệt, tại trên Phục thổ đều có một, từ Tam lý trở xuống đến ngón chân giữa đều có 8 Du [4].

Mạch khí của Thủ Thái dương phát ra 36 huyệt. Phía trong đầu, mắt đều có một huyệt. Phía ngoài mắt đều có một huyệt, dưới Cầu cốt đều có một huyệt, trên vành tai, đều có một huyệt, trong tai, đều có một huyệt, tại huyệt Cự cốt đều có một huyệt, tại trên Khúc dịch đều có một huyệt, tại chỗ lõm trên Trụ cột, đều có một huyệt, tại Kiên giải, đều có một huyệt, dưới Kiên giải 3 tấc, đều có một huyệt, từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay út đều có 6 Du [5].

Mạch khí của Thủ Dương minh phát ra 22 huyệt. Từ Tỵ không ngoại liêm đến trên cổ đều có 2 huyệt, tại đại nghinh cốt không đều có một huyệt, tại nơi hội của Trụ cốt, đều có một huyệt, tại nơi hội của Ngu cốt, đều có một huyệt, từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay cái, đều có 6 Du [6].

Mạch khí của Thủ Thiếu dương phát ra 32 huyệt. Dưới Cứu cốt, đều có một huyệt, sau lông mày đều có một huyệt. trên “giác” đều có một huyệt, phía sau Hạ hoàn cốt, đều có một huyệt, giữa cổ, phía trước huyệt của Túc Thái dương, đều có một huyệt, tại cạnh Phù đột, đều có một huyệt, tại Kiên trinh, đều có một huyệt tại dưới Kiên trinh khoảng dưới 3 tấc, đều có một huyệt, từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay vô danh đều có 6 Du [7].

Mạch khí của Đốc mạch phát ra 28 huyệt. Khoảng giữa cổ đều có 2 huyệt, sau Phát tế có 8 huyệt, tại giữa mặt có huyệt, Từ Đại Trùy trở xuống đến Cầu vĩ và bên cạnh, có 15 huyệt. Về phép kiểm nhận tích trùy (đốt xương sống), từ Đại trùy trở xuống đến Để cốt, cộng 21 đốt, (trên Đại trùy có 3 đốt nữa, cộng thành 24 đốt, Có người nói là ứng với 24 khí) [8].

Mạch khí của Nhâm mạch phát ra 28 huyệt. Khoảng giữa Hầu, 2 huyệt, tại Ung trung cốt, Hãm trung, đều có một huyệt tại dưới Cưu vĩ hai tấc, tại Vị oản 5 tấc, từ Vị oản trở xuống đến Hoành cốt một tấc rưỡi, linh một phân. Đó là Phúc mạch pháp vậy (phép chẩn mạch tại phúc bộ), tại Hạ âm riêng có một huyệt, dưới mắt đều có một huyệt, dưới môi có một huyệt, tại “lợi” răng có một huyệt [9].

Mạch khí của xung mạch phát ra 22 huyệt. Ngoài Cưu vĩ mỗi bên đều nửa tấc, đến khoảng rốn, cùng cách nhai một tấc, đều có một huyệt. Từ bên cạnh rốn trở xuống, mỗi bên đều có 5 phân, đến Hoành cốt một tấc, có một huyệt. Đó là Phúc mạnh pháp vậy [10].

Mạch của Túc Thiếu âm phát ra ở dưới lưỡi [11].

Cấp mạch ở mao trung Quyết âm, đều có một huyệt [12].

Thủ Thiếu âm điều có một huyệt [13].

Aâm, Dương kiêu đều có một huyệt [14].

Mạch khí phát ra ở Thủ, Túc Ngư tế, cộng ba trăm sáu mươi lăm huyệt [15].

THIÊN 60:CỐT KHÔNG LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

Tôi nghe: phong là một thứ bắt đầu sinh ra trăm bệnh. Dùng châm để điều trị, nên như thế nào? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Phong từ ngoài vào, khiến người rét run, hãn ra, đầu nhức mình nặng, ố hàn. Nên trị tại Phong phủ, làm cho âm dương điều hòa. Bất túc thời bổ, hữu dư thời tả [2].

Đại phong phạm vào người, khiến cho gáy, cổ đau, nên thích ở Phong phủ. Huyệt Phong phủ tại thượng trùy (Phong phủ tức là huyệt của Đốc mạch) [3].

Đại phong phạm vào người, hãn ra. Cứu ở huyệt Y hy. Huyệt Y hy tại dưới bối cách đường xương sống 3 tấc, lấy tay áp mạnh vào, bảo bệnh nhân kêu to lên hai tiếng “y hy”, huyệt sẽ bật lên ở dưới tay [4].

Nếu thấy gió mà ghê gió, thích ở đầu lông mày [5].

Nếu gáy đau không gối được, thích khoảng Hoành cốt tại trên vai [6].

Nếu lưng đau như gãy xuống, dùng tay buông thõng xuống, ngang với đầu khủyu tay, chiếu ra xương sống, sẽ cứu ở đấy [7].

Đau ở Diểu lạc, qúi hiếp, lan ra Thiếu phúc, vừa đau vừa, trướng, thích ở huyệt Y hy [8].

“Yêu” đau không thể cúi ngửa, đau rút xuống âm nóãn, thích luật biểu ở phận giác ở lưng [9].

Chứng Thử lậu, phát hàn nhiệt, thích ở Hàn phủ. Huyệt Hàn phủ tại gần huyệt Giải vinh ở đầu gối. Nếu muốn lấy huyệt Uûy trung tại sau gối (khuỷu, kheo) thời bảo đứng “vái” (Vì đứng vái thì ưỡn thẳng kheo ra, dễ lấy huyệt), muốn lấy ở túc tâm thời bảo quì (túc tâm tức là huyệt Dũng toàn. Quì thời chia hẳn lòng bàn chân ra, thấy được huyết ngay) [10].

Nhâm mạch phát sinh từ phía dưới Trung cực lên tới Mao tế, vòng phúc lý, lên quan nguyên, đến Yết hầu, qua mép vòng lên mắt [11].

Xung mạch phát sinh từ Khí nhai, cùng với kinh Thiếu âm qua Tể dẫn lên, đến Hung thời chia đi [12].

Nhâm mạch mắc bệnh, ở con trai bên trong kết thành bảy chứng Sáu, ở con gái, sinh chứng Đái hạ và Giả tụ [13].

Xung mạch mắc bệnh, khí nghịch và lý cấp [14].

Đốc mạch mắc bệnh, xương sống cứng và đau như gãy [15].

Đốc mạch phát sinh từ Thiếu phúc, ở khoảng giữa hạ cốt [16].

Về con gái, buộc vào Đình khổng (tức âm hộ), chỗ, “khổng” đó, tức là gốc của Niệu khổng. Lạc của nó, vòng âm khi, hợp với Thoán gian, quanh ra Thoán hậu, chằng xuống diễn, đến thiếu âm với Cự dương. Về trung lạch hợp với Thiếu âm, dẫn lên phía sau vế, xuất lên “tích” rồi nóái vào Thận. Cùng với mạch của kinh Thái dương khởi ở phía trong đầu mắt, lên trán, qua đỉnh đầu, chằng vào óc, rồi quanh xuống cổ, vòng xuống vai, qua tích đến yêu, giáp với Lữ và chằng vào Thận [17].

Về con trai, theo hành (tức sinh thực khí) đến Thoán, cũng giống con gái. Một đường do Thiếu phục dẫn lên, qua giữa rốn, suốt Tâm, tới Hầu, lên mép, vòng môi rồi buộc lên phía dưới hai mắt [18].

Bệnh phát sinh ở mạch nầy, từ Thiếu phúc xung lên Tâm mà đau, không đại tiểu được, đó gọi là Xung sán, ở con gái thời không thụ thai. Nếu phát ở tiền, hậu âm thời sẽ là các chứng long (tiểu buốt). Trĩ, di nịch, và ách can [19].

Đốc mạch phát bệnh, trị ở Đốc mạch, huyệt tại cốt thượng, quá lắm thời thích ở Tề hạ Doanh [20].

Nếu thượng khí trở thành tiếng, trị ở giữa Hầu, hoặc tại giữa Khuyết Bổn. Nếu bệnh xung lên Hầu, nên trị ở Tiệm. Tiệm là nơi phân chi của Đốc mạch, ở gần mép [21].

Đầu gối như bận bịu khó co duỗi, nên trị ở “Kiền”, ngồi mà đầu gối đau, nên trị ở “Cơ” (Kiền với Cơ tức là chỗ cơ quan, khớp xương) [22].

Đứng mà thấy nóng ở trong xương, nên trị ở Hài gian [23].

Đầu gối đau, đau suốt xuống ngón chân cái, nên trị ở quắc trung [24].

Ngồi mà đầu gối đau như vật gì bám vào nên trị ở quan [25].

Đầu gối đau không thể co duỗi nên trị ở Bối nóäi [26].

Đầu gối đau suốt xương ống như muốn gãy, trị ở Dương minh Trung du dao.

Nếu muốn trị sang nơi khác thời trị ở Cự dương, Thiếu âm Doanh [27].

Oáng chân đau nhức không thể đứng lâu, trị ở Duy của Thiếu dương, huyệt này tại trên Ngoại khỏa 5 tấc Quang minh [29].

Trên Phụ cốt, dưới Hoành cốt là Kiền, giáp Khoan là Cơ. Tất giải là Hài quan, cái xương liền với gối là Liên hài, trên Hài là Phụ, trên Phụ là Quắc. Trên Quắc là quan, xương nằm ngang phía sau đầy là Chẩm [30].

Thủy du có năm mươi bảy huyệt là: trên chân có 5 hàng, mỗi hàng 5 huyệt, trên Phục thổ có 2 hàng, mỗi hàng 5 huyệt, tả hữu mỗi bên đều có một hàng, mỗi hàng 5 huyệt, trên khỏa đều có một hàng, mỗi hàng có 6 huyệt [31].

Huyệt Tủy không, tại sau Não, 3 phân, và tại dưới Lô tế, Nhuệ cốt. Một đường tại dưới ngân cơ, một đường tại dưới Trung phục cốt phía sau cổ; một đường tại nơi rỗng không ở Tích cốt; và tại trên phong phủ dưới nơi rỗng không ở Tích cốt, lại ở nơi rỗng không tại dưới Cầu cốt [32]. Vài huyệt Tủy không tại mặt gần mũi hoặc miệng, xuống gần hai vai [33]. Cốt không ở hai bắp tay, tại cảnh bắp tay [34]. Tý cốt không ở cạnh Tý, cách khỏa 4 tấc, ở vào khoảng giữa hai cốt không [35]. Cốt không của vế cạnh Vế, phía trên gối 4 tấc. Yêu tế cốt không tại phía động mạch áp chân lông [36]. Cầu cốt không tại phía sau Bễ cốt, cách nhau 4 tấc [37]. Biển cốt (thứ xương giẹp, như xương mặt, không có Tủy khổng, không có dịch tủy (thay đổi tủy) nhưng bên ngoài cũng cân mạc và các chất thấm nhuần, một loại với các xương khác [38].

Về phép cứu chứng hàn nhiệt, trước cứu Đại trùy ở cổ, tính theo tuổi làm “tráng” (mỗi lượt gọi là mỗi tráng, như 10 tuổi thì 10 tráng v.v). Rồi cứu đến quyết cốt (tức Vĩ cùng, đều thuộc Đốc mạch), cũng tính “tráng” như trên. Trông xem chỗ lõm ở Bối du, để cứu ở đó. Cứu ở đầu Hoa cốt trên ngoại khỏa. Cứu ở khe ngón chân út với ngón vô danh giáp nhau. Cứu ở hãm mạch dưới bộng chân. Cứu ở phía sau ngoại khỏa. Aùn tay vào trên xương Khuyết bồn, thấy cứng và đau như mới có cai gân nóåi lên, nên Cứu ngay ở đó. Cứu ở khoảng hãm cốt tại Ưng trung. Cứu ở dưới Thúc cốt tại bàn tay. Cứu ở dưới 3 tấc huyệt quan nguyệt tại dưới rốn. Cứu ở Động mạch tại mao tế. Cứu ở dưới xương đầu gối 3 tấc. Cứu ở động mạch thuộc Túc Dương minh tại trên xương khoai. Cứu ở đỉnh đầu một tráng. Nơi chó cắn, Cứu 3 tráng, đó tức là lấy phương pháp, trị bệnh chó cắn để cứu [39].

Phàm nên cứu, tổng cộng 29 huyệt, Lại có thể dùng phương pháp Cứu thương thực để Cứu [40].

Nếu chưa khỏi, nên nhằm cái kinh của nó hướng về Dương, thời nên luôn thích ở Du, và cho uống thuốc thêm (3) [41].

THIÊN 61 : THUỶ NHIỆT HUYỆT LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Thiếu âm sao lại chủ về Thận? Thận sao lại chủ về Thủy? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Thận, thuộc về Chí âm; Chí âm là nơi để chứa Thủy, Phế thuộc về Thái âm. Thiếu âm mạch thuộc về mùa Đông. Cho nên gốc nó ở Thận mà ngọn nó là Phế. Đều là những nơi chứa nước [2].

Thận sao lại có thể tụ được Thủy mà sinh ra bệnh? [3]

Thận là cửa của Vị, vì “quan môn” không lợi nên mới tụ thủy và theo về cùng loài của nó [4].

Làm quá sức nhọc mệt; thời Thận hãn toát ra. Thận hãn toát ra mà gặp gió, trong không thể lọt vào Tàng phủ; ngoài không thể vượt ra bì phu. Khách (1) ở Huyền phủ, dẫn đi ở trong bì, truyền làm chứng phù thũng, gốc nó ở thận, gọi là Phong thủy Huyền phủ tức là lỗ hổng cho hãn toát ra.

Hoàng Đế hỏi:

Thủy du năm mươi bảy nơi, nó chủ về gì? [6]

Kỳ Bá thưa rằng:

Thận du năm mươi bảy huyệt, là nơi tụ của tích âm, thủy do đó mà ra vào. Tại cầu thượng có 5 hàng mỗi hàng có 5 huyệt, đều là Thận du. Cho nên, thủy dẫn xuống thành phù thũng, ở đại phúc thành chứng thở suyễn, không thể nằm. Vì “Tiêu, bản” đều mắc bệnh, nên mới có chứng “suyễn thở” và “phù thũng”, do thủy khí không du chuyển mà gây nên (1) [7].

Trên Phục thổ có hai hàng, mỗi hàng 5 huyệt. Đó là khí nhai của Thận, và là nơi giao kết tại chân của ba kinh âm [8].

Trên “khỏa” đều có một hàng, mỗi hàng 6 huyệt. Đó là đường lối dẫn xuống của thận mạch, gọi là Thái xung. Tất cả 57 huyệt đó, đều là âm lạc của Tàng, mà Thủy “khách” vào đó [9].

Hoàng Đế hỏi:

Mùa xuân thích ở Lạc mạch, phận nhục, là vì cớ sao?

Kỳ Bá thưa rằng:

Mùa xuân, hành mộc mới bắt đầu thống trị Can khí mới sinh. Can bẩm thụ cái khí phong mộc, nên “cấp, tật” (kíp, chóng); Kinh mạch do Đông lệch phục tàng ở sâu, giờ gặp xuân khí mới ra, nên khí còn ít. Vậy dùng châm, không thể vào sâu, để lấy ở Kinh, mà chỉ lấy “Nóâng” ở nơi Lạc mạch phận nhục (1).

Mùa Hạ thích ở thịnh kinh và phận tấu, là vì sao? [12]

Về mùa Hạ, hành Hỏa mới trị thời Tâm khí mới sinh trưởng. Mạch còn nón, khí còn yếu. Dương khí ứ ràn, nhiệt hun phận tấu, bên trong lấn vào tới Kinh. Cho nên phải thích ở kinh phận tấu. Làm đứt hẳn lối đi của tà ở ngoài bì phu vì là nó còn ở chỗ nóâng. Trên nói là “thịnh kinh”, vì dương đương thịnh ở đó [13].

Mùa Thu, thích ở Kinh du, là vì sao? [14]

Về mùa Thu, hành Kim mới trị thời, Phế khí sắp thâu sái, kim khí sắp phát triển, Dương khí ở nơi hợp, âm khí mới sinh ra. Thấp khí nhiễm vào thân thể, âm khí chưa toàn thịnh, chưa thể vào sâu, cho nên thích ở Du để tả âm tà, thích ở Hợp để hư dương tà. Dương khí mới suy, nên thính ở Hợp (1) [15]

Mùa Đông, thích ở Tỉnh, Vinh là vì sao?

Về mùa Đông, hành Thủy mới trị thời. Thận mới “bế” (đóng, như đóng cửa), dương khí suy ít, âm khí thịnh nhiều. Cự dương phục trầm, dương mạch cũng lánh dương phận để quy phụ về bên trong. Cho nên thích ở Tỉnh để hạ khí âm nghịch xuống, thích ở Vinh để làm cho Dương khí được đầy đủ. Cho nên có câu rằng: “mùa Đông thích ở Tỉnh, Vinh, “mùa Xuân không sinh chứng Cừu nục” là vì lẽ đó.

Hoàng Đế hỏi:

Phu tử nói trị nhiệt bệnh 59 Du, là những gì? Xin cho biết rõ [18].

Kỳ Bá thưa rằng:

Trên đầu 5 hàng, mỗi hàng có 5 huyệt để làm vượt bỏ nhiệt nghịch của chư dương. Đại chữ, Ưng du, Khuyết bồn, Bối du, 8 huyệt đó (vì mỗi huyệt chia làm hai bên mỗi bên một huyệt, mới thành tám), để tả bỏ nhiệt ở trong Hung. Khí nhai, Tam lý, Cự hư, Thượng hạ liêm, 8 huyệt đó (cũng như trên) để tả bỏ nhiệt ở trong Vị. Vân môn. Ngung cốt, Uûy trung, Tủy không 8 huyệt đó (như trên) để tả bỏ nhiệt ở tứ chi [19].

Bên cạnh Du, của năm Tàng đều có năm huyệt 10 huyệt đó để tả bỏ nhiệt của năm Tàng. Phàm 59 huyệt trên đó, đều theo nhiệt ở tả hữu để tả [20].

Người bị thương về khí hàn mà truyền thành bệnh nhiệt, là vì sao? [21]

Vì Hàn quá thời sẽ thành nhiệt (1) [22]

THIÊN 62: ĐIỀU KINH LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Ta nghe nói về phép thích “hữu dư thời tả, bất túc thời bổ”, vậy thế nào là hữu dư và bất túc? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Hữu dư có năm loại, bất túc có năm loại. Vậy Hoàng Đế muốn hỏi về loại nào ? [2]

Xin cho biết cả. [3]

Thần, có hữu dư, có bất dư, có bất túc, huyết; có hữu dư, có bất túc; hình, có hữu dư, có bất túc... Tất cả 10 loại đó, khí đều không giống nhau [4].

Hoàng Đế hỏi:

Người có tinh, khí, tân dịch, tứ chi, cửu khiếu, năm Tàng, mười sáu bộ, ba trăm sáu mươi tiết... Bấy giờ mới sinh ra trăm bệnh. Trăm bệnh sinh ra đều có hư thực. Giờ phu tử lại nói “hữu dư, bất túc” đều có năm, vậy lấy gì để sinh ra trăm bệnh? [5]

Đều sinh ra bởi năm Tàng. Nghĩ như: Tâm tàng Thần, Phế tàng khí, Can tàng Huyết, Tỳ tạng Nhục, Thận tàng chí... Để gây thành hình ấy. Chỉ khí thông với nhau, trong liền với cốt tủy, rồi sau mới thành được thân hình. Cái đường lối của năm Tàng, đều ra từ kinh toại, để lưu hành khí huyết. Nếu khí huyết không điều hòa, trăm bệnh sẽ biến hóa sinh ra. Vậy về phương pháp điều trị, cần phải chú trọng về kinh toại [6].

Thần, hữu dư và bất túc, thời thế nào? [7]

Thần hữu dư thời cười không ngớt, bất túc thời bi “thương, buồn” (1) [8].

Bổ, tả như thế nào? [9]

Hữu dư thời tả bỏ huyết ở tiểu lạc, cho xuất huyết nhưng đừng thích sâu, e sẽ trúng vào Đại kinh. Như thế, thần khí sẽ quân bình. Thần bất túc, thời trông cái hư lạc, án vào huyệt để cho khí đến, rồi thích vào lạc cho huyết được thông lợi. Đừng để cho xuất huyết, đừng để cho tiết khí, cốt làm cho thông hơi kinh mạch. Như thế, thần khí sẽ quân bình [10].

“Thích vi” như thế nào? (tức thích lúc sơ cảm)... [11]

Trước hãy án ma vào huyệt đừng rời tay, rồi sẽ dùng châm, nhưng đừng mạch, khiến cho tà khí dịch tới chỗ bất túc, thần khí sẽ hồi phục (1) [12].

Khí, hữu dư, bất túc như thế nào? [13]

Khi hữu dư thời suyễn, khái và thượng khí, bất túc thời khi thở và thiếu khí [14].

Huyết khí chưa dồn, năm tàng an định, bì phu hơi mắc bệnh gọi là “bạch khí hội tiết” [15].

Bổ, tả như thế nào? [16]

Khí hữu dư thời tả ở Kinh toại, đừng làm thương đến Kinh, đừng làm cho xuất huyết, đừng làm cho tiết khí. Bất túc thời bổ ở Kinh toại, đừng để cho xuất khí (tức là tiết mất khí của Kinh toại) [17].

“Thích vi” như thế nào? [18]

Aùn ma đừng rời tay, cầm châm, trông kỹ để định nóâng sâu. Thích vừa đúng, kinh khí sẽ hồi phục, tà khí khỏi tán loạn; do đó, tà khí tiết cả ra bì mao tấu lý, lại được quay trở về phu biểu, mà bệnh sẽ khỏi [19].

Huyết, hữu dư, bất túc, như thế nào? [20]

Hữu dư thời nóä; bất túc thời khủng. Huyết khí chửa dồn, năm Tàng an định; Tôn lạc nước ràn (nước tân dịch), thời Kinh có lưu huyết [21].

Bổ, tả như thế?

Huyết hữu dư thời tả ở thịnh kinh, để xuất huyết. Nếu bất túc, thời trông như ở hư kinh, để châm trong mạch, ngâm lâu để trông; nếu mạch nhanh quá, thời xuất châm, đừng để cho huyết ra (1) [22].

Thích “lưu huyết” như thế nào? [23]

Trông ở huyết lạc, thích cho xuất huyết; đừng để cho ác huyết được lọt vào Kinh, để gây nên bệnh [24].

Hình, hữu dư, bất túc như thế nào? [25]

Hình hữu dư thời phúc trướng, tiểu thủy không lợi; bất túc thời tứ chi không cử động được. Huyết khí chưa dồn, năm Tàng an định, cơ nhục nhu động (cồn lên, như sâu bò trong thịt), gọi là vi phong [26].

Bổ tả như thế nào? [27]

Hình hữu dư thời tả ở Dương kinh; bất túc thời bổ ở Dương lạc (1) [28].

“Thích vi” như thế nào? [29]

Thích ở khoảng phận nhục, đừng để trúng kinh, đừng làm thương Lạc. Vệ khí hồi phục được, tà khí sẽ bị tan đi [30].

Chí, hữu dư, bất túc như thế nào? [31]

Chí hữu dư thời phúc trướng, xôn tiết, bất túc thời Quyết (1) [32].

Huyết khí chưa dồn, năm tàng an định, cốt tiết có động (vì bị phong phạm vào, nên động) [33].

Bổ, tả như thế nào? [34]

Chí hữu dư thời tả bổ huyết ở huyệt Nhiên cân (tức là Nhiên cốc, và Vinh huyệt thuộc Túc thiếu âm) bấc túc thời bổ Huyệt lưu (túc kinh huyệt của túc thiếu âm). Phục lưu [35].

Thích từ lúc huyết khí chửa dồn như thế nào? [36]

Thích ngay ở chỗ “động” tại cốt tiết, nhưng đừng để trúng kinh, tà sẽ hư suy ngay [37].

Hoàng Đế hỏi:

Tôi đã được nghe cái hình về hư thực rồi, vậy xin cho biết vì đâu mà sinh ra? [38]

Kỳ Bá thưa:

Huyết khí đã dồn, âm dương cùng xung đột nhau, khí loạn ở Vệ, huyết nghịch ở kinh, huyệt khí ở lìa sẽ sinh ra một thực một hư [39].

Kinh văn: Huyết ở vào Aâm, khí dồn vào Dương, nên phát thành kinh cuồng [40].

Huyết dồn lên trên, khí dồn xuống dưới, sẽ thành chứng Tâm phiền, uất, hay nóä. Huyết dồn xuống dưới, khí dồn lên trên, tinh thần sẽ loạn mà hay quên [42].

Huyết dồn vào Aâm, khí dồn vào Dương, thời như thế! Còn huyết khí lìa nhau thời thế nào là thực, thế nào là hư? [43]

Huyết khí là một đầu thính “hỷ ôn mà ố hàn”. Hàn thời ngừng trệ mà không lưu thông, ôn thời sẽ tiêu tan mà lưu thông. Vậy nên nếu khí dồn vào, sẽ thành huyết hư, huyết dồn vào, sẽ thành khí hư [44].

Hoàng Đế hỏi:

Ở trong con người chỉ có khí với huyết mà thôi. Giờ phu tử lại nói: “huyết dồn là hư, khí dồn là hư...” vậy là không có “thực” chăng? [45]

Kỳ Bá thưa:

“Hữu” thời là thực, “vô thời là hư, cho nên khí dồn thời không có huyết, huyết dồn thời không có khí. Giờ huyết với khí cùng trái nhau nên đều là hư [46].

Lạc với Tôn lạc đều rót vào Kinh. Huyết với khí dồn, thời sẽ là thực. Huyết cùng với khí dồn cả lên trên, thời là đại quyết. Quyết thời bạo tử. Nếu khí trở lại thời sống, không trở lại thời chết[47].

Hoàng Đế hỏi:

Thực, do đường nào lại; hư, do đường nào đi?... Cái cốt yếu của hư thực thế nào, xin cho biết rõ[48].

Kỳ Bá thưa rằng:âm với Dương đều có Du hội. Dương rót vào âm, âm ràn ra ngoài. Âm dương quân bình, để nuôi thân hình, chín hậu như một, sẽ là bình nhân[49].

Phàm bệnh tà sinh ra hoặc sinh ra bởi âm, hoặc sinh ra bởi dương. Cái sinh ra bởi dương, phần nhiều do phong, vũ, hàn, thử cái sinh ra bởi âm, phần nhiều do ẩm thực, cư xử, và âm dương, hỷ nóä [50].

Hoàng Đế hỏi:

Phong, vũ làm thương đến con người, như thế nào? [51]

Phong, vũ làm thương con người, trước “khách” ở bì phu, truyền vào đến Tôn mạch, Tôn mạch đầy, lại truyền vào lạc mạch, lạc mạch đầy, thời chuyển du vào đại kinh mạch. Huyết khí với tà khí, cùng “khách” cả ở khoảng phận nhục và tấu lý, mạch nó kiên đại nên gọi là “thực”. Thực là một trạng thái bên ngoài kiên và sung mãn, không thể án tay vào. Aùn tay vào thời lý khí có thể ứng ra mà làm cho ôn, nên dễ chịu mà không đau [52].

Hàn, thấp làm thương đến con người, như thế nào? [53]

Hàn, thấp trúng vào người, bì phu bất nhân, cơ nhục kiên khẩn (rắn, lẳn), vinh huyết rít lại, vệ khí tan đi, cho nên mới thành hư. Hư là do bị tích ở bên trong, khiến khí bất túc. Aùn tay vào, thời lý khí có thể ứng ra mà làm cho ôn, nên dễ chịu mà không đau [54].

Aâm sinh ra thực, như thế nào? [55]

Hỷ, nóä không tiết thời âm khí nghịch lên, nghịch lên thời dưới hư, dưới hư thời dương khí sẽ tẩu tán, cho nên nói là “thực” [56].

Aâm sinh ra hư, như thế nào? [57].

Hỷ thời khí giáng xuống, bi thời khí tiêu đi, tiêu thời mạch hư không, nhân uống ăn phải thức hàn, hàn khí tràn lan thời huyết sẽ rít lại, khí sẽ tiêu đi... Nên gọi là hư.

Kinh nói: “Dương hư thời ngoại hàn, âm hư thời nóäi nhiệt, dương thịnh thời ngoại nhiệt, âm thịnh thời nóäi hàn...” Tôi đã được nghe rồi. Vậy nguyên nhân nó bởi sao? [59]

Dương “thu” khí ở Thượng tiêu, để làm “ôn” cho khoảng bì phu phận nhục. Giờ hàn khí phạm ở bên ngoài, thời Thượng tiêu sẽ không thông. Thượng tiêu không thông, thời hàn khí riêng chiếm ở ngoài, cho nên thành chứng “hàn tật” (rét run) [60].

Do việc gì khó nhọc mỏi mệt, hình khí suy ít, cốt khí không được thịnh, Thượng tiêu không vận hành được cốc khí, Hạ tiêu không tiếp thu được tân dịch, do cái khí dương nhiệt của Vị bị nghẽn không bố tán đi đâu được, sẽ hun dồn cả lên Hung, mà thành chứng nóäi nhiệt [61].

Dương hư sinh ngoại nhiệt là thế nào? [62]

Thượng tiêu không thông lợi, thời bì phu chặt kín, tấu lý vít lấp, huyết phủ không thông vệ khí không thể tiết việt được, nên mới thành chứng ngoại nhiệt [63].

Aâm thịnh sinh nóäi hàn, là thế nào? [64]

Quyết khí nghịch lên, hàn khí tích ở trong Hung, mà không tả ra được. Không tả ra được thời ôn khí sẽ bị tan đi, chỉ còn có hàn khí một mình ở lại, huyết do đó mà đọng rít. Đọng thời mạch không thông. Nó sẽ biến thành thịnh, đại và sắc, cho nên trung hàn [65].

Aâm với Dương, dồn vào nhau, huyết khí cũng dồn, bệnh tình sẽ do đó mà gây nên. Nên thích thế nào? [66]

Thích bệnh này, nên lấy ở Kinh toại, lấy huyết ở Doanh, lấy khí ở Vệ... Lại phải dùng cả thân hình nữa, nhân bốn mùa mà thích hoặc nhiều hoặc ít, hoặc cao, hoặc thấp...(1) [67].

Huyết khí đã dồn, bệnh hình đã thành, âm dương đã lệch (không quân bình), nên bổ tả như thế nào? [68]

Muốn tả thực, chờ cho khí thịnh, sẽ “nạp” châm. Châm với khí cùng nạp (tức thích vào) để mở cửa cho tinh khí lưu ở trong rồi châm với nhiệt tà cũng rút ra, như thế, tinh khí sẽ không bị thương, mà tà khí cũng giáng xuống, đừng vít lỗ châm, cho bệnh rút ra, lại xoay chuyển mũi châm, cho đường lối thêm rộng, đó tức là phương pháp đại tả. Kíp dồn cho ra, đại khí (tức tà khí) mới ra [69].

Bổ hư thế nào? [70]

Tay cầm châm, chú ý vào châm. Chờ lúc bệnh nhân thở ra (hô) sẽ nạp châm, chờ lúc bệnh nhân hút vào sẽ rút châm. Lúc nạp châm đừng xoay chuyển, khiến tinh khí không thể tiết ra được, chờ lúc chính khí đã thực sẽ kíp rút châm, lựa cho chính khí lọt vào, giữa lúc châm vừa rút ra thời nhiệt tà không thể lại lọt vào trong. Khí môn ở bên trong đã nóng thời tà khí sẽ phải bố tán ở bên ngoài, mà tinh khí sẽ còn giữ được mãi. Dưới chân khí động, đợi lúc đến nơi, khiến cái khí “thiển cận” không tán thất ra bên ngoài, cái khí “thâm viễn” được giữ yên ở bên trong. Đó tức làm một phương pháp bổ chính mà lạ kiêm cả tán tà vậy [71].

Hoàng Đế hỏi:

Phu tử nói hư thực có mười loại, sinh ra bởi năm Tàng. Năm Tàng chỉ có năm mạch thôi. Ngẫm như mười hai kinh đều sinh ra bệnh, giờ Phu tử chỉ nói riêng năm Tàng. Vậy mười hai kinh -mạch kia đều “lạc” ba trăm sáu mươi nhăm tiết (khớp xương). Mỗi tiết đều có bệnh tật phải lây sang Kinh mạch. Bệnh ở Kinh mạch đều có hư thực, vậy lẽ đó thế nào? [72]

Kỳ Bá thưa rằng:

Năm Tàng hợp với sáu Phủ cùng làm biểu lý. Kinh mạch chi tiết, đều sinh hư thực. Hễ bệnh ở nơi nào, sẽ theo ngay nơi đó để triï. Bệnh tại mạch, điều trị ở huyết; bệnh tại huyết điều trị ở Lạc, bệnh tại khí điều trị ở Vệ, bệnh tại nhục, điều trị ở phận nhục; bệnh tại cân điều trị ở cân, bệnh tại cốt, điều trị ở cốt [73].

Phân châm (đem châm đốt cho nóng) để thích ngay vào nơi bệnh cấp, nếu bệnh tại cốt, thời đốt châm cho nóng “nhúng” vào nước thuốc rồi sẽ châm, châm rồi, lại dùng thuộc để “chườm” [74]

Bệnh đau, mà không biết đau ở đâu, nên thích ở trên lưỡi Kiểu. (Đau một cách lan man, không nhất định là nơi nào. Kiểu mạch khởi từ Tức khỏa) [75].

Thân hình có nơi đau, mà xét ở chín “hậu” lại không có bệnh, thời dùng phép Mậu thính [76].

Đau ở bên tả mà mạch bên hửu mắc bệnh, dùng phép Cự thích để điều trị. Phải cẩn thận tinh tế xét ở chín hậu, thời đối phép châm sẽ được hoàn toàn [77].

THIÊN 63 : MẬU THÍCH LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Ta nghe phép Mậu thích, chưa hiểu ra sao, xin cho biết rõ thế nào là Mậu thích ? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Tà khí “khách” ở thân hình con người, trước tụ ở bì mao, lưu ở đó không tan đi, lại vào tụ ở Tôn mạch lưu ở đó không tan đi, lại vào tụ ở Lạc mạch ở đó không tan đi, lại vào tụ ở kinh mạch, khi đó bên trong sẽ liền với năm Tàng, bố tán ra Trường Vị, âm dương đều thịnh, năm Tàng sẽ thương. Đó là tà khí bắt đầu phạm ở bì mao, rồi cuối cùng vào tới năm Tàng. Như thế thời điều trị ở Kinh [2].

Giờ tà khí khách ở bì mao, vào tụ ở Tôn lạc lưu ở đó mà không tan đi, vít lấp không thông, không được truyền vào Kinh, mà trôi ràn vào Lạc, vì vậy mà gây nên bệnh [3].

Tà khí, “khách” ở đại lạc, nếu ở bên tả, sẽ rót sang bên Hữu, ở bên hữu sẽ rót sang bên tả. Trên dưới, tả hữu, cùng giao thông với kinh tương ứng để bố tán ra tứ chi. Cái khí đó không ở chuyên nơi nào, mà cũng không vào kinh du, nên gọi là Mậu thích [4].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết, vì cớ sao phép mậu thích lại bệnh ở tả thời thích hữu, bệnh ở hữu thời thích tả... Cùng với phép cự thích, khác nhau thế nào? [5]

Kỳ Bá :

Tà khách ở kinh, bên tả thịnh thời bên hữu mắc bệnh, bên hữu thịnh thời bên tả mắc bệnh. Nhưng cũng có khí di dịch. Bên tả đau chưa khỏi mà mạch bên hữu đã mắc bệnh, như thế, phải dùng phép Cự thích; nhưng phải thích cho trúng Kinh mạch, chứ không phải Lạc mạch. Cho nên bệnh ở Lạc, cái sự đau cùng với Kinh mạch khác nhau, nên gọi là Mậu thích [6].

Hoàng Đế hỏi:

Về phép Mậu thích, nên như thế nào [7]

Kỳ Bá:

Tà “khách” ở lạc Túc Thiếu âm, khiến người bỗng dưng Tâm thống, bạo trướng, Hung và Hiếp nghẽn đầy, xét ra không có “tích”, thích ở trước Nhiên cốt cho ra huyết; trong vòng như ăn xong bữa cơm, sẽ khỏi. Nếu không khỏi, bệnh bên tả, thích bên hữu; bệnh bên hữu, thích bên tả. Bệnh mới phát sinh, năm ngày sẽ khỏi [8] .

Tà khách ở Lạc Thủ Thiếu dương khiến người Hầu tý, thiệt quyển, miệng ráo, tâm phiền, ngoài cánh tay đau; tay không thể với lên đầu. Thích ở trên móng ngón tay giữa và ngón vô danh, cách chỗ móng bằng chiếc là Hẹ (cửu diệp) đều một “Vĩ” (vết, hoặc nóát). Hạng tráng niên, khỏi ngay; người già một lát sẽ khỏi. Bệnh bên tả, thích bên hữu; bệnh bên hữu, thích bên tả. Bệnh mới phát, vài ngày khỏi [9].

Tà khách ở Lạc Túc quyết âm, khiến người bỗng dưng Sán thống, bạo thống, thích ở chỗ thịt giáp móng ngón chân cái, mỗi bên một “Vĩ”. Bệnh nhân là con trai, khỏi ngay, là con gái một lát khỏi. Bệnh bên tả, thích bên hữu, bệnh bên hữu, thích bên tả [10].

Tà khách ở Lạc Túc Thái dương, khiến người đầu và cổ đều đau. Thích ở chỗ thịt giáp móng ngón chân út, mỗi bên một “Vĩ”. Bệnh bên tả, thích bên hữu, bệnh bên hữu thích bên tả. Như xong một bữa ăn sẽ khỏi [11].

Tà khách ở Lạc Thủ Dương minh, khiến người khí mãn, trong Hung suyễn và thở gấp, Hiếp, nghẽn, Hung nhiệt, thích ở Quang Xung, Thiếu Thương ngón tay giữa và ngón vô danh, cách chỗ móng bằng một lá hẹ nằm ngang, mỗi gón một “Vĩ:”. Bệnh bên tả, thích bên hữu, bệnh bên hữu, thích bên tả. Như xong bữu ăn sẽ khỏi [12].

Tà khách ở khoảng tý trưởng (cánh tay, bàn tay), không thể co lại được, thích ở sau Khỏa (sau khủyu tay), trước lấy tay ấn vào, thấy đau bây giờ mới thích. Lấy nguyệt (mặt trăng) mọc lặn làm số hạn. Trăng mọc ngày thứ nhất, thích một “Vĩ”, ngày thứ hai (2 vĩ), ngày 15, 15 (vĩ), ngày 16, 14 (võ) (rút đi dần) [13].

Tà khách ở mạch Túc Dương kiểu, khiến người mắt đau, bắt đầu từ trong đầu mắt trước, thích ở dưới. Ngoại khỏa nửa tấc đều 2 “vĩ”. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Một lát lâu như đi được mười dặm, sẽ khỏi [14].

Nếu bị ngã đau, ác huyết lưu ở bên trong, trong bụng đầy, không đại tiểu được, trước nên cho uống (lợi dược) (thứ thuốc uống cho lợi đại tiểu). Bệnh đó, do bên trên thời thương đến mạch của Quyết âm, bên dưới thời thương đến Lạc của Thiếu dương, thích ở dưới tức Nóäi khỏa, phía trước Nhiên cốc, để cho huyết ở mạch tiết ra. Lại thích ở Động mạch trên mu bàn chân, vẫn không khỏi, lại thích ở trên Tam mao, đều một “vĩ” thấy nhớm huyết, khỏi ngay. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Nếu bệnh nhân hay bị, kinh, không vui, cũng thích như phương pháp trên [15].

Tà khách ở Lạc của Thủ Dương minh, khiến người tai điếc, thường không nghe tiếng gì. Thích ở ngón tay cái, ngón tay trở, chỗ cách móng tay bằng chiếc lá hẹ nằm ngang, đều một “vĩ”. Có thể nghe tiếng ngay. Nếu không khỏi, thích ở chỗ thịt và móng tay giáp nhau, có thể nghe được ngay. Nếu bệnh nhân có lúc vẫn nghe được, thời không thể thích. Nếu trong tai ù ù như gió, cũng thích bấy nhiêu “vĩ”. Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả [16].

Phàm chứng Tý, lúc ở chỗ này, lúc ở chỗ nọ, đi lại không có nơi nhất định. Nhận ở ngoài thịt, chỗ nào đau thời thích, lấy mặt trăng mọc làm hạn. Khi dùng châm, theo khí thịnh suy để tính số “vĩ”. Nếu châm quá số ngày, sẽ bị thoái khí, nếu không kịp số ngày, tà khí sẽ không tả ra được. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả, bệnh khỏi, thôi không thích nữa, vẫn chưa khỏi, lại thích đúng như phép theo mặt trăng khi mọc, ngày thứ một, một “vĩ” ngày thứ hai hai “vĩ”... Rồi nhiều dần lên đến ngày thứ mười lăm thời mười lăm “vĩ:” qua ngày mười sáu thời mười bốn “vĩ”, rồi lại rút bớt dần [17].

Tà khách ở kinh mạch Túc Dương minh, khiến người Cừu nục (máu chảy ra đằng mũi) Răng hàm trên lạnh, thích ở chỗ thịt giáp liền với móng hai ngón chân giữa và ngón vô danh, đều một “vĩ”. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả [18].

Tà khách ở Lạc của Túc thiếu dương, khiến người Hiếp (lườn) đau không thể thở, khái mà hãn ra, thích ở chỗ thịt giáp liền với hai ngón chân vô danh và ngón chân út. Đều một “vĩ”. Về chứng “không thể thở”, sẽ khỏi ngay, chứng hãn ra cũng chỉ ngay. Còn chứng khái, phải cho mặc áo ấm, và cho điều dưỡng thêm bằng thức ăn có tính ôn, một ngày sẽ khỏi. Bệnh bên tả, thích ở hũu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Bệnh khỏi ngay. Nếu vẫn không khỏi, lại thích đúng như phép trước [19].

Tà khách ở Lạc của Túc thiếu âm, khiến người đau ở cuống họng, không thể nuốt thức ăn, không vì cớ gì mà cũng hay nóä, khí dẫn ngược lên Bí môn, thích mạch Trung ương ở dưới chân Dũng tuyền 3 “Vĩ” tất cả sáu lần thích, khỏi ngay. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả. Cuống họng sưng, không nuốt được nước miếng, cũng có lúc không nhổ ra được, thích ở trước Nhiên cốt, cho xuất huyết, khỏi ngay. Bệnh ở tả, thích bên hữu, bệnh ở hữu, thích bên tả [20].

Tà khách ở Lạc của Túc Thái âm, khiến người yêu thống, rút xuống, Thiếu phúc, đau ra cả sườn, không thể nằm ngửa, thích giải huyết khoảng yêu và cầu cốt, và trên hai “thăn” (thịt giáp xương sống) đó là yêu du. Lấy mặt trăng mọc lặn làm số “vĩ” rút chậm khỏi ngay. Bệnh bên tả, thích ở hữu, bệnh bên hữu, thích ở tả [21].

Tà khách ở Lạc của Túc Thái dương, khiến người co rút, lưng gò đau rút xuống hiếp. Thích từ cổ trước, đếm từng đốt xương sống, vừa đếm nhanh, vừa ấn tay mạnh, gặp chõ nào đau, thích ngay, ba “vĩ” khỏi ngay [22].

Tà khách ở Lạc của Túc Thiếu dương, khiến người đau nhức ở Khu trung (tức hai huyệt Hoàn khiếu ở đùi), không thể cất đùi lên được. Dùng “Hào” (tên một thứ châm) để châm. Nếu bệnh hàn, thời để châm lâu. Theo mặt trăng mọc lặn làm số “vĩ”, sẽ khỏi ngay [23].

Điều trị các Kính biệt, nếu chỗ tà khí đi qua mà không bệnh, thời dùng phép mậu thích (1) [24].

Tai điếc, thích ở Thủ Dương minh, không khỏi, nên thích ở Thông mạch. mạch này ở phía trước tai. Thính hội [25].

Răng đau nhức, thích ở Thủ Dương minh, không khỏi thích vào (cái mạch dẫn vào trong răng), ở khe răng, sẽ khỏi ngay [26].

Tà khách ở khoảng 5 Tàng, khi phát bệnh, đau rút ở trong mạch, lúc đau, lúc đỡ, nhận kỹ bệnh, rồi dùng phép Mậu thích. Thông nhị tĩnh huyệt. Trông kỹ và thích ở Mạch tại các đầu móng chân và móng tay, cho ra huyết. Cách ngày một lần thích. Thích một lần không khỏi thích năm lần [27].

Cái tà của Thủ Dương minh do sự “mậu truyền” (tức dẫn nhầm) mà dẫn lên răng (thuộc Túc Dương minh); răng và môi lạnh và đau. Trên mạch ở trên mu tay có huyết sắc hiện lên, thời thích bỏ đi, lại thích dưới móng ngón tay giữa thuộc về mạch Thương dương của Túc dương minh, đều một “vĩ”, khỏi ngay. Bệnh nhân tả thích ở bên hữu, bệnh bên hữu, thích ở bên tả [28].

Tà khách ở lại cả Thủ, Túc Thái âm Thiếu âm và Túc Dương minh. Năm lạc đó, đều hội họp ở trong tai, trên chằng lên “tả giác”. Vì tà khách ở Lạc nên 5 lạc đều kiệt, khiến cách mạch ở thân thể đều động, người đờ ra như “thây” không biết gì...Hoặc gọi là Thi quyết. Thích ở cạnh bên trong ngón chân cái, phía trên móng, Aàn bạch cách móng vằng cái lá hẹ nằm ngang, rồi thích ở Túc tâm, thích phía trên ngón chân giữa, đều một “Vĩ”, sau lại thích cạnh bên Lệ đài trong ngón tay cái, cách móng tay bằng một cái lá hẹ nằm ngang, sau lại thích đầu Nhuệ cốt thuộc Thủ Tâm chủ Thiếu âm, đều một “Vĩ”, khỏi ngay, nếu không khỏi, gọt bỏ chỗ tóc ở tả giác, vuông bằng một tấc, đốt lấy than, hòa vào một chén rượu ngon, cho uống. Người không biết uống cũng cố uống, khỏi ngay [29].

30) Phàm cái số thích, trước phải nhận ở Kinh mạch, án tay dò xem, xét rõ hư thực để điều trị. Nếu khí huyết không điều thích vào kinh mạch, nếu có nơi đau mà kinh mạch không mắc bệnh, dùng phép Mậu thích. Lại trong ở bì bộ của huyết lạc hiện lên, đều phải thích cả. Đó là phương pháp Mậu tích [30].

THIÊN 64 : TỨ THỜI THÍCH NGHỊCH TÙNG LUẬN

Quyết âm hữu dư, thời mắc bệnh Aâm tý, bất túc, thời mắc bệnh Nhiệt tý, Hoạt, thời mắc bệnh Hồ sán phong; sắc, thời mắc bệnh Thiếu phúc tích khí [1] .

Thiếu âm hữu dư, mắc bệnh Tý, và ẩn chuẩn (mọc nóát như sởi); bất túc, mắc chứng Phế tý. Hoạt thời mắc bệnh Phế phong sán, sắc, thời mắc bệnh tích, và tiểu ra huyết [2].

3 Thái âm hữu dư, mắc bệnh Nhục tý và hàn trung, bất túc, thời mắc bệnh Tỳ tý. Hoạt thời mắc bệnh Tý, Phong sán, sắc, thời mắc bệnh tích, Tâm phúc bị [3].

4) Dương minh hữu dư, mắc bệnh mạch tý, mình thường nóng. Bất túc, mắc bệnh Tâm tý, hoạt thời mắc bệnh Tâm phong sán, sắc, thời mắc bệnh tích, thỉnh thoảng hay kinh [4].

5) Thái dương hữu dư, mắc bệnh cốt tý, mình nặng, bất túc, mắc bệnh thận tý, hoạt thời mắc bệnh Thận phong sán, sắc thời mắc bệnh tích, thỉnh thoảng phát chứng điên [5].

6) Thiếu dương hữu dư, ắc bệnh Cân tý, hiếp mãn, bất túc, mắc bệnh Cân tý. Hoạt, thời mắc bệnh Can phong sán, sắc thời bệnh tích, thỉnh thoảng gân rút, và đau mắt [6].

Aáy cho nên: khí mùa Xuân ở Kinh mạch, khí mùa Hạ ở Tôn lạc, khí mùa Trường hạ ở Cơ nhục, khí mùa Thu ở Bì phu, khí mùa Đông ở trong Cốt tủy [7].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết nguyên nhân ra làm sao? [8]

Mùa Xuân, là thời kỳ khí trời mới mở ra, khí đất mới phát tiết, váng mỡ, giá tan, thủy lưu hành, kinh thông lợi. Cho nên khi người ở trong mạch. Mùa Hạ, kinh đầy, khí ràn, vào Tôn lạc để tiếp nhận lấy huyết, bì phu do đó được đầy dặc, mùa Trường hạ kinh lạc đều thịnh, do bên trong tiết vào cơ nhục, mùa Thu, khí trời mới thâu lễm, tấy lý vít lấp, bì phu khô dẳng, mùa Đông che giấp huyết khí ở bên trong, bám liền vào cốt tủy, để lại giao thông với 5 Tàng [9].

Vậy nên, tà khí thường theo khí huyết của con người ở bốn mùa để thừa cơ vào “Khách”. Nhưng đến sự biến hóa thời thật khó mà đo lường. Dù sao cũng phải thuận theo ở Kinh khí để dùng phép thích, nếu tích trừ được tà khí, thời loạn khí sẽ không sinh ra được.

Hoàng Đế hỏi:

Thích trái với bốn mùa, mà sinh loạn khí, bệnh trạng như thế nào? [11]

Kỳ Bá thưa rằng:

Mùa Xuân mà thích ở Lạc mạch (xuân khí ở Kinh mạch, mà thích Lạc mạch, là trái), huyết khí sẽ ràn ra ngoài, khiến người thiểu khí, mùa xuân mà thích ở cơ nhhục, huyết khi sẽ vòng đi ngược, khiến người thượng khí, mùa xuân, mùa Xuân mà thích ở Cân cốt, huyết khí sẽ bám vào trong, khiến người phúc trướng [12].

Mùa Hạ mà thích ở Kinh mạch (mùa Hạ huyết khí đã ra ngoài Tôn lạc), huyết khí sẽ bị kiệt, khiến người rã rời, mùa Hạ mà thích ở Cơ nhục, huyết khí sẽ lộn vào trong, khiến người hay khủng, mùa Hạ mà thích ở cân cốt, huyết khí sẽ nghịch lên, khiến người hay nóä [13].

Mùa thu mà thích ở Kinh mạch, huyết khí sẽ ngược lên, khiến người hay quên, mùa Thu thích ở Lạc mạch, khiến khí không dẫn được ra bên ngoài, khiến người nằm không muốn cựa, mùa Thu mà thích ở cân cốt, huyết khí sẽ tan rã ở bên trong, khiến người rét run [14].

Mùa Đông mà thích ở Kinh mạch, huyết khí sẽ đều thoát, khiến người mắt trông không tỏ, mùa Đông mà thích ở Lạc mạch khí bên trong sẽ tiết ra bên ngoài, lưu thành chứng đại tý, mùa Đông mà thích ở cơ nhục, dương khí sẽ kiệt tuyệt, khiến người hay quên [15].

Phàm sự thích về bốn mùa đó, đều gây nên bệnh lớn, không thể theo [16].

Vậy về phép thích, không biết kinh mạch của bốn mùa, bệnh sẽ sinh ra, nếp lấy thuận làm nghịch, chính khí sẽ loạn ở bên trong, tà khí và tinh khí sẽ cùng xung đột nhau. Vậy, tất phải xét rõ chín hậu, khiến cho chính khí không loạn, thời tinh khí mới không nghịch chuyển mà gây nên bệnh loạn [17].

Hoàng Đế nói:

Thích vào năm Tàng, nếu trúng Tâm, thời một ngày chết, khi mới phát bệnh sẽ là chứng “ợ” trúng Can thời năm ngày chết, khi mới phát bệnh sẽ là chứng muốn nói luôn miệng, trúng Phế thời ba ngày sẽ chết, khi mới phát bệnh sẽ là chứng ho, trúng Thận sáu ngày chết, khi mới phát, sẽ là chứng hắt hơi và vươn vai trúng Tỳ, mười ngày chết, khi mới phát sẽ là chứng thốn (nuốt nước miếng). Thích làm thương đến năm Tàng, tất phải chết, mà các bệnh lúc mới phát ra đều theo tính các bả tàng. Nhân đó có thể biết được là bao giờ chết [18].

THIÊN 65 : TIÊU BẢN LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Bệnh có tiêu (ngọn), bản (gốc), thích có nghịch có tùng (thuận), nghĩa đó như thế nào? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Về phương pháp thích, phải phân biệt âm dương, trước sau cùng ứng, nghịch tùng đều hợp, tieuâ bản cùng thay đổi [2].

Cho nên nói rằng: có khi ở tiêu, mà cầu nó ở tiêu, có khi ở bản, mà cầu nó ở bản, có khi ở bản mà cầu nó ở tiêu, có khi ở tiêu mà cầu nó ở bản [3].

Cho nên về phương pháp điều trị, có khi lấy ở tiêu mà được, có khi lấy ở bản mà được, có khi nghịch thủ mà được, có khi tùng thủ mà được [4].

Vậy nếu biết nghịch với tùng đó là chính pháp không còn gì hơn, biết được tiêu bản muôn làm muôn đứng, không biết tiêu bản, làm càn ra chi...[5]

Nói về cái đạo âm dương, nghịch tùng, và tiêu bản... mới nghe nhỏ, mà sau thật lớn, nói một điều mà biết được cái hại của trăm bệnh [6].

Ít mà là nhiều, nóâng mà là sâu, có thể nói một mà biết được trăm [7].

Do nóâng mà biết được sâu, xét gần mà biết được xa. Nói tiêu với bản, không nên tương phản [8].

Trị “phản” là nghịch, trị “đắc” là tùng.Trước mắc bệnh mà sau nghịch, trị ở bản; trước nghịch mà sau mắc bệnh, trị ở bản [9]. Trước hàn mà sau sinh bệnh, trị ở bản, trước mắc bệnh mà sau sinh hàn, trị ở bản [10]. Trước nhiệt mà sau mắc bệnh, trị ở bản, trước nhiệt mà sau xin trung mãn, trị ở tiêu [11]. Trước mắc bệnh mà sau tiết tả, trị ở bản, trước tiết tả mà sau thêm bệnh khác, trị ở bản, hãy điều hòa trước đã, rồi hãy trị bệnh khác [12]. Trước mắc bệnh mà sau sinh chứng phiền tâm, trị ở bản. Bởi ở trong thân thể con người, có khách khí, lại có đồng khí [13]. Tiểu, đại không lợi, trị ở tiểu, tiểu, đại lợi, trị ở bản [14]. Bệnh phát sinh mà hữu dư, bản mà là tiêu, trước hãy trị bản, rồi mới trị tiêu bệnh phát sinh mà bất túc, tiêu mà là bản, trước hãy trị tiêu, rồi mới trị bản [15]. Cẩn thận xét xem “gian” hay “Thậm”, lấy ý của mình để điều trị. Nếu “gian” thời tính hành, “thậm” thời độc hành. Tỉ như: trước tiểu, đại không lợi, mà rồi mới sinh bệnh khác, phải trị ở bản [16].

Bệnh có tương truyền, tỉ như Tâm bệnh, trước Tâm thống qua một ngày thời phát chứng Khái, qua ba ngày Hiếp chi thống: qua năm ngày vít lấp không thông, thân đau mình nặng, qua ba ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa Đông chết về nửa đêm, mùa Hạ chết về đúng trưa ( [17]

Bệnh ở Phế, suyễn khái, qua ba ngày mà hiếp chi mãn và thống, lại qua một ngày mà thân nặng mình đau, lại qua năm ngày mà trướng. Lại qua mười ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa Đông chết về lúc mặt trời lặn, mùa hạ chết về lúc mặt trời mọc [18]

Bệnh ở Can, đầu váng mắt hoa, Hiếp chi mãn, qua ba ngày, mình nặng, thân đau, qua năm ngày, sẽ phát trướng, lại qua ba ngày, yêu, tích và thiếu phúc đau, ống chân nhức, lại qua ba ngày không khỏi, sẽ chết. Mùa Đông chết về lúc mặt trời lặn, mùa Hạ chết về sáng sớm [19].

Bệnh ở Tỳ, thân đau, mình nặng. Qua một ngày mà Trướng, qua hai ngày, thiếu phúc, yêu, tích đau, xương ống chân nhức, qua ba ngày, bối, lữ và cân thống, tiểu tiện bế, qua mười ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa Đông, chết về lúc người đi ngủ yên; mùa Hạ, chết về lúc nửa buổi [20].

Bệnh ở Thận, Thiếu phúc và yêu, tích thống, xương ống chân, rức, qua ba ngày, bối, lữ, cân thống, tiểu tiện bế, qua ba ngày, phúc trướng, qua ba ngày lưỡng hiếp chỉ thống, lại qua ba ngày, không khỏi, sẽ chết Mùa Đông, chết về lúc sáng rõ, mùa Hạ, chết về lúc tối đã lâu [21].

Bệnh ở Vị, trướng mãn, qua năm ngày, thiếu phúc và yêu tích thống, xương ống chân nhức; qua ba ngày, bối, lữ, cân thống, tiểu tiện bế, qua năm ngày thân thể nặng nề, qua sáu ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về nửa đêm, mùa Hạ chết về xế chiều [22].

Bệnh ở Bàng quang, tiểu tiện bế; qua 5 ngày, Thiếu phúc trướng, yêu tích thống, xương ống chân nhức, qua một ngày, phúc trướng, lại qua một ngày thân thể thống, lại qua hai ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa Đông, chết về gà gáy, mùa Hạ, chết về chiều tà [23].

Các bệnh ở trên do sự “thắng, khắc” mà truyền đều có cái trường hợp chóng chết, dù có phép thích cũng không sao cứu chữa được. Hoặc tương truyền đến cách một Tàng, thời thôi, không truyền sang Tàng khác nữa, như thế mới có thể thích. Tỉ như: Tâm bệnh truyền Can, Can bệnh truyền tỳ, đó là con đi lấn mẹ... Đến Can Tàng, Tỳ Tàng thời thôi, không lại do sự “thắng, khắc” để truyền sang Tàng khác. Như thế mới có thể dùng phép thích. Lại tỉ như: Tâm bệnh truyền Tỳ, Phế bệnh truyền Thận, đó là mẹ đi lấn con, nhờ được cái sinh khí của mẫu tàng, còn là chứng không đến nóãi chết. Lại như Tâm bệnh truyền Thận, Phế bệnh truyền tâm, Can tàng truyền Phế v.v... Đó là do nơi “sở bất thắng” mà lại, bệnh nhẹ, cũng có thể dùng phép thích [24].

THIÊN 66 : THIÊN NGUYÊN KỶ ĐẠI LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

Trời có năm hành, trị năm vị, để sinh ra hàn, thử, táo, thấp và phong (1) Người có năm Tàng, hóa sinh năm khí, để sinh ra hỷ, nóä, ưu, tư, khủng (2). Trên Luận nói: năm vận cùng nóái, đều có chủ trị; cứ chọn một năm, “chu” mà lại bắt đầu... Tôi đã hiểu lẽ đó rồi. Xin cho biết cái “hậu” của tam âm, tam dương, tương hợp như thế nào (3)? [1]

1) Năm hành của trời tức là năm khí: Đan là đỏ, Kiềm là vàng. Thương là xanh, Tố là trắng, Huyền là đen, Năm vị, tức là vị của năm phương, mà cũng tức là năm hành của đất. Hàn, thử, táo, thấp, phong tức là 6 khi của trời. Ý đây nói: năm khí của trời, hợp với sự phối hợp của mười Can, để hóa sinh ra năm hành của đất, năm hành của đất lại sinh ra 6 khi của trời.

2) Năm Tàng, tức là do năm hành sinh ra. Khí của năm hành tức là: phong, nhiệt, thấp, táp, hàn. Hỳ nóä, ưu, tư, khủng là “thần chí” của năm Tàng.

Ngẫm như: ở giờ là khi, ở đất thành hình, hình khi cùng cảm mà muôn vật hóa sinh. Con người nhờ năm hành của đất để gây nên thân hình... Do cái năm Tàng có hình để hóa sinh ra năm khí và năm chí... Mà lại thông với thiên khí.

3) “Trên luận”, tức là nói những bài Lục tiết Tàng tượng v.v... Năm vận là: Năm Giáp, Kỷ thuộc về Thổ vận, năm Aát, Canh thuộc về Kim vận, năm Bính, Tân thuộc về Thủy vận, năm Đinh Nhâm thuộc về Mộc vận, năm Mậu, Quý thuộc về hỏa vận. Về tam âm, tam dương thời, hai năm Tý Ngọ, Thiếu âm làm chủ, hai năm Sửu, Vị (Mùi), Thái âm làm chủ, hai năm Dần, Thân, Thiếu dương làm chủ, hai năm Mão, Dậu, Dương minh làm chủ, hai năm Thìn, Tuất, Thái dương làm chủ, hai năm Tỵ, Hợi, quyết âm làm chủ.

Quỷ Du Khu vái tay, cúi đầu mà thưa rằng:

Năm vận, âm dương là đạo của trời. Nó là cương kỷ của muôn vật, cha mẹ của biến hóa, gốc ngọn của sinh sát, và là cái “phủ” của một sự thần minh đó (1) [2].

Vật sinh ra gọi là hóa, vật đến gọi là biến, âm dương khôn lường, gọi là thần; thần dụng vô phương gọi là thánh (2) [3].

Cái công dụng của sự biến hóa, ở trời gọi là huyền (1), ở người gọi là đạo (2), ở đất gọi là hóa (3). Do đó hóa sinh ra năm vị (4). Đạo sinh ra trí (5). Huyền sinh ra thần (6).

Thần ở trời là phong, ở đất là mộc, ở trời là nhiệt, ở đất là hỏa, ở trời là thấp, ở đất là thổ, ở trời là táo, ở đất là kim, ở trời là hàn, ở đất là thủy. Cho nên ở trời là khí, ở đất thành hình. Hình, khi cùng cảm, muôn vật do đó mà sinh ra (1) [5].

Vậy nên, trời đất đó là trên dưới của muôn vật, tả hữu đó là đường lối của âm dương (2), thủy hỏa đó là triệu chứng của khí âm dương (3); Kim, mộc đó là chung thủy của sự sinh thành (4).

Khí có nhiều, ít, hình có thịnh suy. Do sự trên dưới cùng cảm triệu, mà cái khí thái quá hay bất cập càng được rõ ràng.

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết năm vận chủ thời, như thế nào? (1) [8].

Qủy Du Khu thưa rằng:

- Năm khí vận hành, đều chọn cơ nhật (2), không những chủ thời mà thôi [9].

Xin cho biết rõ.. [10].

Thần xét trong Đại thủy Thiên nguyệt Sách văn chép rằng: “Thái hư rộng thẳm, gây nên hóa nguyện, muôn vật gây lúc đầu năm vận chọn chu thiên (3); khí tán ra chân linh, tổng thống cả Khôn nguyên (4); chín sao treo sáng, bảy Diệu vòng quanh (5) rằng âm, rằng dương, rằng như, rằng cương (6); u hiển đã xếp hàn, thử, thỉ, trương (7); sinh sinh, hóa hóa, phẩm vật phô bày (8)... Đạo lý đó, truyền tới thần, đã mười đời nay...

Hoàng Đế hỏi:

- Khí có nhiều ít, hình có thịnh suy, là thế nào? [12].

Qủy Du Khu thưa rằng:

Khí của âm, dương, có kinh nhiều, có kinh ít, nên gọi là tâm âm, tam dương. “Hình có thịnh suy” là nói về chủ trị của năm hành có thái quá và bất cập (1). Cho nên lúc bắt đầu; do hữu dư mà đi, bất cập sẽ theo; do bất túc mà đi, hữu dư sẽ theo. Biết được nghinh (tức đi) và tùy (tức theo), thời cái khi thái quá hay bất cập có thể dự biết được (2) [13].

Ưùng với trời là Thiên phù, ứng với năm là Tuế trị; “Tam hợp’ sẽ trị (3) [14].

Hoàng Đế hỏi:

Trên dưới cùng cảm triệu, là nghĩa thế nào? [15]

Quỷ Du Khu thưa rằng:

- Hàn, thử, táo, thấp, phong, hỏa... Thuộc về Aâm Dương của trời. Tam âm, tam dương, thượng phụng (như ứng theo) với nó. Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Hỏa... Thuộc về Aâm Dương của đất, sinh, trưởng, hóa, thâu, tàng ứng theo với nó (1) [16].

Trời có Aâm Dương để sinh, khí Aâm để trưởng, đất lấy khí Dương để sái (giảm bớt), khí Aâm để tàng (2) [17].

Trời có Aâm Dương, đất cũng có Aâm Dương, Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Hỏa... Đó là Aâm Dương của đất, chủ về sinh, trưởng hóa, thâu, tàng. Cho nên trong Dương có Aâm, trong Aâm có Dương (3) [18].

Vì vậy, muốn biết Aâm Dương của trời đất, ứng với khí của trời, động mà không ngừng, cho nên cứ hết 5 năm thời “hữu thiên”; ứng với khí của đất, tĩnh mà giữ vị, cho nên cứ hết sáu năm lại hoàn hội (4) [19].

Động, tĩnh cùng triệu, trên dưới cùng là, Aâm Dương cùng thay đổi, sự biến hóa do đó mà sinh ra (5) [20].

Hoàng Đế hỏi:

Trên, dưới, chu, kỷ, có số nhất định chăng ? [21]

Qủy Du Khu thưa rằng:

Trời lấy số “sáu” làm tiết, đất lấy số “năm” làm chết. Chu thiên khí thời cứ 6 năm là một lượt chung địa kỷ thời cứ 5 năm là một chu. Do đó, quân hỏa được sáng tỏ, tướng hỏa được yên ngôi (1) [22].

“Năm” với “sáu” cùng hợp, vậy nên cứ 720 khí làm một kỷ. Phàm 30 năm, cộng được 1440 khí. Tức 60 năm là một “chu” Bất cập hay thái quá, đều do đó có thể thấy rõ được (2) [23].

Hoàng Đế hỏi:

Theo lời nói của phu tử, trên rõ hết thiên khí, dưới rõ hết địa kỷ, thật là đầy đủ. Nhưng tôi muốn nhờ đó trước để trị dân, rồi đến trị thân, khiến trăm họ hiểu biết, trên dưới cùng thân, đức trạch thấm nhuần, con cháu hết lo, truyền mãi về sau không bao giờ cùng... Vậy xin cho biết thêm… [24]

Qủy Du Khu nói:

Cái định số của sự thái quá hay bất cập, rất là cơ vi. Nhưng khí tới có thể nhận thấy, khí đi có thể theo dõi. Vậy phải kính cẩn, không được coi thường, nếu trái lẽ đó, sẽ bị tai ương… [25]

Hoàng Đế nói:

- Khéo nói về trước, tất hiểu sau, đã hiểu nơi gần, tất rõ chỗ xa. Chí số tế vi đến thế mà suy diễn không nhẩm, thật là minh triết lắm rồi. Vậy xin phu tử giảng giải cho có điều lý, giảm ước mà không thiếu, dễ dàng mà khó quên... [26]

Qủy Du Khu nói:

Tôi được nghe, về năm Giáp, Kỷ, Thổ vận làm chủ, về năm Aát, Canh, Kim vận làm chủ, về năm Bính, Tân, Thủy vận làm chủ, về năm Đinh Nhâm, Mộc vận làm chủ; về năm Mậu Qúi, Hỏa vận làm chủ.. [27].

Hợp với tam âm, tam dương như thế nào? [28]

Về năm, Tý, Ngọ, trên thấy Thiếu âm, về năm Sửu, Vị (Mùi) trên thấy Thái âm, về năm Dần, Thân, trên thấy Thiếu dương về năm Mão, Dậu trên thấy Dương minh, về năm Thìn, Tuất trên thấy Thái dương, về năm Tỵ, Hợi, trên thấy quyết âm... Vậy Thiếu âm đó là Tiêu, mà quyết âm đó là Chung (cuối cùng) (1) [29].

Ở trên quyết âm, phong khí làm chủ, ở trên Thiếu âm, nhiệt khí làm chủ, ở trên Thái âm, thấp khí làm chủ, ở trên Thiếu dương, Tướng hỏa làm chủ, ở trên Dương minh, táo khí làm chủ, ở trên Thái dương, hàn khí làm chủ. Đó tức là Bản và gọi là “lục nguyên” (2) [30].

Hoàng Đế nói:

Đạo rất huyền ảo, bàn rất rõ ràng, xin ghi vào Ngọc bản, cất vào Kim qũi và đặt tên là: Thiên Nguyên kỷ.

THIÊN 67 : NGŨ VẬN HÀNH ĐẠI LUẬN

Hoàng Đế ngồi ở nhà Minh Đường, mới bắt đầu chỉnh lại thiên cương, rộng xem tám phương (cực), suy xét năm thường (1). Mời Thiên sư (Kỳ Bá) mà hỏi rằng:

Tôi nghe phu tử cho biết cái số về “ngũ vận”, chỉ có cái nghĩa là năm khí chủ về các năm mà thôi. Giờ Qủy Du Khu lại nói với tôi rằng” Thổ chủ về Giáp, Kỷ, Kim chủ về Aát, Canh, Thủy chủ về Bính, Tân, Mộc chủ về Đinh, Nhâm, Hỏa chủ về Mậu Qúi... Và ở trên Tý, Ngọ, Thiếu âm làm chủ, ở trên Sửu, Vị (Mùi), Thái âm làm chủ, ở trên Dần, Thân, Thiếu dương làm chủ, ở trên mão, Dậu, Dương minh làm chủ, ở trên Thìn, Tuất, Thái dương làm chủ, ở trên Tỵ, Hợi, Quyết âm làm chủ... So với âm dương của năm vận sáu khí không hợp, là sao vậy? [1].

Kỳ Bá thưa rằng:

Quỷ Du Khu nói như vậy là hiểu cái đại âm dương của trời đất đó. Phàm về “số” mà có thể đếm được cái “sở hợp” mà thôi. Đến như âm dương của trời đất, đếm có thể được mười, mà suy ra có thể thành trăm; đếm có thể được nghìn, mà suy ra có thể thành vạn... Vậy không thể nào lấy “số” để suy mà chỉ có thể lấy “hình tượng” để ví (1) [2].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết lúc đầu ra làm sao? [3].

Kỳ Bá thưa rằng:

Thần xem ở Thái thủy Thiên nguyên sách có chép rằng:

Cái khí của Đan thiên, qua ở Mậu phận thuộc sao Ngưu, Nữ cái khí của Kiền thiên, qua ở Kỷ phận, thuộc sao Tâm, Vỹ, cái khí Thương thiên, qua ở các sao Nguy, Thất, Liễu, Quỷ, cái khí của Huyền thiên, qua ở các sao Trương, Dực, Lâu, Vị... Như nói về Mậu Kỷ phận, tức là khoảng sao Khuê, Bích, Giác, Chẩn, mà là cửa ngõ của trời đất. Tóm lại, bắt đầu của sự biến hóa, đạo do đó mà sinh ra, cần phải hiểu biết lắm mới được (2) [4].

Hoàng Đế hỏi:

Luận nói: trời đất là trên dưới của muôn vật, tả hữu là đạo lộ (đường lối) của âm dương, xin cho biết rõ nghĩa đó ra sao?(1) [5]

Kỳ Bá thưa rằng:

Luận nói về trên dưới, là trên dưới của từng năm, và âm dương ở về nơi nào (2) [6].

Nói về tả hữu: Phàm trên thấp Quyết âm, thời bên tả là Thiếu âm, bên hữu là Thái dương, thấy Thiếu âm, thời bên tả là Thái âm, bên hữu là Quyết âm; thấy Thái âm, thời bên tả là Thiếu dương, bên hữu là Thiếu âm, thấy Dương minh, thời bên tả là Thái dương, bên hữu là Thiếu dương; thấy Thái dương, thời bên tả là Quyết âm, bên hữu là Dương minh... Đó là ngoảnh mặt về phương bắc để định rõ ngôi mà nói (3) [7].

Hoàng Đế hỏi:

Thế nào là dưới?[7]

Kỳ Bá thưa rằng:

Quyết âm ở trên thời Thiếu dương ở dưới, tả là Dương minh, hữu là Thái âm. Thiếu âm ở trên thời Dương minh ở dưới tả là Thái dương, hữu là Thiếu dương, Thái âm ở trên thời Thái dương ở dưới, Tả là Quyết âm, hữu là Dương minh, Thiếu dương ở trên thời Quyết âm ở dưới, tả là Thiếu âm, hữu là Thiếu dương; Dương minh ở trên thời thời Thiếu âm ở dưới, tả là Thiếu dương, hữu là Thiếu âm... Đó tức là cái ngoảnh mặt về phương Nam để ấn định bộ vị, còn sự nhận thấy là do người hướng về Bắc để xem vậy (1) [8]

Trên dưới cùng gặp, hàn thử cùng lâm (tới); khi tương đắc thời hòa, không tương đắc thời bệnh (2) [9].

Hoàng Đế hỏi:

Khí không tương đắc mà bệnh, là thế nào? [10]

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó là vì lấy dưới để lâm lên trên, không đúng với địa vị, nên sinh bệnh (3) [11].

Động tĩnh như thế nào ? [12]

Ở trên thời hữu hành (đi vòng sang bên hữu), ở dưới thời tả hành... tả hữu đi hết một “chu”, còn dư, thời lại hội (4). [13]

Hoàng Đế hỏi:

Tôi nghe Qủy Du Khu nói: “Ưùng với đất thời tĩnh”, giờ Phu tử lại nói: “ở dưới thời tả hành...” vậy thế là nghĩa sao? [14]

Kỳ Bá thưa rằng:

Trời, đất, động, tĩnh, năm hành thiên, phục. Tuy đời trước của Qủy Du Khu cũng chỉ biết được động tượng của trời mà thôi. Còn về “tĩnh hình” của dất thời vẫn chưa rõ (1) [15]

Cái công dụng của sự biến hóa, trời bày ra tượng, đất gây nên hình, “thất diệu” kinh vĩ ở khoảng Thái hư, ngũ hành chương minh ở trên mặt đất. Đất, cốt để chở mọi hình loại đã sinh thành; Thái hư, cốt để bày cái tinh khí hiển hiện ở trên trời. Sự động của hình với tinh, cũng như gốc rễ đối với cành là. Ngửa lên xem tượng, dù xa cũng có thể biết được (2) [16].

Hoàng Đế hỏi:

Đất, ở về phần dưới, phải không? [17]

Kỳ Bá thưa rằng:

Đất sở dĩ ở dưới người, chính vì nó ở trong khoảng Thái hư đó [18].

Có nương tựa vào đâu không? [19]

Chỉ do “đại khí” mang lên đó thôi (3) [20].

Nhờ khí táo để làm cho can (khô), nhờ khí thử để làm cho chưng (như nung, nấu, hấp), nhờ khí phong để làm cho động, nhờ khí thấp để làm cho nhuận, nhờ khí hỏa để làm cho kiên (cứng, rắn lại), nhờ khí hỏa để làm cho ôn, cho nên khí phong hàn ở dưới, khí táo nhiệt ở trên, khí thấp ở khoảng giữa... Sáu khí đó du hành khắp ở trên và dưới, do đó mới thành được sự sinh hóa (1) [21].

Cho nên khí táo thắng thời đất “can”, khí thử thắng thời đất nhiệt, khí phong thắng thời đất động, khí thấp thắng thời đất lầy (nê), khí hàn thắng thời đất nứt (lạt), khí hỏa thắng thời đất cố (rắn bền) (2) [22].

Hoàng Đế nói:

Khí của trời đất, lấy gì để “bậu” được? [23]

Kỳ Bá thưa rằng:

Khí của trời đất, và cái biến chuyển của thắng phục, không hình ra ở “chẩn” (tức chẩn mạch). Mạch pháp nói rằng “sự biến của trời đất, không thể chẩn ở mạch...” Tức là nghĩa đó (1) [24].

Hoàng Đế hỏi:

Gián khí như thế nào? [25]

Kỳ Bá thưa rằng

Tùy cái “sở tại” của khí, phải dự kỳ ở hai bên tả hữu (2) [26].

Hoàng Đế hỏi:

Dự kỳ như thế nào? [27].

Kỳ Bá thưa rằng:

Theo với khí thời hòa trái với khí thời bệnh (3). Không đúng với địa vị cũng sinh bệnh (4): thay đổi mất địa vị cũng bệnh (5); bỏ mất cái địa vị nên giữ thời nguy (6); Xích với thốn trái nhau thời chết (7); Aâm Dương giao nhau cũng chết (8); trước hãy lập lấy năm, để biết là khí gì và tả hữu tương ứng như thế nào, rồi sau mới có thể nói được đến thử, sinh, nghịch, thuận (9) [28].

Hoàng Đế hỏi:

Hàn, thử, thấp, táo, phong, hỏa... Hợp với người như thế nào Đối với muôn vật, sao mà hóa sinh được? [29].

Kỳ Bá thưa rằng:

Đông phương sinh ra phong, phong sinh hành mộc, mộc sinh ra vị toan (chua), toan sinh ra Can, Can sinh ra Cân, Cân sinh ra Tâm (1), nó ở trời là Huyền, ở người là đạo, ở đất là hóa, do hóa mà sinh ra năm vị. Đạo sinh ra trí, huyền sinh ra thần, hóa sinh ra khí. Thần, ở trời là Phong, ở đất là Mộc, ở thể là Cân, ở khí là Nhu (mềm mại), ở Tàng là Can (2).

Tính của nó là huyên (ấm áp); đức của nó là hòa, công dụng của nó là động, sắc của nó là thương (xanh); về sự hóa của nó là vinh (tươi tốt). Thuộc về trùng là giống có mao (lông), chính của nó là tán (sơ tán), bệnh của nó là tuyên phát, sự biến của nó là tồi lạp (bẻ gãy); tai sảnh của nó là vẫn (rơi rụng), vị của nó là toan, chí của nó là nóä. Do nóä sẽ làm thương Can, nhờ “bi” sẽ thắng nóä, phong làm thương Can; táo sẽ thắng phong, toan làm thương Cân, tân sẽ thắng toan [30]

Nam phương sinh nhiệt, nhiệt sinh ra hành hỏa, hỏa sinh ra vị khổ, khổ sinh ra Tâm, Tâm sinh ra huyết, huyết sinh ra Tỳ. Nó ở trời là nhiệt, ở đất là hỏa, ở thể là mạch, ở khí là tức (hơi thở), ở Tàng là Tâm. Tính của nó là thử (nắng, nóng) đức của nó là hiển (tỏ tường, rõ ràng): công dụng của nó là táo (nóng nảy, vội vàng); sắc của nó là Xích (đỏ), hóa của nó là mậu (tốt, về mùa Hạ cây cỏ rậm rạp). Thuộc loại trùng là loài Vũ (lông cánh), chính của nó là Minh (sáng); lệnh của nó là uất chưng (nung, nấu, nóng, bức); biến của nó là viêm thước (bốc cháy); tai sảnh của nó là phần, bính (đốt; viêm thước, phần, bính đều là hình dung cái khí cực nhiệt); vị của nó là khổ, chí của nó là hỷ. Hỷ làm thương Tâm, khủng sẽ thắng được hỷ, nhiệt làm thương khí, hàn sẽ thắng được nhiệt, khổ làm thương khi, hàn sẽ thắng được khổ [31].

Trung ương sinh ra thấp, thấp sinh ra hành thổ, thổ sinh ra vị Cam; cam sinh ra Tỳ, Tỳ sinh ra nhục. Nhục sinh ra Phế. Nó ở trời là thấp, ở đất là thổ, ở thể là Nhục, ở khí là xung (đầy); ở Tàng là Tỳ. Tính của nó là tĩnh; đức của nó là Nhu (ẩm ướt); công dụng của nó là hóa, sắc của nó là hoàng (vàng); hóa của nó là doanh (đầy, cũng như xung), về trùng thuộc loại Khỏa (loài trùng có nhiều chất thịt, do đất sinh ra); chính của nó là yên tĩnh, lệch của nó là râm hội (lở nát, khi thấp nhiều quá)... Vị của nó là Cam; chí của nó là tư (nghĩ, nhớ). Tư làm thương Tỳ, nóä sẽ thắng được tư, thấp làm thương nhục, phong sẽ thắng được thấp; cam làm thương Tỳ, toan sẽ thắng được Cam [32].

Tây phương sinh ra táo, táo sinh ra hành kim, kim sinh ra tân, tân sinh ra Phế, Phế sinh ra bì mao, bì mao sinh ra Thận. Ở trời là táo, ở đất là kim, ở thể là bì mao, ở khi là thành; ở Tàng là Phế. Tính của nó là lương (mát); đức của nó là thanh (trong trẻo); công dụng của nó là trắng; hóa của nó là liễm (thâu, liễm lại) thuộc về trùng là loài giới (loài có vỏ cứng bên ngoài như trai, sò) chính của nó là Kinh (cứng cáp); lệch của nó là vụ lộ (mù, móc); biến của nó là túc sái, tai sảnh của nó là úa rụng; vị của nó là tân, chí của nó là ưu. Ưu làm thương Phế, hỷ sẽ thắng ưu; nhiệt làm thương bì mao, hàn sẽ thắng nhiệt, tân và thương bì mao, khổ sẽ thắng tân (1) [33].

Bắc phương sinh hàn, hàn sinh ra hành Thủy, Thủy sinh ra vị hàm, hàm sinh ra Thận, Thận sinh ra cốt tủy, tủy sinh ra Can. (cứng), ở Tàng là Thận. Tính của nó là lâm (rét, run); đức của nó là hàn, công dụng của nó là (...? nguyên bản khuyết một chữ), sắc của nó là Hắc (đen); tà của nó là túc (nghiêm ngặt) về trùng thuộc loại lân (loài có vảy); chính của nó là Tĩnh (yên lặng) lệnh của nó là ) (...? nguyên bản khuyết một chữ). Nó biến là ngưng tật (rét buốt), tại sảnh của nó là băng hộc (mưa đá), vị của nó là hàm, chí của nó đều có chủ trị về từng mùa. [34].

Là Khủng, Khủng thương thận. Tư thắng khủng. Hàn làm thương huyết táo thắng hàn. Vị mặn làm thương huyết. Vị ngọt thắng vị mặn. Vị trí của Ngũ khi đã được nói ở trước đây. Nếu không có tà khi thì nó sẽ ở chính vị.

Hoàng Đế hỏi:

Bệnh biến đổi như thế nào?

Kỳ Bá thưa:

Khi tương đắc thì nhẹ, khi không tương đắc thì nặng, thì theo tà, Phụ tà thì sợ, Hoàng đế khen phải.

Hoàng Đế hỏi:

Chủy tuế như thế nào?

Kỳ Bá thưa:

- Khê có dư thì sẽ chế ngự, sinh ra thắng mà ức hiếp, không thắng thì không cùng chung, không thắng, không ức hiếp mà đại sao thừa lân. Thắng nhẹ mà ức hiếp, bị ức hiếp.

Thiên 68 : LỤC VI CHỈ ĐẠI LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

Xa thẳm thay cái đạo của trời! Như đón mây nóåi, như trông vực sâu. Vực sâu còn có thể đo lường, mây nóåi ai biết đâu là cùng cực! Phu tử thường nói: “phải tuân đạo trời”, lòng tôi ghi nhớ. Nhưng cái nguyên lý như thế nào, xin cho biết rõ.. [1].

Kỳ Bá thưa ràng:

Muốn rõ thiên đạo, cần phảibiết cái sự tuần tự của trời và sự thịnh suy của thời bệnh [2].

Xin cho biết cái tiết “lục lục” của đạo trời, và sự thịnh suy như thế nào? [3].

Trên dưới có “vị”, tả hữu có “kỷ”. Cho nên bên hữu Thiếu dương, Dương minh chủ trị [4]. bên hữu Dương minh, Thái dương chủ trị [5]; bên hữu Thái dương, Quyết âm chủ trị [6]; bên hữu Quyết âm, Thiếu âm chủ trị [7]; bên hữu Thiếu âm, Thái âm chủ trị [8]; bên hữu Thái âm, Thiếu dương chủ trị [9]; Đó tức bảo là “Tiêu” chủa khi do Nam diện mà xem [10]. Cho nên nói: “nhận sự thuần tự của trời, để biết cái thời bệnh thịnh suy” vậy theo sự vận hành của nhật nguyệt, để định cái vị của hai khi, chính nam diện để xem... tức là nghĩa đó [11].

Ở trên Thiếu dương, hỏa khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Quyết âm [12]. Ở trên Dương minh, táo khí chủ trị, khoảng “trung” (giữa) sẽ thấy Thái âm [13]. Ở trên Thái dương, hàng khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Thiếu âm [14]. Ở trên Quyết âm, phong khí chủ trị ở khoảng “trung” sẽ thấy Thiếu dương [15]. Ở trên Thiếu âm, nhiệt khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Thái dương [16].Ở trên Thái âm, thấp khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Thái dương, ở trên Thái âm, thấp khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Thái dươnh [17]. Ở trên Thái âm, thấp khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Dương minh [18].

Aáy bảo là “bản” đó. Ở dưới bản, tức là “trung” mà sẽ thấy, dưới chỗ “thấy” đó, tức là tiêu của khí (1) [19].

Bản, tiêu không giống, khí ứng khác tượng (2) [20].

Hoàng Đế hỏi rằng:

Về khí, có khi nên đến mà đến, có khi nên đến mà không đến, có khi đến mà thái quá, là thế nào? [21].

Kỳ Bá thưa rằng:

Nên đến mà đến là hòa; nên đến mà không đến, là “lai khí” bất cập; chửa nên đến mà đã đến, là “lai khí” hữu dư (1) [22].

Hoàng Đế hỏi:

Nên đến mà không đến, chửa nên đến mà đã đến. Như thế nào? [23].

Kỳ Bá thưa rằng:

Đúng (ứng) là thuận, trái là nghịch, nghịch thời sinh biến, biến thời bệnh (2) [24].

Thế nào là đúng?

Xét ở vật loại sinh ra biết là đúng, xét ở khi mạch, biết là đúng (3) [26].

Hoàng Đế hỏi:

Địa lý ứng với sáu tiết, khí vị như thế nào? [27].

Kỳ Bá thưa rằng:

Bên hữu Hiển minh, là vị của quân hỏa. Bên hữu quân hỏa, lui một bộ, thời Tướng hỏa chủ trị, lại đi một bộ, thời thổ khí chủ trị, lại đi một bộ, thời kim khí chủ tri, lại đi một bộ, thời thủy khí chủ trị, lại đi một bộ, thời mộc khí chủ trị, lại đi một bộ, thời quân hỏa chủ trị (1).

Ở dưới Tướng hỏa, thủy khí “thừa” theo (thừa có nghĩa như thừa phụng, tuân theo); ở dưới thủy vị, thổ khí thừa theo, ở dưới thổ vị, phong khí thừa theo, ở dưới phong vị kim khí thừa theo, ở dưới kim vị, hỏa khí thừa theo, ở dưới quân hỏa, âm tinh thừa theo [29].

Tại sao vậy [30].

Vì “cang thời hại, thừa sẽ chế lại”. Có “chế” thời mới sinh hóa. Bên ngoài bày ra thịnh suy, hại thời thành bại loạn, sinh hóa bệnh lớn (1) [31].

Hoàng Đế hỏi:

Thịnh, suy như thế nào? [32].

Kỳ Bá thưa rằng:

Không đúng với vị “tà”, đúng với vị là “chính”: Tà thời biến nhiều, chính thời chỉ “vi” (nhỏ nhẹ) thôi (1) [33].

Thế nào là đúng với vị?

Mộc vận mà lâm Mão, Hỏa vận mà lâm Ngọ, Thổ vận mà lâm Tứ qúi, Kim vận mà lâm Dậu, Thủy vận mà lâm Tý. Đó tức là tuế hội, và là sinh khi (thứ khi điều hòa...) [34].

Thế nào là không đúng với vị?

Vì là tuế không hội (hội tức hợp) (1) [35].

Hoàng Đế hỏi:

Về năm Thổ vận, trên thấy Thái âm, về năm hỏa vận, trên thấy Thiếu dương, Thiếu âm, về năm Kim vận trên thấy Dương minh, về năm Mộc vận, trên thấy Quyết âm, về năm thủy vận, trên thấy Thái dương... Là vì sao? [36].

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó là cái khí tư thiên cùng với cái khí năm vận, cùng hợp, nên ở Thiên nguyên sách gọi là Thiên phù (1) [37].

Hoàng Đế hỏi:

Thiên phù với Tuế hội như thế nào? [38].

Kỳ Bá thưa rằng:

Như vậy gọi là Thái ất thiên phù...(1) [39].

Qúi, tiện như thế nào? [40]

Thiên phù như chấp pháp; tuế hội như hành lệnh. Thái ất, thiên phù như quí nhân (2) [41].

Tà “trúng” vào như thế nào? [42].

Trúng vào chấp pháp thời bệnh chóng mà nguy, trúng vào hành lệnh thời bệnh từ từ mà chậm, trúng vào qúi nhân thời bao bệnh mà chết [43].

Vị thay đổi, thời như thế nào? [44].

Quân ở vào vị thần thời thuận, thần ở vào vị quân thời nghịch, nghịch thời bệnh gần mà hại chóng, thuận thời bệnh xa mà nhẹ... Đó là sự thuận nghịch của hai hỏa... (4)

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết thế nào là Bộ? [1].

Kỳ Bá thưa rằng:

Mỗi một bộ, tính được 60 độ, có lẻ. Cho nên cứ 24 bộ, sẽ chứa được “doanh” (đầy đủ) một trăm khắc mà thành một ngày thừa (1).

Hoàng Đế hỏi:

Sáu khí ứng với sự biến của năm hành, như thế nào? [48].

Kỳ Bá thưa rằng:

Vệ có chung, thủy, khí có sơ, trung, thượng, hạ... không giống nhau, nên “xét” cũng phải khác (1) [49].

Phải xét như thế nào ? [50].

Thiên khí bắt đầu từ Giáp, địa khí bắt đầu từ Tý. Tý với Giáo cùng hợp, gọi là “tuế lập”. Phải “hậu” ở thời, khí mới có thể dự biết được (2) [51].

Hoàng Đế hỏi:

Sáu khí ở trong một năm trước, sau, sớm, muộn như thế nào? [52].

Kỳ Bá thưa rằng:

Về năm Giáp tý “sơ chi khí”, số của trời bắt đầu từ thủy hả (nước nhỏ giọt xuống) một khắc, cuối cùng 87 khắc rưỡi, “nhị chi khí” bắt đầu từ 87 khắc 6 phân, cuối cùng ở 75 khắc, “tam chi khí” bắt đầu từ 76 khắc, cuối cùng 62 khắc rưỡi “tứ chi khí” bắt đầu là 62 khắc 6 phân, cuối cùng là 50 khắc, “ngũ chi khí” bắt đầu từ 51 khắc, cuối cùng là 37 khắc rưỡi “lục chi khí” bắt đầu từ 37 khắc 6 phân, cuối cùng là 25 khắc... Đó, là “sơ lục” tính theo cái số của trời vậy (1) [53].

Về năm Aát sửu, “sơ chi khí” thiên số bắt đầu từ 26 khắc cuối cùng là 12 khắc rưỡi, “nhị chi khí” bắt đầu từ 12 khắc 6 phân, cuối cùng là thủy hạ 100 khắc, “tam chi khí” bắt đầu từ một khắc, cuối cùng là 87 khắc rưỡi, “tứ chi khí” bắt đầu từ 87 khắc 6 phân, cuối cùng là 75 khắc, “ngũ chi khí” bắt đầu từ 76 khắc, cuối cùng là 62 khắc rưỡi “lục chi khí” bắt đầu từ 62 khắc cuối cùng là 50 khắc. Đó gọi là “Lục nhị”, tính theo số của trời vậy (1) [54].

Năm Đinh mão. “sơ chi khí” bắt đầu từ 76 khắc cuối cùng là 62 khắc rưỡi, “nhị chi khí” bắt đầu từ 62 khắc 6 phân, cuối cùng là 50 khắc, ‘tam chi khí” băt đầu từ 51 khắc, cuối cùng là 37 khắc rưỡi, “tứ chi khí” bắt đầu từ 37 khắc 6 phân, cuối cùng là 25 khắc, “ngũ chi khí” bắt đầu từ 26 khắc, cuối cùng là 12 khắc rưỡi, “Lục chi khí “bắt đầu từ 12 khắc 6 phân, cuối cùng là thủy hạ 100 khắc. Đó là khí thứ tự trong 6 khí, tính theo số của trời vậy (1). Đến năm sau là năm Mậu thìn, “sơ chi khí” lại bắt đầu khắc thứ nhất. Cứ như thế mãi, hết vòng lại bắt đầu.

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết “tuế hậu” như thế nào? [57].

Kỳ Bá thưa rằng:

Nhật đi một vòng, thiên khí bắt đầu từ khắc thứ một. Nhật đi hai vòng, thiên khí bắt đầu từ 26 khắc, Nhật đi ba vòng, thiên khí bắt đầu từ 51 khắc, nhật đi bốn vòng, thiên khí bắt đầu từ 76 khắc, nhật đi năm vòng, thiên khí lại bắt đầu từ khắc thứ một. Đó gọi là một kỷ (1) [58].

Vậy nên, về những năm Dần, Ngọ, Tuất, khí hội giống nhai; những năm mão, Vị (Mùi), Hợi, khí hội giống nhau, những năm Thì, Thân, Tý, khí hội giống nhau, những năm Tỵ, Dậu, Sửu, khí hội giống nhau. Cứ như thế, cuối cùng mà lại bắt đầu (2).

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết công dụng thế nào? [60]

Kỳ Bá thưa rằng:

Nói về trời, phải cầu ở bản; nói về đất, phải cầu ở vị, nói về người, phải cầu ở khí giao (1) [61]

Thế nào là Khí giao? [62]

Cái vị trên dưới, khí giao ở giữa, tức là nơi ở của người. Cho nên nói: ở trên Thiên khu, thiên khí làm chủ, ở dưới thiên khí, địa khí làm chủ, trong khoảng khí giao, thời người theo đó, muôn vật cũng theo đó (2) [63]

Thế nào là sơ và trung? [64]

Sơ, phàm 30 độ có lẻ. Trung khí cũng như vậy

Sơ, trung để làm gì? [66]

Là cốt để chia rẽ trời và đất [67]

Xin cho biết rõ [68]

Sơ, thuộc về địa khí. Trung, thuộc về cả trời và đất (3) [69]

Hoàng Đế hỏi:

Hàn với thấp cùng ngộ hợp, táo với nhiệt cùng gia lâm, phong với hỏa cũng cùng chủ tuế, như thế nào? [70]

Kỳ Bá thưa rằng:

Khi có thắng phục. Thắng, phục gây nên, có đức, có, hóa, có dụng, có biến... Nếu biến thời tà khí sẽ phạm đến... [71]

Sao lại bảo là tà? [72]

Vật sinh ra bắt đầu ở sự hóa; vật đến cực đều do ở sự biến. Biến hóa cùng dồn nhau, thành với bại đều do ở đó [73].

Cho nên khí có vãng, phục, dụng có trì, tốc. Nhờ bốn điều kiện đó, mới sinh ra biến, hóa, mà trong cũng do đó mà sinh ra [74].

Hoàng Đế hỏi: [75]

Trì, tốc với vãng, phục; phong do đó mà sinh ra, phàm sự biến hóa, đều bởi thịnh suy mà gây nên. Vậy còn sự “thành, bại” ẩn nấp ở bên trong, là vì sao? [76]

Kỳ Bá thưa rằng:

Phàm có sự thành hay bại, đều do ở động. Nếu động không ngừng, sẽ sinh ra sự biến hóa [77].

Hoàng Đế hỏi:

Có kỳ hạn nào không? [78]

Kỳ Bá thưa rằng:

Không sinh, không hóa, sẽ là kỳ hạn của sự tĩnh vậy [79].

Có khi nào không sinh hóa chăng [80]?

Nếu bỏ mất sự đi ra đi vào, thời còn chi là cái công dụng mở đóng của cánh cửa, nếu bỏ mất sự thăng giáng không ngừng của âm dương, thời còn chi là sự sản xuất của muôn loài, muôn vật... Vậy, cái khí thăng giáng, xuất, nhập, không một lúc nào ngừng.

Nhưng hóa cũng có lớn nhỏ, mà kỳ cũng có xa gần. Bốn điều đó thường phải có luôn. Nếu không, sẽ sinh tai hại. Cho nên có câu nói: “vô hình thời vô hại”. Thật là rất đúng (1).

THIÊN 69 : KHI GIAO BIẾN LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Năm vận thay đổi để chủ về năm, trên ứng với “thiên cơ” (cơ là năm); Hàn thử nốinhau; chân tà cùng gặp, nội ngoại phân ly; sáu kinh thay đổi, năm khi lần lượt, thái quá và bất cập, chuyên thắng và kiêm tinh... Xin cho biết rõ nguyên ủy ra làm sao? [1].

Kỳ Bá thưa rằng:

Cần phải hiểu rõ khí và vị. Vị ở trên trời là thiên văn; vị ở dưới đất là địa lý; suốt với sự biến hóa của nhân khí, là nhân sự (việc của người. Hợp với trên là thiên văn, địa lý, nhân sự). Cho nên thái quá là đến trước thiên thời, bất cập là đến sau thiên thời. Do sự biến hóa đó, mà con người cũng ứng theo (2).

Hoàng Đế hỏi:

Sự hóa của năm vận, thái quá như thế nào? [3]

Kỳ Bá thưa rằng:

Tuế thuộc Mộc mà thái quá, thời phong khí sẽ tràn lan; do đó, nó sẽ chế thắng thổ khí, người sẽ ứng theo đó mà mắc bệnh ở Tỳ. Xôn tiết, ăn sút, thân thể nặng nề, phiền oan, trường minh, phúc chi mãn, ở trên thời ứng với Tuế tinh (4).

Nếu bệnh nặng thời thường thường hay nóä, hoa mắt, chóng mặt, thuộc về chứng trạng ở đầu [5].

Hóa khí không thi hành được chính lệnh, sinh khí một mình phát triển, khiến cho mây khói tung bay, cỏ cây khôn lặng... Cây nên các chứng hiếp thống và thổ nhiều. Nếu mạch ở xung dương mà tuyệt sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Thái bạch [6].

Tuế thuộc Hỏa mà thái quá, thời khí nóng tràn lan, khiến kim phế thụ tà, con người cũng phải ứng theo mà phát bệnh ngược (sốt rét, úi) thiểu khí, khái, suyễn, huyết giật, huyết tiết, chú bạ, ách táo (cuống họng ráo) tai điếc, trung nhiệt (nóng ở trong bụng); vai và lưng nhiệt; Trên ứng với sao Huỳnh hoặc [7]

Nếu quá lắm thời trong hung đan, hiếp chi mãn, và đau, ức vai, cánh tay đều đau, mình nóng, xương đau, rồi biến thành tẩm râm [8]

Cái khí thâu liễm không lưu hành, cái khí sinh trưởng riêng phát triển, mưa nhiều, sương xuống, trên ứng với Thần linh (9).

Nếu thượng lâm Thiếu âm, Thiếu dương, thời lửa bốc nóng suối nước cạn, mọi vật khô khan [10].

Bệnh lại phát ra thiềm vong, cuồng tẩu, suyễn, khái, thở thành tiếng, bách xuống thành huyết tiết, tiết tả không dứt mạch Thái uyên tuyệt, sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc [11].

Tuế thổ thuộc thái quá, thời mưa nhiều, khí ẩm thấp tràn lan. Con người cũng ứng theo, khiến Thận thủy bị tà, gây nên phúc thống, lãnh quyết, ý buồn bã không được vui, thân thể nặng nề, phiền oan. Trên ứng với Chấn tinh ) [12].

Quá lắm thời thành ra cơ nhục nhão, chân yếu không tự cử động được (nuy); dưới chân đau, ăn uống kém sút, phúc mãn, tứ chi rã rời, biến sinh giữa khí đắc vị [13].

Tàng khí bị phục, hóa khí làm chủ, sông nước tràn ngập, đầm khô có cá, mưa gió tơi bời, thối đất nát cỏ, cá tép lên cạn; phúc mãn, đường tiết, trường minh (bụng sôi); tả nhiều; nếu Thái khê mạch tuyệt sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với Tuế tinh [14].

Tuế kim thuộc thái quá, táo khí lưu hành, do đó Mộc sẽ thụ tà. Con người cũng ứng theo mà lưỡng hiếp và Thiếu phúc đau, mắt đỏ và đau; tai không nghe tiếng, khí túc sái càng lắm, khiến thân thể nặng nề và phiền oan; Hung đau rút sang lưng, hai hiếp mãn và đau rút xuống Thiếu phúc, trên ứng với sao Thái Bạch [15].

Quá lắm thời khái, suyễn và nghịch khí, kiên và bối đau, cầu âm (xương khu), cổ (vế). tất (gối), bễ (đùi) hành (ống chân) đều mắc bệnh, trên ứng với sao Huyền Hoặc [16].

Thâm khí mạnh quá, sinh khí bị nhục, cỏ cây xơ xác vàng rụng; gây thêm bệnh bạo thống ở hai hiếp, không thể trở mình, khái nghịch, quá lắm thời huyết ràn. Thái xung mạch tuyệt, chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Thái Bạch [17].

Tuế thủy thuộc thái quá, thời hàn khí lưu hành, tà sẽ làm hại Tâm hỏa. Con người cũng ứng theo mà mắc bệnh thân nhiệt, phiền tâm, táo và qúi; Aâm quyết cả trên dưới, trung hàn, thiềm vọng, tâm thống. Hàn khí đến sớm, trên ứng với Thần Tinh [18].

Quá lắm thời phúc đại, hĩnh thũng, (xương ống chân sưng)’ suyễn, khái khí nằm hãn ra, ghét gió. Mưa to đến mây mù đen đặc. Trên ứng với Chấn tinh [19].

Thượng lâm Thái dương, mưa đá, thỉnh thoảng tuyết sương giáng xuống, thấp khí làm biến mọi vật, bệnh lại sinh ra phúc mãn, trường minh, đường tiết, ăn không tiêu, khát, hay chóng mặt. Thần môn mạch tuyệt, sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Huỳnh Hoặc [20].

Hoàng Đế hỏi:

Về các năm bất cập, thời như thế nào? [21]

Kỳ Bá thưa rằng:

Tuế mộc bất cập thời táo khí sẽ đại hành. Con người cũng ứng theo đó mà mắc bệnh trung thanh (lạnh ở bên trong). Khư hiếp đau, thiếu phúc đau, trường minh, đường tiết, thường có lương vũ. Trên ứng với sao Thái Bạch [22].

Nếu thượng lâm Dương minh, thời sinh khí sẽ mất sự phát triển; trên ứng với Thái Bạch và Chấn Tinh (11) [23].

Nếu “phục” thời nóng bức bội thường, sẽ phát các chứng hàn, nhiệt, sương, dương, phí, chẩn, ung, tòa v.v... Trên ứng với sao Huỳnh Hoặc [24].

Bạch lộ giáng sớm, khí thâu sái lưu hành; Tỳ thổ thụ tà “xích khí” hóa sau, Tâm khí vãn trị, trên thắng Phế kim “bạch khí” sẽ bị khuất. Do đó phát chứng “cừu” và khái (25).

Tuế hỏa bất chập, hàn khí đại hành, cái chính lệnh sinh trưởng không thể thi dụng, Con người cũng ứng theo đó mà mắc bệnh hung trung thống, hiếp chi mãn, lưỡng hiếp thống; Ưng, bối, kiên, bễ, hai cánh tay đau, uất mạo, mông muội, tâm thông, bạo ấm (bỗng dưng miệng không nói được); phúc đại; dưới hiếp và yêu, bối cùng rút mà đau, quá lắm thời co vào không duỗi ra được. Trên ứng với huỳnh hoặc [26].

“Phúc” thời khí bốc mù mịt, thường có mưa to, hắc khí thụt xuống (hắc khi là thủy), người mắc bệnh đại tiện phân sống, phúc mãn, ăn uống không được, hàn trung (lạnh bên trong), sôi bụng; tả mạnh, bụng đau, bạo loạn (co gân) và nuy tý, chân đi không vững. Trên ứng với Chấn Tinh và Thần Tinh [27].

Tuế thổ bất cập phong khí sẽ đại hành. Hóa khí không thi hành được chính lệch... Con người cũng ứng theo mà sinh chứng xôn tiết, hoặc loạn, cân cốt dao động (gân xương lay động, co giật), cơ nhục, nhuận (cùng ở trong thịt) toan (nhức âm ỷ), hay nóä, Tàng khí làm việc, người mắc chứng hàn trung trên ứng với Tuế Tinh, Chất Tinh [28].

“Phục” thời cái chính lệnh thâu liễm gắt gao khiến người hung, hiếp bạo thống, rút xuống Thiếu phúc, hay thở dài, khí khách vào Tỳ, ăn uống kém sút mà không biết ngon [29].

“Thượng lâm” quyết âm: Tàng khí không hiệu dụng được, bạch khí do đó không phục, dân được antoàn [30].

Tuế kim bất cập, viêm hỏa sẽ lưu hành, sinh khí do đó dụng được trưởng khí để chuyên thắng, con người cũng ứng theo đó mà phát bệnh đau ở kiến bối, đầu cứ muốn qụy xuống, hay hắt hơi, đại tiện ra huyết, khí thâu liễm mãi về sau mới phát triển. Trên ứng với sao Thái bạch [31].

Nếu “phục” thời mưa lạnh trút xuống, sương tuyết làm hại vật, Aâm quyết và cách dương, Dương lại bốc lên, đầu và não bộ đau, xuất lên đỉnh đầu )buốt óc), phát nhiệt, lại thêm chứng lở miệng, quá lắm thời Tâm thống [32].

Tuế thủy bất cập, thấp khi sẽ đại hành; trường khí do đó đắc dụng, hóa của thổ lại hóa ra nhanh chóng [33].

Con người cũng ứng theo mà phát bệnh phúc mãn thận trọng, nhu tiết (đi tháo), hàn thương (mụn) chỉ vỡ ra nước trong yêu và cổ (đùi) đều đau, đùi, vế buồn bực, tức nuy, giá lạnh, dưới chân đau, quá lắm thời mu chân sưng lên. Tàng khi không thi hành được chính lệnh, Thận khí không giữa được quân bình, trên ứng với Thần tinh [34].

Thượng lâm Thái âm thời có đại hàn luôn. Người sẽ mắt phải hàn tật, quá lắm thời phúc mãn, phù thũng trên ứng với Chất tinh [35].

“Phục” thời gió to kéo đến, cây cối đổ gẫy, sắc mặt thường biến, gân xương đều đau, thịt rùng va co rút, mắt trông tờ mờ, khí dồn lên Cách, Tâm phúc đều đau. Trên ứng với Tuế tinh [36].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết sự thắng phục của bốn mùa như thế nào? [37]

Kỳ Bá thưa rằng:

Mộc bất cập: mùa Xuân có cái cảnh ấm áp êm đềm, thời mùa Thu sẽ có cái lệch móc sương mát mẻ. Nếu mùa Xuân gặp cái khí thảm thê, tàn tặc, thời mùa Hạ sẽ có cái cảnh nung nấu oi ả. Tai sảnh sẽ phát từ phương đông, ở Tàng con người sẽ là Can. Nếu bệnh phát ở bên trong sẽ tại khư hiếp, ở bên ngoài sẽ tại quan tiết [38].

Hỏa bất cập; mùa Hạ có cái đức hóa sáng tỏ, rõ ràng, thời mùa Đông sẽ có cái lệch sưng hàn lạnh lẽo; Mùa Hạ nếu lại có cái khí dìu hiu rét mướt, thời không chừng sẽ xảy ra mưa to tầm tã... Tai sảnh sẽ phát từ phương Nam, ở Tàng con người sẽ là Tâm. Bệnh phát, bên trong sẽ ở ưng, hiếp, bên ngoài sẽ ở kinh, lạc [39].

Thổ bất cập, tứ duy (tức thổ) có cái đức hóa mây mái thấm nhuần, thời mùa Xuân sẽ có cái chính lệch gió lay lả lướt, nếu tức duy có sự biến, gãy cành, trốc gốc, thời mùa Thu sẽ có sự phục hiu hắt mưa dầm... Tai sảnh xảy ra ở Tứ duy, ở Tàng là Tỳ Bệnh phát, bên trong thời ở Tâm phúc, bên ngoài thời ở Cơ nhục và tứ chi [40].

Kim bất cập, mùa Hạ có cái lệch nắng nóû, mưa nhuần, thời mùa Đông có cái ứng sương sa, gió rét. Nếu mùa Hạ, có sứ biến, tan đá chảy vàng, thời mùa Thu sẽ có sự phục sương băng, mưa đá...Tai sảnh xảy ra ở phương Tây, ở Tông con người là Phế Bệnh phát ở bên trong ưng, hiếp, kiên, bối, ở bên ngoài là bì mao [41]

Thủy bất cập, tứ duy có cái sự hóa mưa nhuần thấm thía, thời bất thời sẽ có sự ứng gió hòa nảy nở. Tứ duy có cái sự biến mưa dầm tầm tã, thời bất thời sẽ có sự phục gió bão sương mù... Tai sảnh xảy ra ở phương Bắc, ở Tàng con người là Thận Bệnh phát, ở bên trong yêu, tích cốt, tủy, ở bên ngoài là khê, cốc xuyền (xương óng) tất (xương gối) [42].

Đại phàm, cái chính lệnh của năm vận, cũng như cán cân Quá cao thời hạ thấp bớt xuống, quá thấp thời nâng cho cao lên... Nếu hóa thời ứng, nếu biến thời phục. Đó là cái lý trưởng, sinh thành, hóa, thâu, tàng, và là cái bình thường của khí. Nếu trái với lẽ thường đó, thời cái khí của trời đất và bốn mùa, sẽ bị vít lấp [43].

Cho nên nói: sự động tĩnh của trời đất, thần minh làm cương kỷ, sự vãng phục của âm dương, hàn thử làm triệu chứng. Tức là lẽ đó [44].

Hoàng Đế nói rằng:

Phu tử nói về biết của năm khí, và sự ứng của bốn mùa, thật đã rõ ràng. Nhưng mỗi khi khí biến động, phát tác không có thường hội, thốt nhiên mà tai hại đến... Có thể dự kỳ được không: [45]

Kỳ Bá thưa rằng:

Sự biến động của trời đất, vốn không có nhất định, nhưng do đức, hóa, chính lệch. Nên tai biến không giống nhau... Có thể nhật xét được [46].

Vậy là nghĩa sao? [47]

Đông phương sinh ra phong, phong sinh ra Mộc, đức của nó là êm hòa của nó là sinh tươi, chính của nó là mở mang, lệch của nó là phong, sự biến của nó là gió mạnh, tai hại của nó là rời rụng (vì ở trên có nói: đức, chính, lệnh, biến, tai... Nên ở mùa nào cũng giải đủ sáu điều kiện ấy. Đó cũng là một thể tài của văn cổ) [48]

Nam phương sinh nhiệt; nhiệt sinh ra hỏa, đức của nó là sáng tỏ, hóa của nó là rậm tốt; (mùa Hạ cây cỏ rậm tốt); chính của nó là minh diệu (cũng như sáng tỏ, đều là cái tính chất của hỏa); Lệnh của nó là nhiệt, sự biến của nó là tiêu thước, tai hại của nó là đốt cháy) [49].

Trung ương sinh ra thấp; Thấp sinh ra thổ, đức của nó là ẩm ướt, hóa của nó là đầy đủ; chính của nó là an tĩnh, lệnh của nó là nhiệt, sự biến của nó là sậu chú (mưa to như chút nước), tai hại của nó là lâm hội (mưa dầm nát đất, thối cỏ) [50]

Tây phương sinh táo; Táo sinh ra Kim, đức của nó là thanh khiết (trong trẻo, sách sẽ); hóa của nó là thâu liễm (hanh hái thâu liễm) chính của nó là kính thiết (cứng cỏi); lệnh của nó là táo, biến của nó là túc sái; tai hại của nó là thương vẫn (vàng úa, rơi rụng) [51]

Bắc phương sinh ra hàn, hàn sinh ra Thủy, đức của nó là lạnh lẽo, hóa của nó là yên lặng, chính của nó là ngưng túc (đóng lại, giá lạnh), bệnh của nó là hàn, sự biến của nó là lẫm lạt (rét run); tai hại của nó là băng bộc sương tuyết (băng: nước rắn lại như đá; Bộc mưa đá) [52].

Vậy ta chỉ xét ở sự “động” đó, cũng có đủ (đức, hóa, chính, bệnh, biến, tai...” Muôn vật đều theo, mà người cũng không ra khỏi phạm vi đó (1) [53].

Hoàng Đế nói:

Phụ tử nói: về tuế “hậu” ở thái quá và bất cập, mà trên ứng với ngũ tinh. Giờ như: đức, hóa, chính, lệnh, tai, sảnh, biến dịch... Không phải là sự có thường. Nếu thốt nhiên mà động, đối với ngũ tinh, có biến dịch không?

Kỳ Bá thưa rằng:

Theo thiên vận để thi hành, nên không có vọng, động, hết thảy có ứng. Nếu thống nhiên mà động là sự giao biến của khí. Cũng có khi không ứng. Cho nên có câu nói: “Chỉ ứng với sự thường, không ứng với sự thốt nhiên”. Tức là nghĩa đó (1) [55].

Hoàng Đế hỏi:

Sự ứng như thế nào? [56]

Kỳ Bá thưa rằng:

Điều theo về khí hóa (1). Cho nên tuế vận thái quá, thời úy tinh thất sắc, và lây tới cả mẹ nó. Nếu bất cập thời sắc cũng kiêm cả “sở bất thắng” (2) [57].

Hoàng Đế hỏi:

Sự động, tĩnh, tổn, ích của đức, hóa, chính, lệnh, như thế nào [58]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Đức, hóa, chính, lệnh, tai biến, không thể xen lẫn vào nhau (1). Thắng, phục, thịnh, suy không thể làm cho thêm hơn (2). Vãng, lai, đại, tiểu, không thể bỏ lỡ (3). Cái hiệu dụng về sự thăng giáng, không thể nào không có (4). Đều do ở sự động mà báo phục đó thôi (5) [59].

Hoàng Đến hỏ:

Bệnh sinh ra như thế nào [60]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Khí tương thắng thời hòa, không tương thắng thời bệnh; lại cảm thêm tà khí, thời nặng (1) [61].

CHƯƠNG 70 - 71 : NGŨ THƯỜNG CHÍNH ĐẠI LUẬN

Hoàng Đế hỏi rằng:

Thái hư rộng thẳm, năm vận xoay vần; suy thịnh không giống, tổn ích cùng theo. Xin cho biết thế nào là binh khí? Vì sao mà có tên? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Mộc gọi là Phu hòa, Hỏa gọi là Thăng minh, Thổ gọi là Bị hóa; Kim gọi là Thẩm bình, Thủy gọi là Tĩnh thuận [2].

Bất cập thời gọi là [3]?

Mộc gọi là Uûy hòa; Hỏa gọi Phục minh, Thổ gọi là Ty giam. Kim gọi là Tùng cách, Thủy gọi là Hạc lưu [4].

Thái quá thời gọi là gì [5]?

Mộc gọi là Phát sinh, Hỏa gọi là Hách hy, Thổ gọi là Đôn phụ, Kim gọi là Kiên thành, Thủy gọi là Lưu diễn [6].

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết các chứng hậu phát sinh do ba khí trên đó, như thế nào [7]?

Kỳ Bá thưa rằng: về năm Phu hòa, lệnh của nó là Phong, tàng của nó là Can, nó sơ thanh (tức kim), nó khai khiếu lên mắt, nó nuôi ở Cân. Nếu bệnh, sẽ lý cấp, chi mãn, vị của nó thuộc Toan [8].

Về năm Thăng minh, lệnh của nó là Nhiệt; Tàng của nó là Tâm. Tâm sợ hàn (thủy), nó chủ về lưới, nó nuôi ở huyết, nếu bệnh, sẽ nhuận khiết (tức thịt rùng, và rút gân), vị của nó thuộc Khổ [9].

Về năm Bị hóa, lệnh của nó là Thấp; Tàng của nó là Tỳ, Tỳ sợ phong (tức phong mộc), nó chủ về miệng, nó nuôi vệ nhục. Nếu bệnh, sẽ thành chứng bĩ. Vị của nó thuộc Cam [10].

Về năm Thẩm bình, lệnh của nó là táo; Tàng của nó là Phế, Phế sợ nhiệt, nó chủ về mũi, nó nuôi ở bì mao. Nếu bệnh, sẽ phát khái (ho). Vị của nó thuộc Tân [12].

Vền năm Tĩnh thuận, lệnh của nó là bàn; Tàng của nó là Thận, Thận sợ thấp (thổ), nó chủ về hai đường âm (tiền, hậu âm). Nếu bệnh, sẽ thành chứng quyết. Vị của nó thuộc Tân [11].

Về năm Tĩnh thuận, lệnh của nó là bàn; Tàng cùa nó là Thận, Thận sợ thấp (thổ), nó chủ về hai đường âm (tiền, hậu âm). Nếu bệnh, sẽ thành chứng quyết. Vị của nó thuộc Hàm [12].

Cho nên, sinh mà chớ sái, trường mà chớ phạt, hóa mà chớ chế, thâu mà chớ hại, tàng mà chứ ức (nén xuống). Như thế gọi là bình khí (1) [13].

Về năm Uûy hòa, tức là mộc vận bất cập. Do đó, cái khí “sở thắng”, nó sẽ thắng được sinh khí, Kim khí đã thắng thời mộc không thể phát triển được chính lệnh của mình. Do đó thổ không còn úy kỵ gì nữa. Mộc suy thời hỏa khí cũng không thể thịnh [14];

Phàm bệnh hay phát sinh tại can tàng.

Về năm phục minh, tức là hỏa vận bất cập, hỏa vận cập, nên cái khí của thủy tàng lại được tự do tán bố; kim cũng không còn phải sợ, cho nên thâu khí được tự chủ chính lệnh. Do đó, thổ khí cũng không được thịnh, và bệnh hay phát sinh tại Tâm tàng [15].

Về năm Tỵ giam, tức là năm thổ vận bất cập. Vì Thổ bất cập, nên Mộc nó thắng lại được, khiến hóa khí không còn thi triển được chính lệnh. Cũng do đó mà thâu khí phải bình. Mộc với hỏa đã được hoành hành nên mưa gió có luôn. Mà bệnh thời hay phát sinh tại Tỳ tàng [16].

Về năm Tùng cách, tức là năm kim vận bất cập vì kim bất cập, nên Mộc không còn sợ hãi. Bệnh hay phát sinh tại Phế tàng [17].

Về năm Hạc lưu, tức là năm thủy vận bất cập. Vì Thủy bất cập, nên dương khí lại thắng mà được tự do phát triển; cũng do đó mà hóa lệch của Thổ cũng được xương thịnh, và hỏa không còn úy kỵ, nên khí dương nhiệt mới có thể tràn lan bốn cõi. Bệnh hay phát sinh tại Thận tàng [18].

Xem đó thời biết; thừa sự nguy mà tiến hành không phải mời mà tự đến. Nếu bạo ngược không có đức, thời tai hại tới ngay. Nhỏ thời báo phục nhỏ, nặng thời báo phục nặng, đó là cái thường của khí (1) [19.

Về năm phát sinh, tức là tuế mộc thái quá. Vị của nó toan, cam, tâm, nó tượng về mùa Xuân. Kinh của nó là Túc Thiếu dương, Quyết âm, Tàng của nó là Can và Tỳ. Bệnh của nó là nóä, khí nghịch và thổ lợi. Nếu không chủ ở đức, thời kim khí lại phục, ta sẽ thương Can [20].

Về năm Hách hy, tức là tuế hỏa thái quá. Vị của nó là khổ, tân, hàm, nó tượng về mùa Hạ, Kinh của nó là Thủ Thiếu âm, Thái dương, Thủ Quyết âm thiếu dương, Tàng của nó là Tâm với Phế. Bệnh của nó là tiếu (hay cười), ngược, lở láy, cuồng vọng và mắt đỏ. Nếu chính lệch bạo lạt, tàng khí sẽ lại phục, tà sẽ thương Tâm [21].

Về năm Đôn phụ, tức là tuế thổ thái quá. Vị của nó là cam, hàn, toan, nó tượng về mùa Trường hạ, kinh của nó là Túc thái âm, Dương minh, tàng của nó là Tỳ và Thận. Bệnh của nó là phúc mãn, tứ chi rã rời, gió lớn thổi đến, tà sẽ thương Tỳ [22].

Về năm Kiên thành, tức là tuế kim thái quá. Vị của nó là tân, toan, khổ, tượng của nó là mùa Thu, kinh của nó là Thủ Thái âm, Dương minh. Tàng của nó là Phế và Can. Bệnh của nó là suyễn, khát, khó thở, không nằm ngửa. Nếu khi nóng quá nhiều, tà sẽ thương Phế [23].

Về năm Lưu diễn, tức là năm thủy vận thái quá. Vị của nó là hàm, khổ, cam, tượng của nó là mùa Đông, kinh của nó là Túc Thiếu âm. Thái dương, Tàng của nó là Thận và Tâm Bệnh của nó là trướng (bụng to vượt lên). Nếu trưởng khí (hỏa) không hóa được, ta sẽ thương Thận [24].

Cho nên nói: nếu đức không giữ được thường, thời “sở thắng” sẽ lại phục, nếu chính lệnh giữ được thường, thời “sở thắng” cùng hóa. Tức là nghĩa đó (1) [25].

Hoàng Đế hỏi:

Trời bất túc ở tây bắc, tả hàn mà hữu lương (mát) đất bất mãn ở đông năm, hữu nhiệt mà tả ôn... Là vì cớ sao (1) [26]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó là do cái khí âm dương, cái lý cạo hạ, và cái khác của Thái, Thiếu mà sinh ra (2) [27].

Đông nam thuộc dương. Dương thời tinh giáng xuống ở dưới, cho nên hữu nhiệt mà tả ôn, Tây Bắc thuộc Aâm. Aâm thời tinh phụng lên trên, cho nên tả hàn mà hữu lương. Vì vậy, đất có cao thấp, khí có ôn lương. Ở nơi cao thời khí hàn, ở nơi thấp thời khí nhiệt (3) [28].

Cho nên, đến ở nơi hàn lương thời có bệnh trướng, đến ở nơi ôn nhiệt thời hay có bệnh lở. Hạ đi, thời trướng khỏi, hãn đi, thời lở khỏi. Đó là cái lẽ thường mở đóng của Tấu lý, và sự khác nhau của Thái, Thiếu (4) [29].

Hoàng Đế hỏi:

Đối với sự thọ, yểu như thế nào? [30]

Kỳ Bá thưa rằng:

Nơi nào dược âm tinh thượng phụng thời người thọ, nơi nào bị dương tinh giáng xuống thời người yểu (1) [31].

Về bệnh, nên trị liệu thế nào? [32]

Thuộc về khí của Tây Bắc, thời tán đi mà làm cho hàn; thuộc về khí của Đông, Nam. Thời thâu lại mà làm cho ôn, liệu trị khác nhau vậy (2) [33]

Cho nên nói: khí hàn, khí lương... liệu trị bằng hàn lương, lại dùng thêm phép tẩm vào nước... Khí ôn, khí nhiệt... liệu trị bằng ôn nhiệt, phải làm cho nguyên dương mạnh để cố thủ ở bên trong... Miễn sao cho khí hòa đồng, mới có thể yên. Nếu “giả” thời làm trái lại (3).

Hoàng Đế hỏi:

Cùng là khí trong một châu, mà sinh, hóa, thọ, yểu, không giống nhau, là vì sao? [35]

Kỳ Bá thưa rằng:

Cái lý cao thấp, do địa thế mà gây nên. Ở nơi tùng cao (cao vọt, như cao nguyên, hoặc rừng núi) thời âm khí chủ trị, ở nơi ô hạ (đất trũng, thấp, như miền giáp bể, đồng chiêm v.v...). Thời Dương khí chủ trị. Dương thắng thời khí đến trước thiên thời (Hậu thiên). Đó là cái lẽ thường của đọa lý, và là cái đạo của sự sinh hóa (1) [36]

Hoàng Đế hỏi:

Cùng có thọ, yểu khác nhau chăng? [37]

Kỳ Bá thưa rằng:

Ở nơi cao thời khí thọ; ở nơi thấp thời khí yểu. Đất vì lớn nhỏ mà khác nhau. Nhỏ thời khác nhỏ, lớn thời khác lớn (2) [38].

Cho nên về phép trị bệnh, phải hiểu rõ thiên đạo, địa lý, âm dương canh thắng, khí đến tiên hậu, người được thỏ yểu, và cái kỳ hạn của sự sinh hóa... Mới có thể biết được hình khí của con người (3) [39].

Hoàng Đế hỏi rằng:

Có năm không vì Vận và “Phương” mà sinh bệnh. Tàng khí cũng có khí không ứng, không dụng là thế nào [40]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Đó là do sự “chế” của thiên khí mà khí của con người cũng theo (1)... [41]

Xin cho hiểu rõ.. [42]

Thiếu dương, Tư thiên thời hỏa khí “hạ lâm”, Phế khí theo lên... Do đó, phát ra các chứng khái (ho), xì (hắt hơi), cừu nục (đổ máu ra đằng mũi); Ty chất (mũi ngạt, hoặc mọc mụn trong mũi), khẩu thương (lở ở miệng), hàn nhiệt, phù thũng (sưng phù ở chân)... Tâm thống và Vị quản thống, quyết nghịch, trong cách không thông... Bệnh phát rất chóng (2) [43].

Dương minh Tư thiên, Táo khí hạ lâm, Can khí ứng lên theo, Thổ sẽ bị tai sảnh, bệnh phát ra hiếp thống mắt đỏ, run rẩy, cân nuy, không đúng được lâu (1) [44].

Khí bạo nhiệt đưa đến, thổ bị thử khí nung nấu, dương khí uất phát, tiểu tiện biến sắc, hàn nhiệt như chứng ngược, quá lắm thời Tâm thống (2) [45].

Thái dương Tư thiên thời hạn hạ lâm. Tâm khí ứng lên theo Kim sẽ bị tai sảnh. Bệnh phát ra Tâm nhiệt, phiền, ách can, hay khát, đau ở sống mũi và hắt hơi, hay bi, hay vươn vai. Vì nhiệt khí vọng hành, nên hay quân. Quá lắm thời phát Tâm thống (1) [46].

Thổ sẽ ẩm ướt. Thấp khí làm biến cả mọi vật, gây nên chứng thủy ẩm, trung mãn, không ăn được, bì tý, nhục a, cân mạch không lợi, quá lắm thời sưng thũng và hậu ung (mọc mụn ở phía sau) (2) [47].

Quyết âm tư thiên, phong khí hạ lâm Tỳ khí ứng lên theo. Bệnh phát sinh các chứng: thân thể nặng, cơ nhục nhão nát, ăn kém, miệng không biết ngom, phong râm ở trên, nên thêm các chứng mắt hoa, tai ù (1). Hỏa tràn lan khí nóng, nên đất cũng biến thành khí thử (2) [48]

Thiếu âm tư thiên, nhiệt khí hạ lâm, Phế khí ứng lên theo. Bệnh sẽ phát: Suyễn, Aåu, hàn, nhiệt, xị, đau xương sống mũi, đổ máu cam, mũi ngạt, khí nóng bức tràn lan, quá lắm thời phát lở lấy, mụn nhọt. Đất bị khí “táo”, khiến người hiếp thống và hay thở dài (1) [49].

Thái âm Tư thiên, thời thấp khí hạ lâm, Thận khí ứng lên theo [50].

Bệnh phát ra trong Hung không thông thông lợi, âm nuy. Thận khí quá suy, dương khí không thể phát triển. Nếu gặp Đông lệnh, sẽ gây thêm chứng yêu chùy (xương sống) đau, không thể trở mình, hoặc quyết nghịch (1) [51].

Đất sẽ “tàng” khí âm, gây chứng Tâm hạ lũ thống, Thiếu phúc thống, kém ăn. Thừa lên Kim thời thôi, Nếu Thủy tăng, vị sẽ biến ra hàm. Dùng phép hành thủy, sẽ khỏi (11) [52].

Hoàng Đế hỏi:

Hằng năm, có các loài vật không sinh dục, vận chủ không toàn, do khí gì gây nên [53]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Bởi sáu khí, năm loại, cùng thắng, chế lẫn nhau. Được khí tương đồng thời thịnh, gặp khí tương dị thời suy, đó là lẽ thường trong đạo, sinh hóa của trời đất, không có gì khác lạ [54].

Cho nên, khí chủ có sở chế, tuế lập có sở sinh. Địa khí thời chế về “thắng kỷ”, thiên khí thời chế về “kỷ thắng” [55].

Hoàng Đế hỏi:

Khí thủy bắt đầu mà sinh hóa, khí tán mà có hình, khí bố (tán bố) thời phồn dục (tâm, tốt), khí chung (cuối cùng) thời tượng... Cái nguyên lý chỉ như một. Nhưng năm vị sinh ra, sinh hóa có hậu, bạc, thành thục có nhiều, ít, chung thủy không giống nhau, là vì sao [56]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Do địa, khí chế ngự đó, Phàm vật không có thiên khí thời không sinh, không có địa khí thời không trưởng (1) [57].

Hoàng Đế nói:

Xin cho biết chi tiết ra làm sao? [58 ].

Kỳ Bá thưa rằng:

Hàn, nhiệt, táo, thấp, sự hóa không giống nhau cho nên Thiếu dương Tại toàn, khí hàn độc không sinh ra. Vị nó tân, về liệu trị, dùng các vị khổ toan (1) [59].

Dương minh Tại toàn thời thấp độc không sinh ra. Vị nó toan, khí nó thấp. Chủ trị của nó là Tân, Khổ, Cam (1) [60].

Thái dương Tại toàn, thời nhiệt độc không sinh ra. Vị nó khổ. Chủ trị của nó là Đạm và Hàm (2) [61].

Quyết âm tại toàn, thời thanh độc không sinh ra. Vị nó Cam. Chủ trị của nó là Toan và Khổ, khinó chuyên, vị nó chính (3) [ 62].

Thiếu âm Tại toàn thời hàn độc không sinh ra. Vị nó tân, chủ trị của nó là tân, khổ, cam (4) [ 63].

Thái âm Tại toàn thời táo độc không sinh ra. Vị nó hàn, khí nó nhiệt, chủ trị của nó là cam hàn (5) [64].

Hóa thuần thời hàm giữ gìn, khí chuyên thời tân hóa mà điều trị (6) [65].

Cho nên: muốn dùng “bổ” ở trên dưới, thời phải dùng phép thuận, muốn dùng ‘trị” ở trên dưới, thời phải dùng phép nghịch. Nhận xem hàn, nhiệt, thịnh, suy ở đâu để điều hòa. Cho nên nói “Thượng thủ, hạ thủ, nóäi thủ, ngoại thủ, đề cầu nơi hữu quá (có lỗi, tức có bệnh); Lại xét bệnh nhân có thể thắng được độc thời dùng hậu dược (vị thuốc khí vị nùng hậu); không thắng được độc thời dùng bạc dược (vị thuốc khí vị đạm bạc) (1) [66].

Nếu bệnh khí tương phản, thời bệnh ở trên, trị ở dưới, bệnh ở dưới, trị ở trên, bệnh ở trung (giữa) trị ở bên cạnh (1) [67].

Trị bệnh nhiệt bằng vị hàn, dùng “ôn” cho dẫn hành, trị hàn bằng vị nhiệt, dùng “lương” cho dẫn hành, trị ôn bằng vị thanh, dùng “lãnh” cho dẫn hành, trị thanh bằng vị ôn, dùng “nhiệt” cho dẫn hành, cho nên hoặc tiêu, hoặc tước, hoặc thồ, hoặc hạ, hoặc bổ, hoặc tả... Bệnh lâu, bệnh mới cùng một phương pháp (2) [68].

Hoàng Đế hỏi:

Bệnh ở trong mà không thực, không kiên, không tụ, không tán... Thế là vì sao [69]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Không có tích thời cầu ở Tàng: hư thời bổ, dùng thuộc để trừ đi, dùng ăn để giúp theo, dùng phép tẩm vào nước để lấy hãn... Miễn sa trong ngoài đều hòa, bệnh sẽ được hết (1) [70].

Hoàng Đế hỏi:

Thuốc có thứ có chất độc, có thứ không có chất độc. Về việc uống, có qui chế nhất định không [71]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Bệnh có lâu, mới; phương có lớn, nhỏ, thuốc có chất độc hay không chất độc, về phương pháp dùng, vốn có qui chế thường [72].

Vị thuốc có chất đại độc, dùng để trị bệnh, bệnh mười phần, giảm hớt được 6 phần thời thôi, đừng dùng nữa [73]. Vị thuốc có chất độc thường, dùng để trị bệnh, bệnh mười phần, bớt được bảy phần thời thôi đừng dùng nữa [74]. Vị thuốc có chất tiêu độc, dùng để trị bệnh, bệnh mười phần, bớt được tám phầ thời thôi đừng dùng nữa [75]. Vị thuốc không có chất độc, dùng để trị bệnh, bệnh mười phần, bớt được chín phần, thời thôi, đừng dùng nữa [76]. Cơm gạo, cá, thịt, các thức quả, các thức rau... Dùng làm thức ăn cho bổ dưỡng thêm, bệnh hết thời thôi, không nên nhiều quá, e làm thương đến chính khí [78]. Nếu bệnh vẫn chưa khỏi, lại dùng thuốc theo như phương pháp trên (2) [78].

Phải trước xét nhận ở tuế khí, đừng làm hại đến khí hòa, đừng đã thịnh lại giúp cho thịnh thêm, đừng đã hư lại làm cho hư thêm... Khiến người mắc tai vạ, đừng chuốc lấy tà, đừng làm mất chất chính, khiến người bị yếu vong (3) [79].

Hoàng Đế hỏi:

Có người mắc bệnh lâu ngày, khí đã thuận mà vẫn không khỏe, bệnh hết mà người vẫn gầy... Như thế là thế nào [80]?

Kỳ Bá thưa rằng:

Không thể thay khí hóa, không thể trái bốn mùa [81]. Giờ kinh lạc đã thông, huyết khí đã thuận chỉ nên làm cho hồi phục lại cái Tàng nào bất túc, cho được điều hòa như nhau, bổ dưỡng thêm, điều hòa thêm yên lặng, để đợi thời, giữ khí cho cẩn thận, đừng để sai lệch... Như thế, sinh khí sẽ được lâu dài và thân hình sẽ được mạnh khỏe (2) [82].

THIÊN 74 : CHÍ CHÂN YẾU ĐẠI LUẬN

Hoàng Đế hỏi:

Năm khí giao hợp, doanh hư thay đổi... Lẽ đó, tôi được biết rồi. Còn sáu khí chia trị, Tư thiên, Tại toàn, khí đến như thế nào? [1]

Kỳ Bá thưa rằng:

Quyết âm Tư thiên, hóa của nó là phong. Thiếu âm tư thiên, hóa của nó là nhiệt, Thái âm tư thiên, hóa của nó là thấp. Thiếu dương Tư thiên, hóa của là hỏa, Dương minh Tư thiên, hóa của nó là táo, Thái dương tư thiên, hóa của nó là hàn... Lấy cái Tàng vị sáu khí nó lâm, mà nhận định bệnh danh... (tức là thiên khí ở trên lâm xuống, mà dưới hợp với Tàng vị của con người, tùy theo 6 khí nó phạm vào tàng nào, để ấn định tên bệnh) [2].

Địa hóa (tức Tại toàn) như thế nào? [3]

Cùng “hậu” như tư thiên, gián khí cũng vậy [4].

Gián khí như thế nào? [5]

“Tư” ở tả, hữu gọi là gián khí [6].

Lấy gì để phân biệt là khác? [7].

Chủ tuế thời kỳ tuế, gián khí thời kỳ bộ (1) [8].

Hoàng Đế hỏi:

Tuế chủ như thế nào? [9]

Kỳ Bá thưa rằng:

Quyết âm Tư thiên là phong hóa, Tại toàn là toan hóa, tư khí là thương hóa (hóa màu xanh), gián khí là động hóa. Thiếu âm Tư thiên là Nhiệt hóa. Tại toàn là khổ hóa, không tư về khí hóa tư khí là chước hóa (hóa sự cháy nóng). Thái âm tư thiên là thấp hóa, Tại toàn là Cam hóa, tư khí là kiềm hòa, gián khí là Nhu hóa, Thiếu dương Tư thiên là hỏa hóa, Tại toàn là khổ hóa, tư khí là đan hoá (hóa sắc đỏ), gián khí là minh hóa (hóa sự sáng tỏ). Dương minh Tư thiên là táo hóa, Tại toàn là tân hóa, tư khí là tố hóa, gián khí là thanh hóa. Thái dương Tư thiên là hàn hóa, Tại toàn là hàn hóa, tư khí là huyền hóa, gián khí là Tàng hóa... Cho nên muốn trị bệnh phải biết rõ sáu khí, chia trị năm vị, năm sắc sinh ra thế nào, năm tàng nên như thế nào... Mới có thể nói được lẽ doanh, hư và cái nguyên nhân sinh ra bệnh hoạn (1) [10].

Hoàng Đế hỏi:

Quyết âm Tại toàn mà toan hóa, tôi đã hiểu rồi. Còn sự phát triển của phong hóa, như thế nào? [11].

Kỳ Bá thưa rằng:

Phong phát sinh ra ở đất, đó tức là “bản”. Các khí khác đều như vậy. Bản (gốc) ở trời, tức là thiên khí, bản ở đất, tức là địa khí. Trời với đất hợp khí, sáu tiết phân chia, muôn vật do đó mà hóa sinh. Cho nên nói: “Cẩn hậu khí nghi, vô thất bệnh kỳ”, tức là lẽ đó (1) [12].

Hoàng Đế hỏi:

Chủ bệnh như thế nào? [13].

Kỳ Bá thưa rằng:

Tư thế, bị vật (1), thời không sót nữa [14].

Trước tuế mà bị vật, như thế nào? [15].

Đó là chuyên tính của trời đất [16].

Tư tuế như thế nào? [17].

Tư khí để nhận chủ tuế, do đó lại xét cả hữu dư và bất túc [18].

Nếu không tư tuế, bị vận, thì sao? [19].

Vì khi nó tán, chất tuy đồng mà lực khác nhau. Khí vị có hậu bạc, tính dụng có táo tĩnh, trị, bảo có nhiều ít, lực hóa có thiển, thâm... Vì vậy nên phải tư tuế bị vật (2) [20].

Hoàng Đế hỏi:

Tuế chủ làm hại cho Tàng, như thế nào? [21].

Kỳ Bá thưa rằng:

Xét cái “sở bất thắng” của nó, thời rõ được yếu điểm như thế nào? (1) [22].

Trị liệu như thế nào? [23]

Ở trên mà “râm” xuống dưới thời lấy cái “sở thắng” để làm cho yên, do bên ngoài mà “râm” vào trong, thời lấy cái “sở thắng để điều trị (2).

Hoàng Đế hỏi:

Bình khí như thế nào? [25].

Kỳ Bá thưa rằng:

Nhận xét kỹ âm dương ở đâu để điều trị, lấy quân bình làm giới hạn, Chính thời chính trị, phản thời phản trị...(1) [26].

Hoàng Đế hỏi:

Phu tử nói xét về sự hỗ giao âm dương để điều trị. Luận nói: “Nhân nghinh với Thốn khẩu tương ứng, không sai như dây mặc, gọi là “bình”, vậy âm dương sở tại, và thốn khẩu như thế nào? [27].

Kỳ Bá thưa rằng:

Nhân năm thuộc về Nam chính hay Bắc chính, thời sẽ biết được (1) [28].

Về năm Bắc chính, Thiếu âm Tại toàn thốn khẩu không ứng, Quyết âm tại toàn, thời bên “hữu” không ứng, Thái âm Tại toàn thời bên “tả” không ứng. Về năm Nam chính, Thiếu âm tư thiên thời. Thốn khẩu không ứng. Quyết âm Tư thiên thời bên hữu không ứng Thái âm Tư thiên thời bên tả không ứng. Phàm những “không ứng” “phản chấn” thời sẽ thấy (2) [29].

Hoàng Đế hỏi:

Xích hậu như thế nào? [30].

Kỳ Bá thưa rằng:

Về năm Bách chính, Tam âm ở dưới, thời Thốn không ứng, Tam âm ở trên, thời Xích không ứng. Về năm Nam chính. Tam âm Tư thiên, thời Thốn không ứng. Tam âm Tại toàn, thời xích không ứng. Tả, hữu đều như vậy. Cho nên nói: biết được cốt yếu, chỉ một lời cũng đủ, không biết được cốt yếu, sẽ lưu tán vô cùng (1) [31].

Hoàng Đế hỏi:

Khí của trời đất, do nóäi tâm mà sinh ra bệnh như thế nào? [32]

Kỳ Bá thưa rằng:

Những năm Quyết âm Tại toàn, bị phong râm nó thắng, thời địa khí u ám, cỏ cây sớm tốt. Dân mắc bệnh ghê ghê sợ rét, hay vươn vai, Tâm thống, chi mãn, lưỡng hiếp lý cấp (đau rút hai bên sườn) uống ăn không chịu, cách yết không thông, ăn vào thời nóân, phúc trường hay ợ, được hậu (đại tiện) với khí (trung tiện), thời trong bụng nhẹ ngay như bớt. Thân thể đều nặng [33].

Những năm Thiếu âm Tại toàn, bị nhiệt râm nó thắng, nơi tối lại sáng. Dân mắc bệnh trong bụng thường sôi, (kêu réo), khí xông lên hung, thở suyễn, không thể đứng lâu, hàn, nhiệt, bì phu thống, mắt mờ, răng đau, quai hàm sưng. Ố hàn, phát nhiệt, như Ngược, trong Thiếu phúc đau, bụng lớn (vì nhiệt ở Trung tiêu nên bụng lớn) [34].

Những năm Thái âm Tại toàn, bị thấp râm nó thắng, gần xa tăm tối, dân mắc bệnh ẩm, tích, tâm thống, tai điếc, bừng bừng nóng nẩy, ách thũng, hầu tý, âm bệnh, ra huyết, thiếu thống và thũng, không tiểu tiện được, khí bốc đầu nhức, mắt như mờ , cổ như gãy, lưng đau, đùi duỗi không thể co, bộng chân đau nhức như bị nứt [35].

Những năm Thiếu dương Tại toàn bị hỏa râm nó thắng, hàn nhiệt thay đổi đến... Dân mắc bệnh chú tiết xích hoặc bạch (tức kiết lỵ); Thiếu phúc thống, niệu xích, quá lắm thời tiện huyết. Thiếu âm cùng hậu (1) [36].

Những năm Dương minh tại toàn, bị táo râm nó thắng, dân mắc bệnh hay ẩn (ọe) ra vị đắng, hay thở dài, Tâm, Hiếp thống, không thể trở mình, quá lắm thời họng khô, mặt nhồm, da dẻ khô rộp, ngoài chân lại nhiệt.

Những năm Thái dương, Tại toàn, bị hàn râm nó thắng, dân mắc bệnh đau ở Thiếu dương, rút xuống Dịch hoàn, suốt ra yêu tích; xung lên thành Tâm thống, ra huyết, họng đau, quai hàm sưng [38].

Hoàng Đế hỏi:

Điều trị như thế nào? [39]

Cái khí trong thời kỳ Tại toàn, bị phong râm vào bên trong, nên trị bằng vị tân và lương, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị cam làm cho hoãn lại, dùng vị tân làm cho tán đi (1) [40].

Bị nhiệt râm vào bên trong, nên trị bằng vị hàm, và hàn, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ đế phát đi (2) [41].

Bị thấp râm vào bên trong, nên trị bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và đạm, dùng vị khổ làm cho táo lại, dùng vị đạm làm cho tiết đi (3) [42].

Bị hỏa râm vào bên trong nên trị bằng khổ và ôn, tá bằng vị cam và tân, dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ để phát đi (4) [43]

Bị táo râm vào bên trong, nên trị bằng khổ và ôn, tá bằng vị cam và tân, dùng vị khổ để hạ xuống (5) [44]

Bị hàn râm vào bên trong, nên trị bằng vị cam nhiệt, tá bằng vị khổ và tân, dùng vị hàm để tả đi, dùng vị tân để nhuận thêm, dùng vị khổ để làm cho kiên lại (6) [45]

Hoàng Đế hỏi:

Thiên khí biến như thế nào? [46]

Kỳ Bá thưa rằng:

Quyết âm Tư thiên, bị phong râm nó thắng... dân mắc bệnh Vị quản giữa tâm mà đau, rút lên hai hiếp, cách yết không thông, uống ăn không xuống, lưỡi cứng đờ, ăn vào thời ẩu, lãnh tiết, phúc trướng, đường tiết (đại tiện nát), giả (hòn nóåi lại tan), đường thủy vít. Bệnh vốn ở Tỳ Xung dương mạch tuyệt, chết không thể chữa [47].

Thiếu âm Tư thiên, bị nhiệt râm nó thắng. Dân mắc bệnh trong Hung phiền nhiệt, ách can, hữu hiếp mãn, bì phu thống, phát hàn nhiệt, khái và suyễn, thóa huyết (nhổ ra huyết), huyết tiết, cừu, nục, xị, ẩu, tiểu tiện, sắc biến. Quá lắm thời thương dương, phù thũng: Kiên (vai) bối (lưng), tý nhu (cánh tay), và trong khuyết bồn đều đau. Tâm thống, Phế trướng, bụng lớn và mãn hoặc, bụng trướng mà khái và suyễn. Gốc bệnh ở phế, Mạch ở xích trạch tuyệt, chết, không thể chữa [48].

Thái âm Tư thiên, bị thấp râm nó thắng, dân mắc bệnh, phù thũng, cốt thống, âm tý, án tay vào không được, yêu, tích, đầu hạng thống, thỉnh thoảng hoa mắt; đại tiện khó, âm khí không phát triển, đói mà không muốn ăn; khái; thóa thời thấy có cả huyết, trong bụng nghe bào hao... Bệnh ở gốc Thận. Mạch ở Thái khê tuyệt, thời chết không thể chữa [49].

Thiếu dương Tư thiên, hỏa và thấp thắng... Dân mắc bệnh đầu thống, phát nhiệt, ố hàn mà ngược. Nhiệt phát ra bì phu, bì đau, sắc biến ra vàng hoặc đỏ, gây nên chứng thủy, mình, mặt phù, thũng, bụng đầy vượt, phải ngửa lên mà thở, kiết lỵ đỏ hoặc trắng, mụn lở, ho, nhổ ra huyết, phiền Tâm, trong Hung nhiệt, quá lắm thời cừu, nục. Bệnh gốc ở Phế. Mạch ở huyệt Thiên phủ tuyệt, sẽ chết, không chữa được [50].

Dương minh Tư thiên, bị Táo râm nó thắng... Dân mắc bệnh tả khư hiếp đau, khí hàn tràn lan, cảm thành bệnh ngược, khái, trong bụng sôi, tiết tả, như phân cò, Tâm huyết bạo thống, không thể trở mình, ách can, mặt nhờm, yêu thống. Đàn ông đồi sán, đàn bà Thiếu phúc đau, mắt mờ và toét, lở láy. Bệnh gốc ở Can mạch ở Thái sung tuyệt, sẽ chết không thể chữa [51].

Thái dương Tư thiên, bị hàn râm nó thắng. Dân mắc bệnh, huyết biến ở trong, phát thành ung dương (mụn, lở), quyết, tâm thống, ẩu huyết, huyết tiết, cừu, nục, hay bị (thương, cảm), thỉnh thoảng chóng mặt, ngã ngất, hung, phúc, mãn, lòng bàn tay nóng, khủyu tay co lại, nách sưng, trong lòng lạnh lẽo khó chịu, bụng hiếp, vị quản đều không yên, mặt đỏ, mắt vàng, hay ợ, họng khô. Quá lắm thời sắc mặt đen sạm, khát, muốn uống nước. Bệnh gốc ở Tâm, mạch ở huyệt Thần môn tuyệt sẽ chết, không thể chữa [52].

Đó chính là: chỉ xét ở động khí, thời sẽ biết được năm Tàng ra sao.

Hoàng Đế hỏi:

Điều trị như thế nào? [54]

Kỳ Bá thưa rằng:

Về khí Tư thiên, bị phong râm nó thắng, bình bằng vị tân và lương, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị cam để làm cho hoãn, dùng vị toàn để làm cho tả (1) [55].

Bị nhiệt râm nó thắng, bình bằng vị hàm và hàn, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị cam để làm cho thâu lại (2) [56].

Bị thấp râm nó thắng, bình bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và tân, dùng vị khổ để làm cho táo, dùng vị đạm để làm cho tiết, thấp ở bộ phận trên, quá lắm mà nhiệt, trị bằng vị khổ và ôn, tá bằng vị cam và tân, để cho hãn ra, thời thôi (3) [57].

Bị hỏa râm nó thắng, bình bằng vị toan và lãnh, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ để phát ra, lại dùng vị toan để cho phục lại. Cùng một phương pháp trị chứng nhiệtrâm (4) [58].

Bị táo râm nó thắng, bình bằng vị khổ và ôn, tá bằng vị toan và tân, dùng vị khổ để hạ xuống (5) [59]

Bị hàn râm nó thắng bình bằng vị tân và khíệt, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị hàm để tả (6) [60].

Hoàng Đế hỏi:

Tà khí phản thắng, điều trị như thế nào? [61].

Kỳ Bá thưa rằng:

Phong tư ở đất, thanh lại thắng nó, trị bằng toan và ôn, tá bằng khổ và cam, dùng vị tân để bình [62].

Nhiệt tư ở đáy, hàn lại thắng nó; trị bằng cam và nhiệt, tá bằng khổ và tân, dùng vị hàn để bình [63].

Thấp tư ở đất, nhiệt lại thắng nó, trị bằng vị khổ và lãnh, tá bằng vị hàm và cam, dùng vị khổ để bình [64].

Hỏa tư ở đất, nhiệt lại thắng nó, trị bằng vị cam và nhiệt, tà bằng vị khổ và tân, dùng vị hàm để bình [65].

Táo tư ở đất, nhiệt là thắng nó: trị bằng vị bình và hàn, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị tân để bình, lấy hòa làm lợi [66].

Hàn tử ở đất, nhiệt lại thắng nó, trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị cam tân, dùng vị khổ để bình (1) [67].

Hoàng Đế hỏi:

Tà khí lại thắng khí Tư thiên, thời trị liệu như thế nào? [68]

Kỳ Bá thưa rằng:

Phong hóa ở trời, thanh lại thắng nó, trị bằng vị toan và ôn, tá bằng vị cam và khổ [69].

Thấp hóa ở trời, hàn lại thắng nó, trị bằng vị cam và ô, tá bằng vị khổ, toan và tân [70].

Thấp hóa ở trời, hàn lại thắng nó, trị bằng vị khổ và hàm tá bằng vị khổ và toan [71].

Hỏa hóa ở trời, hàn lại thắng nó. Trị bằng vị cam và nhiệt tá bằng bị khổ và tân [72].

Táo hóa ở trời, nhiệt lại thắng nó. Trị bằng vị tân và hàn, tá bằng vị khổ và cam [73].

Hàn hóa ở trời, nhiệt lặi thắng nó. Trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị khổ, và tân (1) [74].

Hoàng Đế hỏi:

Sáu khí tương thắng như thế nào? [75]

Thắng của Quyết âm, sinh ra các chứng: tai ù, đầu váng: trong bụng rộn rực như muốn thổ. Vị cách như hàn, khí dồn vào khư và hiếp mà thành nhiệt, tiểu tiện vàng và đỏ, Vị quản thống, dồn lên hai hiếp, trường minh, xôn, tiết, kiết lỵ đỏ hoặc trắng, quá lắm thời ẩu thổ, cách yết không thông 91) [76].

Thắng của Thiếu âm, tâm hạ nhiệt, hay đói, dưới rốn rộn rực, khí dẫn lên Tam tiêu, ẩu nghịch, táo phiền, phúc mãn và thống, đường tiết, tiểu tiện đỏ [77].

Thắng của Thái âm, hỏa khí uất ở bên trong, mụn lở suốt từ trong ra ngoài. Bệnh ở khư hiếp, quá lắm thời tâm thống, nhiệt cách lên thành đầu thống, hầu tý, hạng cường. Nếu khí âm thấp lại thắng ở nửa năm về sau thời, thấp khí uất ở bên trong, hàn khí bách xuống hạ tiêu, đau suốt từ đỉnh đều đến khoảng lông mày, vị mãn, thiếu phúc mãn, sống lưng và ngang lưng đều cứng, bên trong khó chịu, hay kiết lỵ, dưới chân ấm, đầu nặng, ống chân và chân sưng thũng. Chứng ẩm phát ra ở bên trong, phù thũng từ dưới lên trên (1) [78].

Thắng của Thiếu dương, nhiệt“khách” ở Vị phiền tâm, tâm thống, mắt đỏ, muốn ẩu, ẩu ra nước chua, hay đói, tai đau, nước tiểu đỏ, hay sợ, thiềm ngữ, bao nhiệt, tiêu thước, thiếu phúc thống [79].

Thắng của Dương minh, khí lạnh phát ra ở trong tả khư hiếp đau, đường tiết, trong là ách tắc (nghẽn ở cổ), ngoài là đồi sán. Trong bụng khó chịu, ách tắc mà khái [80].

Thắng của Thái dương, sinh ra chứng hài ngược, hàn quyết vào Vị, tâm thống, âm hành lở mụn, đau xuống bên háng, huyết mạch đọng rít, hoặc thành chứng huyết tiết (tả ra huyết), bì phu sưng đau, phúc mãn, ăn kém, nhiệt lại bốc lên, đầu, cổ, thông đính, não bộ đều đau, mắt như mờ đi, hàn vào hạ tiêu, gây nên chứng nhu tả (đại tiện nát) [81].

Hoàng Đế hỏi:

Điều trị như thế nào? [82]

Kỳ Bá thưa rằng:

Thắng của Quyết âm, trị bằng vị cam và thanh, tả bằng vị khổ và tân, dùng vị toan để tả [83].

Thắng của Thiếu âm, trị bằng vị cam và thanh, tả bằng vị khổ và tân, dùng vị toan để tả [84].

Thắng của Thái âm, trị bằng vị hàm và nhiệt, tá bằng vị tân và cam, dùng vị khổ để tả [85].

Thắng của Thiếu dương, trị bằng vị tân và hàn, tá bằng vị cam và hàm, dùng vị cam để tả [86].

Thắng của Dương minh, trị bằng vị toan và ôn, tá bằng vị tân và cam, dùng vị khổ để tiết [87].

Thắng của Thái dương, trị bằng vị cam và nhiệt, tá bằng vị tân và toan, dùng vị hàm để tả (1) [88].

Hoàng Đế hỏi:

Sáu kì phục lại, như thế nào? [89].

Kỳ Bá thưa rằng:

Sự “phục” của Quyết âm, sinh ra chứng thiếu phúc kiên và mãn, lý cấp bạo thống, quyết tâm thống, hãn phát, ẩu thổ, muốn ăn mà không nuốt vào được, nuốt vào lại thổ ra. Gân, xương choáng váng, thanh quyết, quá lắm thời vào Tỳ, thành chứng thực tý, mà thổ. Mạch ở Xung dương tuyệt, sẽ chết, không chữa được (1) [90].

Phục của Thiếu âm, nóng nảy phát sinh ở bên trong, phiền táo, cừu sị, thiếu phúc giảo thống (đau như thất), ách táo “phân chú” có lúc ngừng, khí động ở tả, dẫn lên bên hữu, khái, bì phu đau, uất mạo không biết, ghê ghê rét run, thiềm vọng, hàn rồi lại nhiệt, khát mà muốn uống, thiểu khí, cốt nuy, tiểu trường không thông, ngoài là phù thũng, nhiệtkhi đại hành, sinh ra các chứng phất, chẩn, thương dương, ung thư, tỏa, trĩ v.v. quá lắm thời phạm vào Phế, khái mà tỵ uyên (trong mũi nước đặc chảy ra quanh năm, mùi hôi thối). Mạch ở Thiên phủ tuyệt, sẽ chết, không chữa được (1) [91].

Phục của Thái âm, sinh ra mình nặng, bụng đầu, uống ăn không tiêu, âm khí thượng quyết, trong bụng khó chịu, chứng ẩm phát sinh ở trong, thành chứng khái và suyễn có tiếng, đỉnh đầu đau và nặng, càng thêm chạo khiết (tay chân vật vã, co quắp) nóân ọe li bì, im lặng, thổ ra nước trong. Quá lắm thời vào Thận, khiến tả vô độ. Mạch Thái khê tuyệt, thời chết, không thể chữa (1) [92].

Phục của Thiếu dương, sinh ra các chứng kinh, khiết, khái, nục, tâm nhiệt, phiền táo, tiện xác, ghê gió, quyết khí dẫn lên, mặt nhồm như bắt bụi, mi mắt hay giật, hỏa khí phát ở bên trong dẫn lên thành chứng lở nát trong miệng, ẩu nghịch, huyết giật, huyết tiết, rồi phát ra chứng ngược, ố hàn run rẩy. Hàn cực lại nhiệt, gây nên ách lạc khô ráo, khát muốn uống nước lã, sắc mặt biến ra vàng và đỏ, thiếu khí, mạch nuy, hóa làm chứng thủy, gây thành thủy thủng. Quá lắm thời vào Phế, khái và đại tiện ra huyết. Xích trạch tuyệt thời chết không thể chữa được (1)[93] .

Phục của Dương minh, sẽ sinh ra các bệnh: đau ở khư hiếp khí về bên tả, hay thở dài, quá lắm thời Tâm thống, bĩ mãn, phúc trướng mà tiết tả, nóân ra nước đắng, khái uế, phiền tâm bệnh ở trong cách, đầu nhức, quá lắm thời vào can, sinh ra chứng kinh hãi, co gân, mạch ở Thái xung tuyệt, sẽ không chữa được (1) [94].

Phục của Thái dương, quyết khí dẫn lên, Tâm và Vị sinh hàn; Hung cách không lợi, tâm thống, bĩ, mãn, đầu thống, hay bị, có khi ngã ngất, ăn sút, yêu chùy đau, co duỗi không tiện, đau ở Thiếu phúc, rút xuống Dịch hoàn, lây lên cả yêu, tích, xung lên Tâm, nhổ ra nước trong, hay ọe hay ợ, quá lắm thời vào Tâm, hay quên, hay bi. Mạch ở Thầu môn tuyệt, sẽ chết, không thể chữa (1) [95].

Hoàng Đế hỏi:

Phương pháp điều trị như thế nào? [96]

Kỳ Bá thưa rằng:

Phục của Quyết âm, trị bằng vị toan và hàn, tá bằng vị cam và tân, dùng vị toan để làm cho tả, dùng vị cam để làm cho hoãn [97].

Phục của Thiếu âm, trị bằng vị hàm và hàn, tá bằng vị khổ và tân: dùng vị Cam để làm cho tả, dùng vị toan để làm cho thâu; dùng vị khổ để làm cho phát, dùng vị hàm để làm cho nhuyễn [98].

Phục của Thái âm, trị bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và tân, dùng vị khổ để làm cho tả, làm cho táo, làm cho tiết [99].

Phục của Thiếu dương, trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị khổ và tân, dùng vị hàm để làm cho nhuyễn, dùng vị toan để làm cho thâu, dùng vị tân và khổ để làm cho phát. Phát không lánh xa nhiệt, không phạm ôn, lương... Phục ở Thiếu âm cũng một phương pháp điều trị [100].

Phục của Dương minh, trị bằng vị tân và ôn, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị khổ để làm cho tiết, làm cho hạ, dùng vị toan để bổ [101].

Phục của Thái dương, trị bằng vị hàm và nhiệt, tá bằng vị cam và tân, dùng vị khổ để làm cho kiên (1) [102].

Phàm trị về cái khí thắng và phục, hàn thời làm cho nhiệt, nhiệt thời làm cho hàn, ôn thời làm cho thanh, thanh thời làm cho ôn, tán thời thâu lại, uất thời tán đi, táo thời làm cho nhuận, cấp thời làm cho hoãn, kiên thời làm cho nhuyễn, nhuế (mềm) thời làm cho kiên, suy thời bổ thêm vào, cương thời tả bớt đi... Phải làm cho chính khí được yên, phải thanh, phải tĩnh... thời bệnh khí giảm đi, rút về bản vị, đó là đại thể của phương pháp điều trị [103].

Hoàng Đế hỏi:

Khí chia về trên, dưới như thế nào? [104]

Kỳ Bá thưa rằng:

Từ nửa mình trở lên, có ba khí, thuộc về bộ phận của trời, thiên khí làm chủ, từ nửa mình trở xuống, có ba khí thuộc về bộ phận của đất, địa khí làm chủ. Lấy danh để đặt tên cho khí, lấy khí để nhận biết thuộc xứ nào, rồi sẽ nói đến bệnh. “Bán” (nửa), tức là chỉ về Thiên khu (1) [105].

Cho nên ở trên thắng mà ở dưới cũng mắc bệnh, thời lấy thuộc về “địa” để đặt tên, ở dưới thắng mà ở trên cũng mắc bệnh, thời lấy thuộc về “thiên” để đặt tên (1) [106].

Như nói là “thắng” đến, tức là “báo khí” khuất phụ mà chửa phát, nói “phục” đến, thời không cần, vì trời đất mà khác danh, cũng đều coi như phục khí ở đâu để lập thành trị pháp (2) [107].

CHƯƠNG 76 : THỊ THUNG DUNG LUẬN

Lôi Công hỏi rằng:

Can hư, Thận hư, Tỳ hư… Đều khiến con người thân thể nặng nề khó chịu. Nên dùng độc dược, thích và cứu hoặc dùng biêm thách, hoặc dùng thanh dịch v.v… Vậy mà có khi khỏi, có khi không khỏi, là vì sao? [1]

Hoàng Đế dạy rằng:

Tỳ mạch hư mà phù, tựa phế; Thận mạch tiểu và phù tựa Tỳ; Can mạch cấp và trầm tựa Thận… Đó đều là những mạch chứng mà y giả dễ nhầm. Chỉ có “thung dung” nhận kỹ, mới có thể biết được. Đến như ba Tàng thổ, mộc, thủy cùng ở bộ phận dưới, có gì mà không phân biệt được. [2]

Lôi Công hỏi rằng:

Mạch phù mà Huyền, án vào rắn như thạch (đá) xin cho biết đó là bệnh gì? [3]

Hoàng Đế dạy rằng:

Mạch phù mà Huyền, đó là bởi Thận bất túc; Trầm mà thạch, là do Thận khí bị ngừng mắêc ở bên trong; bệnh nhân khiếp nhược, thiểu khí… là do thủy đạo không thông lợi, khiến cho hình khí bị tiêu thước; khái khấu và phiền oan, là do Thận khí nghịch lên. Đó là khí ở một người, và bệnh chỉ phạm vào một Tàng. [4]

Lôi Công hỏi rằng:

Giờ đây có người, tứ chi rã rời, khái huyết tiết… Ngu này nhận là thương Phế, thiết mạch thấy phù, đại mà khẩn… Ngu không dám chữa. Thô công dũng biêm thạch mà khỏi bớt; lại làm cho xuất huyết, huyết ra được mà mình thấy nhẹ nhàng… Vậy là bệnh gì? [5]

Hoàng Đế dạy rằng:

Mạch phù, đại và hư là do Tỳ khí tuyệt ở bên ngoài, bỏ Vị phủ, trở ra kinh của Dương minh. Vì hai hỏa không thể thắng được ba thủy, vì vậy nên mạch loạn mà không thường. Tứ chi rã rời là do tinh khí của Tỳ không đạt ra tới tứ chi; suyễn và khái, là do thủy khí dồn lên Dương minh; huyết tuyết, là do mạch cấp, huyết không dẫn hành được. Như đoán là thương Phế, thời nhằm lắm. [6]

Nếu là thủy tà dương Phế thời do Tỳ khí không giữ; Vị khí không thanh; Kinh khí không sai khiến được; chân tàng hoại quyết, kinh mạch bàng tuyệt, năm Tàng lậu tiết, không nục thời ẩu. Vậy đối với chứng hậu trên kia, khác hẳn. [7]

Thiên 77 :SƠ NGŨ QUÁ LUẬN

Hoàng Đế nói rằng:

Phàm trước khi chẩn mạch, nên hỏi có phải là trước quí mà sau hèn? Nếu vậy, thời dù không trúng tà, bệnh do trong sinh ra. Bệnh đó gọi là Thoát doanh. Nếu trước giàu mà sau nghèo… Bệnh đó gọi là Thất tinh. Năm khí lưu niên, bệnh nó dồn lại. Y công chẩn bệnh, không biết bệnh danh. Đó là một lỗi. [1]

Phàm muốn chẩn bệnh, phải hỏi sự uống, ăn, cư xử, bạo lạc hay bạo khổ, trước xướng sau khổ, những trường hợp đó đều làm thương tinh khí; tinh khí kiệt tuyệt, khiến cho hình thể rã rời. Bạo nộ thời dương Aâm, bạo hỷ thời thương Dương, quyết khí thượng hành, mạch mãn thời hình khứ. Ngự y chẩn bệnh, không biết như vậy. Đó là hai lỗi. [2]

Phàm chẩn bệnh, phải biết so sánh những bệnh Kỳ hằng, biết được là giỏi. Bệnh đó không biết, sao được là biết chẩn. Đó là ba lỗi. [3]