Logo
Loading...

Kim quỹ yếu lược - Sách Đông y (y học cổ truyền) kinh điển

Kim Quỹ Yếu Lược

sách kim quỹ yếu lược

KIM QUỸ NGỌC HÀM KINH

Đại Cương

Theo Trương Trọng Cảnh ghi lại trong tác phẩm 'Thương Hàn Luận' của ông là : "Thương hàn tạp bệnh gồm 16 quyển".

Trong đó, Thương Hàn Luận gồm 10 quyển.

Thương Hàn Tạp Bệnh gồm 6 quyển.

Phần 'Tạp Bệnh' chính là sách 'Kim Quỹ'.

Hàn lâm học sĩ Vương Chu tại quán khách đã phát hiện ra 'Trọng Cảnh Kim Quỹ Ngọc Hàm Yếu Phương' gồm 3 quyển. Quyển Thượng là Thương Hàn, quyển Trung là Tạp bệnh, quyển Hạ là các phương thuốc khác và điều trị Phụ khoa.

Tên Gọi

Tại sao gọi là Kim Quỹ Ngọc Hàm Phương mà không gọi là Thương Hàn Tạp Bệnh Luận?

Ngày xưa, những sách quý, được gọi là 'Kim Quỹ' hoặc 'Ngọc Hàm'.

Kim Quỹ, Ngọc Hàm là tên gọi vinh dự của người đời tán thưởng sách của Trương Trọng Cảnh.

Nội Dung

Sách Kim Quỹ gồm 22 Thiên và 397 điều. 20 thiên đầu bàn về Tạp bệnh, ba chương cuối bàn về Phụ Khoa.

Cũng như Thương Hàn Luận, sách Kim Quỹ cũng được rất nhiều thầy thuốc chú giải, được hiểu theo nhiều trường phái khác nhau... Mỗi nhà chú giải có cái nhìn khác nhau nên dịch và chú giải cũng có nhiều điểm chưa được thống nhất.

Chúng tôi chỉ ghi lai nguyên văn trước (đợt này chỉ có bản dịch nghĩa, chưa ghi được nguyên văn và phần chữ Hán - Sẽ bổ sung vào các lần sau).

THIÊN THỨ NHẤT

BỆNH, MẠCH, CHỨNG, TRƯỚC SAU THEO TẠNG, PHỦ, KINH, LẠC

ĐIỀU 1

Hỏi Bậc thượng công trị lúc chưa bệnh là thế nào ?

Thầy đáp Trị lúc chưa bệnh, là thấy Can bệnh biết sẽ truyền đến Tỳ, trước tiên phải làm cho Tỳ mạnh lên. Bốn tháng cuối mùa, lúc Tỳ vượng, không thọ tà, không cần bổ Tỳ. Hạng trung công không hiểu quy luật tương truyền, thấy Can bệnh, không biết làm mạnh Tỳ, chỉ lo trị ở Can. Can bệnh, dùng vị chua để bổ, dùng vị khét đắng để hỗ trợ, dùng vị ngọt để ích cho nó. Chua vào Can, khét đắng vào Tâm, ngọt vào Tỳ. Tỳ có thể làm tổn thương Thận (Thổ khắc Thủy). Thận khí yếu thì thủy không vận hành, thủy không hành thì Tâm hỏa khí thịnh lên làm cho Phế bị tổn thương. Phế bị tổn thương thì Kim khí không vận hành, Can khí sẽ thịnh. Do đó, bệnh của Can tự khỏi. Đó là diệu pháp trị Can bằng cách bổ Tỳ. Can hư thì dùng phép này, thực thì không trị như thế. Sách Nội Kinh viết: “Hư trị theo hư, thực trị theo thực, bổ vào chỗ không đủ, bớt chỗ có thừa”, nghĩa nó là như thế. Các tạng khác chiếu theo đấy làm chuẩn.

ĐIỀU 2

Con người bẩm 5 thường (tức 5 hành, thực tế chỉ 5 tạng), nhờ phong khí (khí hậu trong tự nhiên giới) mà sinh trưởng. Phong phú tuy hay sinh vạn vật, cũng hay hại vạn vật, như nước hay xuôi thuyền, cũng hay lật đắm thuyền. Nếu nguyên chân 5 tạng thông sướng, con người an hòa. Nếu không an hòa thời khách khí, tà phong trúng vào người, phần nhiều là chết. Tất cả bệnh tật xảy ra không ngoài 3 con đường : là kinh lạc thọ tà, vào tạng phủ là nội nhân, 2 là tứ chi, chín khiếu huyết mạch tương truyền, vít lấp không thông, là trúng ngoài bì phu, là ngoại nhân, 3 là phòng thất kim, đao, trùng thú làm bị thương. Rõ được 3 con đường đó, nắm hết được nguyên nhân sinh bệnh.

Nếu người biết dưỡng sinh phòng bệnh, không để cho phong tà phạm vào kinh lạc, vừa trúng vào kinh lạc, chưa truyền tạng phủ, liền trị đi. Tay chân vừa cảm thấy nặng nề liền dùng phép đạo dẫn (phép dưỡng sinh), thổ nạp (điều chỉnh hô hấp), châm cứu, cao ma (dùng cao dược xoa bóp), đừng để cho 9 khiếu bế tắc, đừng để phạm tội hình, hoặc cầm thú cắn bị thương, việc phòng thất đừng để kiệt lực. Ăn uống e dè nóng, lạnh, đắng, chua, cay, ngọt, đừng để hình thể suy nhược, thời bệnh không có đường vào tấu lý. Tấu là nơi khí nguyên chân hội thông ở Tam tiêu, là nơi huyết khí ra vào, lý là văn lý ở giữa bì phu, tạng phủ.

ĐIỀU 3

Hỏi : Bệnh nhân có khí sắc hiện lên mặt, muốn nghe Thầy nói.

Thầy nói : Chót mũi sắc xanh là trong bụng đau, (mộc uất khắc thổ), lạnh khó chịu là chết, chót mũi hơi đen là có thủy khí (Thân khí thắng Tỳ), sắc vàng là trên Hung có hàn (Tỳ bệnh sinh ẩm), sắc trắng là vong huyết (Kinh nói : sắc trắng là hàn, lại nói : huyết thoát sắc trắng) giả sử thấy sắc hơi đỏ, trái mùa là chết (mùa hạ hỏa lệnh mà thấy sắc trắng của mùa thu). Mắt tròn lựng là bệnh Cảnh, bất trị (thuộc âm tuyệt, dương cường), sắc xanh là đau (huyết ngưng), sắc đen là Lao (lao thì thương Thận), sắc đỏ là Phong (Phong là dương tà), sắc vàng, đại tiện khó (Tỳ bệnh thời không vận chuyển), sắc sáng tươi có lưu ẩm (Nội kinh nói : người có thủy bệnh, dưới mắt có ngọa tàm (dáng con tằm nằm vắt ngang), mặt mắt tươi láng).

ĐIỀU 4

Thầy nói : Bệnh nhân im không nói, hay kêu la hoảng sợ, bệnh ở trong cốt tiết (bệnh ở Can, Thận). Tiếng nói thấp, nhỏ, không rõ ràng, bệnh ở khoảng Tâm, hung. Tiếng nói ti tỉ, nhỏ mà dài, bệnh ở trong đầu.

ĐIỀU 5

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

: Thở day động vai là tà khí thực trong Tâm, thở dẫn khí trong hung lên, ho, thở há hốc miệng, hơi ngắn là Phế nuy (phổi teo) nhổ ra bọt dãi.

ĐIỀU 6

Thầy nói : Thở vào mà hơi gấp rút, là bệnh ở trung tiêu thực, nên hạ đi thời lành, người hư không trị. Ở thượng tiêu, thở vào ngắn, cạn, ở hạ tiêu hít vào xa, đều là khó trị. Hô hấp day động run run, bất trị.

ĐIỀU 7

Thầy nói : Thốn khẩu mạch Động, nhân lúc nó vượng mà Động, ví như Can vượng sắc xanh. Bốn mùa, mỗi mùa đều tùy theo sắc của nó. Can sắc xanh mà trở lại sắc trắng (Kim khắc mộc) không phải mạch đúng thời sắc, đều là bệnh.

ĐIỀU 8

Hỏi : Có khi chưa đến mà đến, có khi đến mà không đến, có khi đến mà không đi, có khi đến mà thái quá là thế nào.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

: Sau ngày Đông chí, nửa đêm ngày Giáp Tý Thiếu dương bắt đầu, là thời bệnh của Thiếu dương. Dương bắt đầu sinh, khí trời được ôn hòa. Chưa đến ngày Giáp Tý, mà khí trời đã ôn hòa, đó là chưa đến mà đến. Đã đến ngày Giáp Tý mà khí trời chưa ôn hòa, đó là chưa đến mà đến. Qua ngày Giáp Tý mà khí trời Đại hàn không giải, đó là đến mà không đi. Đã qua ngày Giáp Tý mà trời ấm như lúc thạnh hạ tháng năm, tháng sáu là đến thái quá.

ĐIỀU 9

Thầy nói : Bệnh nhân mạch Phù ở trước (Thốn), bệnh ở Biểu, mạch Phù ở sau (Xích), bệnh ở Lý, thắt lưng đau, lưng cứng không đi được, hẳn hơi thở ngắn mà “cực” vậy.

ĐIỀU 10

Hỏi : Kinh nói : “Quyết dương đực hành” là thế nào ?

Thầy nói : Đó là dương không âm, cho nên gọi là Quyết dương.

ĐIỀU 11

Hỏi :

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

, Đại mà Hoạt. Trầm thời là thực, Hoạt thời là khí, thực và khí chọi nhau, huyết khí vào tạng, chết ngay, vào Phủ lành ngay, đó là “Tốt quyết” (thốt nhiên tối tăm mày mặt, ngã ra) là thế nào ?

Thầy nói : Môi miệng xanh, mình lạnh, là vào Tạng, chết ngay, là mình hòa (không nóng, không lạnh), mồ hôi tự ra, là vào phủ, lành ngay.

ĐIỀU 12

Hỏi : Mạch thoát vào tạng chết ngay, vào Phủ, lành ngay là thế nào ?

Thầy nói : Không phải là 1 bệnh, 100 bệnh đều như thế. Vì như tẩm dâm sang (một loại bệnh ở bì phu, hay từ cục bộ, lan ra khắp mình), từ miệng bắt đầu lan ra tay chân, có thể trị, từ tay chân lan vào miệng không thể trị, bệnh ở ngoài có thể trị, vào trong, chết ngay.

ĐIỀU 13

Hỏi : Dương bệnh (bệnh ở biểu, ở kinh lạc) 18 là thế nào ? Thầy nói : Đầu đau, cổ, thắt lưng, xương sống, cánh tay, cẳng chân đau rút.

Âm bệnh (thuộc nội bộ tạng, phủ) 18 là thế nào ?

Thầy nói : Ho, khí nghịch lên, suyễn, ói, nghẹn, ruột sôi, trướng đầy, Tâm thống, co quắp. Năm Tạng, tạng nào cũng có 18, hiệp thành 90 bệnh. Con người lại có Lục vi, vi có 18 bệnh, hiệp thành 108 bệnh. Ngũ lao, thất thương, lục cực (khí cực, huyết cực, cốt cực, cơ cực, tinh cực, cực là lao tổn cực độ) ba mươi sáu bệnh của phụ nữ không có trong số này.

Thanh tà ở trên, trọc tà ở dưới, tiểu tà trúng vào lý, tà do ăn uống theo miệng vào thành túc thực. Năm tà trúng vào người, đều có pháp độ, phong trúng trước (giờ Ngọ), Hàn trúng vào chặp tối, Thấp thương ở dưới, sương móc thương ở trên, phong khiến cho mạch Phù, Hàn khiến cho mạch Cấp, sương móc thương bì mao, Tấu lý, Thấp đọng ở quan tiết (đốt xương), ăn uống thương Tỳ, Vy, cực hàn thương kinh, cực nhiệt thương lạc.

ĐIỀU 14

Hỏi : Bệnh có khi gấp, nên cứu Lý, cứu Biểu là thế nào ?

Thầy nói : Bệnh, y giả hạ đi, tiếp tục hạ lợi thanh cốc (ra nguyên đồ ăn uống) không dứt, mình mẩy đau nhức, gấp nên cứu Lý, sau thân thể còn đau nhức, đại tiện tự điều hòa, gấp nên cứu Biểu.

ĐIỀU 15

Bệnh có cố tật (bệnh lâu khó trị), lại thêm bệnh mới, nên trị bệnh mới trước, sau trị cố tật.

ĐIỀU 16

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

: Năm tạng bệnh đều có sở đắc (ăn uống, cư xử thích hợp với bệnh) là lành, năm tạng đều có sở ố (chỉ sự ăn uống, cư xử bệnh nhân chán ghét). Mỗi tạng đều tùy chỗ không ưa của nó mà sinh bệnh. Người bệnh vốn không ưa ăn mà trở lại muốn ăn ghê gớm, ăn vào tất phát nhiệt.

THIÊN THỨ HAI

KÍNH THẤP YẾT BỆNH MẠCH CHỨNG TRỊ

MẠCH CHỨNG TRị LIỆU BỆNH KÍNH THẤP VÀ TRÚNG THỬ

ĐIỀU 1

Thái dương bệnh, phát nhiệt, không mồ hôi, trái lại, ghét lạnh, tên gọi là Cương cảnh.

ĐIỀU 2

Thái dương bệnh, phát nhiệt, mồ hôi ra mà không ghét lạnh, tên gọi là Nhu cảnh.

ĐIỀU 3

Thái dương bệnh, phát nhiệt, mạch Trầm mà Tế, tên là Cảnh, khó trị.

ĐIỀU 4

Thái dương bệnh, mồ hôi ra quá nhiều, nhân đó sinh ra bệnh Cảnh.

ĐIỀU 5

Phong bệnh, hạ đi, thời sanh Cảnh, lại ra mồ hôi, tất câu cấp.

ĐIỀU 6

Sang gia (người vốn có ghẻ, mụn) tuy mình đau nhức không thể cho ra mồ hôi, mồ hôi ra thời thành Cảnh.

ĐIỀU 7

Người bệnh, mình nóng, chân lạnh, cổ cứng cấp, sợ lạnh, thỉnh thoảng đầu nóng, mặt đỏ, mắt đỏ, riêng đầu day động, thoạt nhiên cấm khẩu, lưng cong lên là bệnh Cảnh. Nếu phát hạn, hàn thấp hiệp nhau, biểu càng hư, tức sợ lạnh lắm. Phát hãn rồi, mạch cứng.

ĐIỀU 8

Bệnh chợt trướng đầy, là muốn giải, mạch vẫn như cũ, trở lại thêm Phục, Huyền, là biến chứng của bệnh Cảnh.

ĐIỀU 9

Mạch Cảnh án tay vào Khẩn như dây cung, thẳng đờ từ trên xuống.

ĐIỀU 10

Bệnh Cảnh có khi vì cứu trị mụn lở mà sinh ra, khó trị.

ĐIỀU 11

Thái dương bệnh, đủ hết các chứng, mình mẩy cứng, dáng ngọ ngoạy, mạch trái lại, Trầm, Trì. Đó là Cảnh. Quát lâu Quế chi thang chủ về bệnh ấy.

Quát Lâu Quế Chi Thang

Quát lâu căn, Chích thảo đều 2 lạng, Quế chi (bỏ vỏ), Thược dược 3 lạng, Sinh khương đ ều 3 lạng, Đại táo 12 quả.

Sắc với 4 thăng nước, còn 1 thăng, bỏ bã, chia làm 3 lần uống nóng, lấy hơi có mồ hôi, ăn xong 1 chặp, húp cháo nóng cho ra.

ĐIỀU 12

Thái dương bệnh, không mồ hôi, tiểu tiện trở lại ít, khí xung lên hung, cấm khẩu, không nói được, muốn thành Cương cảnh. Cát Căn Thang chủ về bệnh ấy.

CÁT CĂN THANG

Cát căn 4 lượng Ma hoàng 3 lượng (bỏ đốt)

Quế chi 2 lượng (bỏ vỏ) Thược dược 2 lượng

Cam thảo 2 lượng (nướng) Sinh khương 3 lượng (thái)

Đại táo 12 quả (bổ ra)

Dùng 1 đấu nước, trước sắc Ma hoàng, Cát căn, cạn bớt 2 thăng, vớt bỏ bọt, cho 5 vị kia vào sắc lấy 3 thăng, bỏ bã, uống nóng 1 thăng, đắp chăn cho hơi ra mồ hôi, không cần ăn cháo, ngoài ra như phép uống bài Quế chi. Theo các điều và cấm kỵ.

ĐIỀU 13

Bệnh Cảnh, hung đầy, cấm khẩu, nằm không sát giường (chỉ trạng thái lưng uốn cong), cẳng chân co rút tất nghiến răng, có thể dùng Đại thừa khí thang.

ĐẠI THỪA KHÍ THANG

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc lấy 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 14

Thái dương bệnh, quan tiết đau nhức mà phiền, mạch Trầm, Tế, gọi tên là Thấp tý. Chứng hậu của Thấp tý : tiểu tiện không lợi, đại tiện, trái lại dễ, chỉ nên lợi tiểu tiện.

ĐIỀU 15

Thấp gia (người mắc bệnh Thấp kinh niên) khắp mình nhức nhối, phát sốt, mình sắc vàng như hun.

ĐIỀU 16

Thấp gia, người bệnh chỉ mồ hôi ra trên đầu, lưng cứng, muốn được đắp chăn, hướng về phía có lửa. Nếu hạ sớm thời ói, hoặc hung đầy, tiểu tiện không lợi, trên lưỡi như có rêu, vì đơn điền có nhiệt, trên hung có hàn, khát muốn được uống mà không uống được nên miệng táo, phiền.

ĐIỀU 17

Thấp gia, hạ đi, trên trán mồ hôi ra, hơi suyễn, tiểu tiện lợi, chết, nếu hạ lợi không dứt cũng chết.

ĐIỀU 18

Phong, Thấp chọi nhau, khắp mình đau nhức, phép nên cho mồ hôi ra để giải, đang lúc mồ hôi ra không ngớt, y giả nói thế là có thể phát hạn, mồ hôi đi, bệnh không lành là cớ sao ?

- Bởi phát hãn, hãn ra nhiều, chỉ phong đi mà thấp còn lại cho nên không lành. Nếu trị phong, thấp, phát hãn chỉ cho hơi hơi tựa hãn ra, phong, thấp đều đi hết.

ĐIỀU 19

Thấp gia bệnh, mình nhức, phát sốt, mặt vàng mà suyễn, đầu đau, mũi nghẹt mà phiền, mạch Đại, tự ăn uống được, trong bụng hòa, không bệnh, bệnh hàn thấp ở trong đầu cho nên mũi nghẹt, cho thuốc vào trong mũi thì khỏi.

ĐIỀU 20

Thấp gia, mình phiền đông, có thể dùng Ma Hoàng Gia Truật Thang, thấy ra mồ hôi là được. Cẩn thận, không thể dùng hỏa mà công nó.

MA HOÀNG GIA TRUẬT THANG

Ma hoàng 3 lượng (bỏ đốt) Quế chi 2 lượng (bỏ vỏ)

Cam thảo 1 lượng (nướng) Hạnh nhân 70 hạt (bỏ vỏ chóp)

Bạch truật 4 lượng

Dùng 9 thăng nước, trước sắc Ma hoàng cạn bớt 2 thăng, gạt bỏ vỏ, cho các thuốc vào, sắc lấy 2 thăng rưỡi, bỏ bã, uống nóng một hợp , đắp chăn hơi tựa hãn.

ĐIỀU 21

Người bệnh, khắp mình nhức, phát sốt, quá trưa nặng, gọi là phong thấp. Bệnh này do lúc mồ hôi ra mà ra gặp gió, hoặc do tham hóng mát sinh ra, có thể dùng Ma Hoàng Hạnh Nhân Ý Dĩ Cam Thảo Thang.

MA HOÀNG HẠNH NHÂN Ý DĨ CAM THẢO THANG

Ma hoàng nửa lượng (bỏ đốt, rửa nước nóng)

Cam thảo 1 lượng (nướng) Ý dĩ nhân nửa lượng

Hạnh nhân 10 hạt (bỏ vỏ, chóp)

Bốn vị giã nát như mè, mỗi lần dùng 4 đồng tiền xúc, sắc với 1 chén rưỡi nước, còn 8 phân, bỏ bã, uống nóng, hơi ra mồ hôi, tránh gió.

ĐIỀU 22

Phong thấp, mạch Phù, mình nặng, hãn ra, ghét gió, Phòng Kỷ Hoàng Kỳ Thang chủ về bệnh ấy.

PHÒNG KỶ HOÀNG KỲ THANG

Phòng kỷ 1 lượng Cam thảo nửa lượng (sao)

Bạch truật 7 chỉ rưỡi Hoàng kỳ 1 lượng, 1 phân (bỏ đầu)

Xé nhỏ như hạt mè, mỗi lần dùng 5 đồng tiền xúc, Sinh khương 4 lát, Đại táo 1 quả, 2 chén rưỡi nước, sắc còn 8 phân, bỏ bã, uống nóng, chặp lâu lại uống.

Người có bệnh suyễn, thêm Ma hoàng nửa lượng. Trong Vị không hòa, thêm Thược dược 3 phân, khí xung lên, thêm Quế chi 3 phân, hạ tiêu vốn có lạnh, thêm Tế tân 3 phân.

Uống thuốc xong, có cảm giác như trùng bò trong da, từ thắt lưng xuống lạnh như giá, sau ngồi trên chăn, lại lấy chăn quấn thắt lưng trở xuống cho ấm, khiến cho ra ít mồ hôi, bệnh sẽ bớt.

ĐIỀU 23

Thương hàn 8, 9 ngày, phong, thấp chọi nhau, mình mẩy nhức nhối khó chịu, không day trở được, không ói, không khát, mạch Phù, Hư mà Sác, Quế Chi Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy.

Nếu đại tiện cứng, tiểu tiện tự lợi, bỏ Quế thêm Bạch truật chủ về bệnh ấy.

QUẾ CHI PHỤ TỬ THANG PHƯƠNG

Quế chi 4 lượng (bỏ vỏ) Sinh khương 3 lượng (thái)

Cam thảo 2 lượng (nướng) Đại táo 12 quả (bổ ra)

Phụ tử 3 củ (bào, bỏ vỏ, cắt làm 8 miếng)

Dùng 6 thăng nước sắc còn 2 thăng, bỏ bã, uống nóng 3 lần.

BẠCH TRUẬT PHỤ TỬ THANG

Bạch truật 2 lượng Phụ tử 1 củ rưỡi (nướng, bỏ vỏ)

Sinh khương 3 lượng Cam thảo 2 lượng (nướng)

Đại táo 6 quả (bổ ra)

Dùng 3 thăng nước, sắc lấy 1 thăng, bỏ bã, chia 3 lần, uống nóng. Uống 1 lần thấy mình tê, nửa ngày lại uống, uống hết 3 lần, người bệnh cảm thấy đầu nặng nề như có vật gì úp lên, chớ lấy làm lạ, tức là Truật Phụ chạy trong da, trục thủy khí chưa hết cho nên như vậy.

ĐIỀU 24

Phong và thấp chọi nhau, khớp xương nhức nhối khó chịu, đau rút, không co duỗi được, để tay gần đau kịch liệt, ra mồ hôi, hơi thở ngắn, tiểu tiện không lợi, sợ gió, không muốn bỏ áo, hoặc mình hơi sưng, Cam Thảo Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy.

CAMTHẢO PHỤ TỬ THANG

Cam thảo 2 lượng (nướng) Bạch truật 2 lượng

Phụ tử 1 củ (bào, bỏ vỏ) Quế chi 4 lượng (bỏ vỏ)

Sắc với 6 thăng nước còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần. Mới uống, hơi có mồ hôi ra thì giải, mồ hôi ra lại phiền, uống 5 hợp, 1 thăng e nhiều, uống 6, 7 hợp là tốt.

ĐIỀU 25

Thái dương trúng yết, phát sốt, sợ lạnh, mình nóng mà đau nhức, mạch Huyền, Tế, Khổng, Trì, tiểu tiện xong thì rùng mình, nổi da gà, tay chân nghịch lãnh, lao động chút ít thì cơ thể nóng ngay, miệng há, răng khô táo. Nếu dùng phép phát hãn, thì sợ lạnh, thêm ôn châm thì càng sốt hơn, nếu xổ hạ thì sẽ thành chứng lâm.

ĐIỀU 26

Thái dương trúng nhiệt là chứng Yết vậy. Mồ hôi ra, sợ lạnh, mình nóng mà khát, Bạch Hổ Gia Nhân Sâm Thang chủ về bệnh ấy.

BẠCH HỔ GIA NHÂN SÂM THANG

Tri mẫu 6 lượng Cam thảo 2 lượng

Nhân sâm 3 lượng Ngạch mễ 6 hợp

Thạch cao 1 cân (đập nát)

Dùng 1 đấu nước, nấu cho gạo chín là được, bỏ bã uống nóng 1 thăng. Ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 27

Thái dương trúng Yết, mình nóng, nhức nhối, nặng nề, mạch Vi, Nhược, đó là vì tháng mùa Hạ, bị nước lạnh làm tổn thương, nước vào trong da sinh ra như vậy. Nhất vật Qua đế thang chủ về bệnh ấy.

NHẤT VẬT QUA ĐẾ THANG

Qua đế 20 cái

Tước ra, dùng 1 thăng nước, sắc lấy 5 hợp, bỏ bã, uống hết 1 lần.

THIÊN THỨ BA

BIỆN VỀ MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH BÁ HỢP, HỒ HOẶC,

ÂM DƯƠNG ĐỘC

ĐIỀU 1

Luận rằng Bệnh bá hợp 100 mạch 1 dòng, tất sinh ra bệnh, ý muốn ăn lại không ăn được, muốn đi không đi được, ăn uống hoặc có lúc ngon, hoặc có lúc ghét ăn, như lạnh không phải lạnh, như nóng không phải nóng, miệng đắng, tiểu tiện đỏ, các thuốc không trị được, uống thuốc vào thì thổ, lợi dữ tợn, như có thần linh, thân hình như hòa, mạch Vi, Sác.

Mỗi lần đi tiểu, đầu đau, 60 ngày lành, nếu lúc đi tiểu đầu không đau, rờn rợn, 40 ngày lành, nếu tiểu tiện khoan khoái nhưng đầu choáng váng 20 ngày lành.

Chứng này hoặc chưa bệnh mà thấy trước, hoặc bệnh 4, 5 ngày rồi xuất hiện, hoặc 20 ngày, hoặc 1 tháng rồi thấy, đều tùy chứng mà trị.

ĐIỀU 2

Bệnh Bách hợp, sau khi dùng phép phát hãn rồi, dùng bài Bách Hợp Tri Mẫu Thang để trị.

BÁCH HỢP TRI MẪU THANG

Bách hợp 7 quả Tri mẫu 3 lượng (thái)

Dùng nước rửa Bách hợp, ngâm 1 đêm cho ra bọt trắng, bỏ nước đó đi, lại dùng nước suối 2 thăng, sắc còn 1 thăng, bỏ bã. Lấy riêng 2 thăng nước suối sắc Tri mẫu còn 1 thăng, bỏ bã. Hợp cả hai nước thuốc đó lại, sắc còn 1 thăng 5 hợp, chia làm 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 3

Bệnh Bách hợp đã dùng phép hạ rồi, dùng bài Hoạt Thạch Đại Giả Thang để trị.

HOẠT THẠCH ĐẠI GIẢ THANG

Bách hợp 7 quả, Hoạt thạch 3 lượng (đập vụn, bọc vải), Đại giả thạch 1 cục như hòn đạn (đập vụn, bọc vải).

Dùng nước, rửa Bách hợp, ngâm 1 đêm cho ra bọt trắng, bỏ nước đó đi, lại dùng 2 thăng nước suối, sắc còn 1 thăng. Lấy riêng 2 thăng nước suối, sắc Hoạt thạch, Đại giả thạch, lấy 1 thăng, bỏ bã, sau hợp chung sắc còn 1 thăng rưỡi, chia làm hai lần. uống nóng.

ĐIỀU 4

Bệnh Bách hợp, đã dùng phép thổ rồi, dùng Bách Hợp Kê Tử Hoàng Thang để trị.

BÁCH HỢP KÊ TỬ HOÀNG THANG

Bách hợp 7 quả (bổ ra), Kê tử hoàng 1 quả.

Dùng nước rửa Bách hợp, ngâm 1 đêm cho ra bọt trắng, bỏ nước đó đi, lại dùng 2 thăng nước suối sắc còn 1 thăng, bỏ bã, cho Kê tử hoàng vào khuấy đều, sắc còn 5 phân, uống nóng.

ĐIỀU 5

Bệnh Bách hợp, chưa dùng phép Thổ, Hạ, phát hãn, bệnh hình như mới phát, Bách Hợp Địa Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

BÁCH HỢP ĐỊA HOÀNG THANG

Trước hết dùng nước rửa Bách hợp, ngâm 1 đêm cho ra bọt trắng, bỏ nước đó đi, lại dùng nước suối 2 thăng, sắc còn 1 thăng, bỏ bã, cho Địa hoàng trấp vào, sắc còn 1 thăng 5 hợp, chia làm 2 lần, uống nóng. Trúng bệnh, không uống nữa. Đại tiện nên như sơn.

ĐIỀU 6

Bệnh Bách hợp, 1 tháng không giải, biến thành khát, Bách Hợp Tẩy Phương chủ về bệnh ấy.

BÁCH HỢP TẨY PHƯƠNG

Dùng 1 thăng Bách hợp ngâm với 1 đấu nước 1 đêm, dùng để rửa cơ thể, rửa rồi ăn bánh lạt. Kiêng dùng đậu muối (tương).

ĐIỀU 7

Bệnh Bách hợp, khát không bớt, Quát Lâu Mẫu Lệ Tán chủ về bệnh ấy.

QUÁT LÂU MẪU LỆ TÁN

Quát lâu căn, Mẫu lệ, lượng bằng nhau.

Tán bột, uống 1 muỗng, ngày 3 lần.

ĐIỀU 8

Bệnh Bách hợp biến ra phát nhiệt, Bách Hợp Hoạt Thạch Tán chủ về bệnh ấy.

BÁCH HỢP HOẠT THẠCH TÁN

Bách hợp 1 lượng (nướng), Hoạt thạch 2 lượng.

Tán bột, uống 1 muỗng, ngày uống 3 lần, thấy hơi đi tiêu được thì ngưng uống, nhiệt sẽ bị trừ.

ĐIỀU 9

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

, thấy ở Âm, dùng phép Dương để cứu, thấy ở Dương, dùng phép Âm để cứu. Thấy Dương, công Âm mà ra mồ hôi, ấy là nghịch, thấy Âm công Dương mà lại bị đi tiêu, đó cũng là nghịch.

ĐIỀU 10

Bệnh hồ hoặc, giống như thương hàn, nằm im muốn ngủ, mắt không nhắm được, nằm dậy không yên, họng lở loét, đó là chứng Hoặc, ở Tiền âm, Hậu âm là Hồ. Không muốn ăn uống, không thích mùi thực vật, mặt mắt chợt đỏ, chợt đen, chợt trắng, vùng thượng bộ bị lở loét thì bị khan tiếng. Cam Thảo Tả Tâm Thang chủ về bệnh ấy.

CAM THẢO TẢ TÂM THANG

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

4 lượng (nướng), Hoàng cầm, Nhân sâm, Can khương đều 3 lượng, Hoàng liên 1 lượng, Đại táo 12 quả, Bán hạ nửa cân.

Dùng 1 đấu nước sắc còn 6 thăng, bỏ bã, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng. Ngày 3 lần.

ĐIỀU 11

Cắn khoét ở hạ bộ (tiền âm) thì họng khô, dùng Khổ Sâm Thang để rửa.

KHỔ SÂM THANG PHƯƠNG

Khổ sâm 1 thăng, dùng 1 đấu nước sắc còn 7 thăng bỏ bã, xông rửa, ngày 3 lần.

ĐIỀU 12

Giang môn bị lở loét, dùng Hùng hoàng để xông.

Hùng hoàng, tán bột, đốt, xông giang môn.

ĐIỀU 13

Người bệnh mạch Sác, không nóng, hơi phiền, chỉ muốn nằm im, mồ hôi ra, mới mắc bệnh 3, 4 ngày, mắt đỏ như mắt tu hú, 7, 8 ngày, 4 khoé mắt đen, nếu ăn ngủ được, là mủ đã thành. Xích Tiểu Đậu Đương Quy Tán chủ về bệnh ấy.

XÍCH TIỂU ĐẬU ĐƯƠNG QUY TÁN

Xích tiểu đậu 3 thăng (ngâm cho mọc mầm, phơi khô), Đương quy. Hai vị Tán bột, uống 2 muỗng với tương thủy (nấu chín gạo, đổ vào trong nước lạnh, ngâm 5, 6 ngày, chế thành, vị chua, sắc trắng). Ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 14

Dương độc gây bệnh, mặt đỏ loang lổ như vân gấm, họng đau, nôn ra máu mủ, 3 ngày có thể trị, 7 ngày, không thể trị. Thăng Ma Miết Giáp Thang chủ về bệnh ấy.

THĂNG MA MIẾT GIÁP THANG

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

, Cam thảo đều 2 lượng, Đương quy, Thục tiêu (sao, bỏ mồ hôi) đều 1 lượng, Hùng hoàng nửa lượng, Miết giáp 1 miếng to bằng ngón tay (nướng).

Dùng 4 thăng nước, sắc còn 1 thăng, uống hết 1 lần. Một lúc sau lại uống cho ra mồ hôi.

ĐIỀU 15

Âm độc làm nên bệnh, mặt, mắt xanh, mình đau như đánh, yết hầu đau, 5 ngày có thể trị, 7 ngày không thể trị. Thăng Ma Miết Giáp Thang bỏ Hùng hoàng, Thục tiêu chủ về bệnh ấy.

THĂNG MA MIẾT GIÁP KHỨ THỤC TIÊU HÙNG HOÀNG THANG

Thăng ma, Cam thảo đều 2 lượng, Đương quy đều 1 lượng, Miết giáp 1 miếng to bằng ngón tay (nướng).

Dùng 4 thăng nước, sắc còn 1 thăng, uống hết 1 lần. Một lúc sau lại uống cho ra mồ hôi.

THIÊN THỨ TƯ

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH NGƯỢC

ĐIỀU 1

Thầy nói Mạch của chứng ngược (

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

) Huyền. Huyền, Sác là nhiệt nhiều, Huyền, Trì là hàn nhiều. Huyền, Tiểu, Khẩn, dùng phép hạ (xổ) đi sẽ bớt. Mạch Huyền, Trì có thể dùng phép ôn. Huyền Khẩn có thể dùng phép phát hãn, châm cứu. Mạch Phù, Đại có thể dùng phép thổ. Mạch Huyền Sác là cảm phải phong tà phát ra. Dùng phương pháp ăn uống và nghỉ ngơi sẽ khỏi.

ĐIỀU 2

Bệnh Ngược, mỗi tháng phát 1 lần, 15 ngày lành, giả sử không lành, 1 tháng lành hẳn, nếu không bớt là thế nào ?

Thầy nói Đó là kết thành Trừng, Hà, tên gọi Ngược mẫu, nên trị gấp, nên dùng Miết Giáp Tiễn Hoàn.

MIẾT GIÁP TIỄN HOÀN

Miết giáp (nướng) nửa phân, Ô phiến 2 phân (đốt), Hoàng cầm, Thử phụ (rang khô), Can khương, Đại hoàng, Quế chi, Hậu phác, Thạch vi (bỏ lông), Tứ uyển, A giao (nướng), đều 3 phân, Sài hồ, Khương lang (sao) đều 6 phân, Thược dược, Giátrùng (sao), Mẫu đơn (bỏ lõi) đều 5 phân, Phong oa (nướng) 4 phân, Đinh lịch (sao khô), Nhân sâm, Bán hạ, Xích tiêu đều 1 phân Cù mạch, Đào nhân đều 2 phân.

23 vị, Tán bột, dùng 1 đấu tro bếp, Thanh tửu 1 hộc 5 đấu, tẩm tro, đợi rượu còn 1 nửa, cho Miết giáp vào trong, sắc đặc như keo sơn, ép lấy nước, cho thuốc vào, làm thành hoàn to bằng hạt Ngô đồng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 7 hoàn lúc đói.

ĐIỀU 3

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Âm khí cô tuyệt (1 mình âm khí tuyệt), Dương khí độc phát (một mình Dương khí phát) thì nóng mà ít khí, phiền oan (có cảm giác buồn, bực, không thư sướng), tay chân nóng mà muốn ói, tên gọi là Đơn ngược. Nếu chỉ nóng, không lạnh là tà khí trong chứa ở Tâm, ngoài chứa ở khoảng cơ nhục khiến cho người bệnh gầy ố, thoát nhục.

ĐIỀU 4

Người mắc bệnh Ôn ngược, mạch hòa bình, mình không lạnh, chỉ nóng, khớp xương đau nhức, khó chịu, thường nôn, Bạch Hổ Gia Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy.

BẠCH HỔ GIA QUẾ CHI THANG

Tri mẫu 6 lượng, Cam thảo 2 lượng (nướng), Thạch cao 1 cân, Ngạch mễ 2 hợp, Quế chi 3 lượng (bỏ vỏ).

Tước nhỏ, mỗi lần dùng 5 chỉ, sắc với 1 chén rưỡi nước, còn 8 phân, bỏ bã, uống nóng, ra mồ hôi thì khỏi bệnh.

ĐIỀU 5

Ngược, mà lạnh nhiều, gọi là Tẩn ngược, Thục Tất Tán chủ về bệnh ấy.

THỤC TẤT TÁN

Thục tất (rửa bỏ mùi tanh), Long cốt, Vân mẫu (đốt 2 ngày đêm). Lượng bằng nhau

Tán bột, trước khi phát, dùng Tương thủy uống 5 phân.

Ôn ngược, thêm Thục tất nửa phân, lúc phát, uống 1 đồng tiền xúc.

PHỤ PHƯƠNG

( Theo sách Ngoại Đài Bí Yếu)

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Mẫu lệ (nung), Ma hoàng (bỏ mắt) đều 4 lượng, Thục tất 3 lượng, Cam thảo 2 lượng.

Dùng 8 thăng nước, sắc Thục tất trước , Ma hoàng, gạt bỏ bọt, lấy 5 thăng, cho các thuốc vào, sắc còn 2 thăng, uống nóng 1 thăng, nếu thổ, đừng uống nữa.

SÀI HỒ KHỨ BÁN HẠ GIA QUÁT LÂU CĂN THANG

(Trị bệnh Ngược phát khát, cũng trị Lao ngược)

Sài hồ 8 lượng, Nhân sâm, Hoàng cầm, Cam thảo đều 3 lượng, Quát lâu căn, Sinh khương đều 2 lượng, Đại táo 12 quả (bổ).

Dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc còn 6 thăng, bỏ bã, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày 2 lần.

SÀI HỒ QUẾ KHƯƠNG THANG

Trị Ngược, hàn nhiều, hơi có nhiệt, hoặc chỉ hàn không nhiệt.

Sài hồ nửa cân, Quế chi (bỏ vỏ), Mẫu lệ (nung), Hoàng cầm đều 3 lượng, Can khương, Chích thảo đều 2 lượng, Quát lâu căn 4 lượng.

Sắc với1 đấu, 2 thăng nước còn 6 thăng, bỏ bã, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng. Ngày 3 lần.

Mới uống có thể thấy hơi phiền, uống lần nữa, mồ hôi ra là khỏi bệnh.

THIÊN THỨ SÁU

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH HUYẾT TÝ HƯ LAO

ĐIỀU 1

Hỏi Bệnh huyết tý do đâu mà có ?

Thầy nói Người sang trọng, xương yếu, cơ nhục và bì thịnh, nhân lúc mỏi mệt, nhọc nhằn, mồ hôi ra, khi ngủ bất thình lình trăn trở, bị thêm cơn gió nhẹ thổi qua mới bị bệnh này. Nhưng vì mạch Vi, Sáp ở Thốn Khẩu, tại bộ Quan mạch Tiểu, Khẩn. Nên châm dẫn dương khí, làm cho mạch hòa, không còn mạch Khẩn nữa thì khỏi.

ĐIỀU 2

Huyết tý, mạch Âm, Dương đều Vi, Thốn khẩu, bộ Quan mạch Vi, trong bộ Xích mạch Tiểu, Khẩn. Chứng ngoài thân thể bất nhân (tê dại) giống như phong tý. Hoàng Kỳ Quế Chi Ngũ Vật Thang chủ về bệnh ấy.

HOÀNG KỲ QUẾ CHI NGŨ VẬT THANG

Hoàng kỳ 3 lượng Thược dược 3 lượng

Quế chi 3 lượng Sinh khương 6 lượng

Đại táo 12 quả

Sắc với 6 thăng nước, còn 2 thăng, uống nóng 7 hợp. Ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 3

Người con trai bình thường, mạch Đại và Lao, cực hư cũng là Lao.

ĐIỀU 4

Con trai, sắc mặt trắng nhạt, không thần, chủ về khát và vong huyết. Đột nhiên suyễn và hồi hộp lo sợ, mạch Phù, đó là Lý hư vậy.

ĐIỀU 5

Con trai, mạch Hư, Trầm, Huyền, không nóng, lạnh, hơi thở ngắn, lý cấp, tiểu không thông, sắc mặt trắng, thỉnh thoảng bị hoa mắt, chảy máu cam, bụng dưới đầy, đó là do Lao gây nên.

ĐIỀU 6

Bệnh Lao, mạch Phù, Đại, tay chân phiền (bứt rứt khó chịu), mùa xuân, hạ nặng hơn, mùa thu đông bệnhgiảm, âm hàn (dương vật lạnh), tinh tự ra, chân đau buốt, gầy mòn không đi được.

ĐIỀU 7

Con trai, mạch Phù, Nhược mà Sáp, là không con, tinh lỏng và lạnh.

ĐIỀU 8

Người bị mất tinh, bụng dưới đau dữ, đầu dương vật lạnh, mắt hoa, tóc rụng, mạch Khổng, Trì, cực hư, sẽ bị tiêu ra sống phân, vong huyết, thất tinh. Các mạch Khổng, Động, Vi, Khẩn, ở nam giới là mất tinh, ở phụ nữ là mộng giao, Quế Chi Long Cốt Mẫu Lệ Thang chủ về bệnh ấy.

Sách ‘Tiểu Phẩm’ viết: người hư nhiệt, có phù nhiệt, ra mồ hôi, bỏ Quế thêm Bạch vi, Phụ tử đều 3 phân. Gọi là Nhị Gia Long Cốt Thang.

QUẾ CHI LONG CỐT MẫU LỆ THANG

Quế chi, Sinh khương, Mẫu lệ, Thược dược, Cam thảo, Long cốt đều 3 lượng, Đại táo 12 trái.

Sắc với 7 thăng nước còn 3 thăng, chia làm 3 lần, uống ấm.

NHỊ GIA LONG CỐT THANG

Quế chi 3 lượng Thược dược 3 lượng

Sinh khương 3 lượng Cam thảo 3 lượng

Đại táo 12 quả Long cốt 3 lượng

Mẫu lệ 3 lượng

Sắc với 7 thăng nước còn 3 thăng, uống nóng 3 lần.

THIÊN HÙNG TÁN

Thiên hùng 3 lượng (bào) Bạch truật 8 lượng

Quế chi 6 lượng Long cốt 3 lượng

Tán bột, mỗi lần dùng nửa đồng tiền xúc, ngày 3 lần, uống với rượu. Nếu không bớt, uống tăng lên chút ít.

Xét phương này không nói về chứng chủ trị. Cứ theo Phương Dược Khảo nói Đây là phương bổ dương nhiếp âm, trị con trai mất tinh, thắt lưng, đầu gối lạnh.

ĐIỀU 9

Con trai bình thường, mạch Vi, Nhược, Tế, Vi thì hay ra mồ hôi trộm.

ĐIỀU 10

Người 50, 60 tuổi, mắc bệnh, mạch Đại, 2 bên xương sống có cảm giác tê dại, nếu ruột sôi, chứng mã đao và chứng Anh đều do Lao sinh ra.

ĐIỀU 11

Mạch Trầm, Tiểu, Trì, gọi là thoát khí, người bệnh đi nhanh thì khí suyễn, tay chân nghịch lạh, bụng đầy, nặng ơn thì đại tiện lỏng, ăn không tiêu.

ĐIỀU 12

Mạch Huyền mà Đại. Huyền là giảm, Đại là Khổng (Khâu). Giảm thì hàn, Khổng là hư. Hư, hàn chọi nhau, đó gọi là chứng Cách, đàn bà thì bán sản (đẻ non), lậu hạ, con trai thì vong huyết, thất tinh.

ĐIỀU 13

Hư lao, bụng đau quặn, tim hồi hộp, chảy máu cam, trong bụng đau, mộng thất tinh, tay chân nhức buốt, phiền nhiệt, họng khô, miệng ráo, Tiểu Kiến Trung Thang chủ về bệnh ấy.

TIỂU KIẾN TRUNG THANG

Quế chi 3 lượng (bỏ vỏ) Cam thảo 1 lượng (nướng)

Đại táo 12 quả Thược dược 6 lượng

Sinh khương 3 lượng Giao di 1 thăng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, cho Giao di vào, lại sắc nhỏ lửa cho tan ra, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

Ẩu gia (người hay ói) không thể dùng Kiến trung thang, vì nó ngọt.

Theo sách ‘Thiên Kim’: Trị con trai, con gái nhân chứa lạnh, khí trệ, hoặc sau khi bệnh nặng không trở lại bình thường, tay chân nặng nề, cốt nhục đau buốt, thở ít khí, hành động thì khí suyễn, hung đầy khí cấp, thắt lưng, lưng đau cứng, trong Tâm hư qúy, họng khô, môi ráo, mặt ít sắc, hoặc ăn uống không biết mùi, hông, bụng trướng, đầu nặng, không ngước lên được, phần nhiều nằm ít dậy, quá lắm thì cả năm, nhẹ thì 100 ngày, dẫn đến gầy yếu, khí 5 tạng kiệt, thì khó trở lại bình thường, 6 mạch đều không đủ sức, hư hàn, thiếu khí, thiếu phúc câu cấp, xương sống gầy guộc, 100 bệnh sinh ra, dùng Hoàng Kỳ Kiến Trung Thang, lại có Nhân sâm 2 lượng.

ĐIỀU 14

Hư lao, bụng đau quặn, các chứng bất túc. Hoàng Kỳ Kiến Trung Thang chủ về bệnh ấy.

HOÀNG KỲ KIẾN TRUNG THANG

Tức Tiểu Kiến Trung Thang thêm Hoàng kỳ 1 lượng rưỡi. Ngoài ra, theo phép của Tiểu Kiến Trung.

Thở ngắn, ngực đầy thêm Sinh khương Bụng đầy, bỏ Táo thêm Phục linh 1 lượng rưỡi. Và trị Phế hư tổn, không đủ, bổ khí, thêm Bán hạ 3 lượng.

ĐIỀU 15

Hư lao, thắt lưng đau, bụng dưới đau thắt, tiểu không thông. Bát Vị Thận Khí Hoàn chủ về bệnh ấy.

BÁT VỊ THẬN KHÍ HOÀN

Càn địa hoàng 8 lượng Sơn dược 4 lượng

Sơn thù du 4 lượng Trạch tả 3 lượng

Đơn bì 3 lượng Phục linh 3 lượng

Quế chi 1 lượng Phụ tử (bào) 1 lượng

Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt Ngô đồng, uống với rượu 15 hoàn, thêm lần đến 20 hoàn. Ngày uống 2 lần.

ĐIỀU 16

Hư lao, âm dương đều không đủ, phong khí bách bệnh, Thự Dự Hoàn chủ về bệnh ấy.

THỰ DỰ HOÀN

Thự dự 3 chỉ Đương quy 1 chỉ

Quế chi 1 chỉ Thần khúc 1 chỉ

Càn địa hoàng 1 chỉ Đậu hoàng quyển 1 chỉ

Cam thảo 2 chỉ rưỡi Nhân sâm 7 phân

Khung cung 6 phân Thược dược 6 phân

Bạch truật 6 phân Mạch môn đông 6 phân

Hạnh nhân 6 phân Sài hồ 5 phân

Cát cánh 5 phân Phục linh 5 phân

A giao 7 phân Can khương 3 phân

Bạch liễm 2 phân Phòng phong 6 phân

Đại táo 100 quả (làm cao)

Tán bột, luyện mật làm hoàn như hòn đạn lớn, uống bụng đói với rượu 1 hoàn, 100 hoàn làm 1 tễ.

ĐIỀU 17

Hư lao, hư phiền không ngủ được. Toan Táo Nhân Thang chủ về bệnh ấy.

TOAN TÁO NHÂN THANG

Toan táo nhân 2 thăng Cam thảo 1 lượng

Tri mẫu 2 lượng Phục linh 2 lượng

Khung cung 2 lượng

Dùng 8 thăng nước sắc Toan táo nhân lấy 6 thăng, cho các thuốc vào, sắc còn 3 thăng, uống nóng 3 lần.

ĐIỀU 18

Ngũ lao hư quá mức, gầy còm, bụng đầy, không ăn uống được, thương thực, ưu thương, ẩm thương, phòng thất thương, cơ thương, kinh lạc, vinh vệ khí thương, bên trong có huyết khô, da thịt tiêu gầy, 2 mắt đen sẫm. chữa trị phải dùng phép hoãn trung, bổ hư, Đại Hoàng Giá Trùng Hoàn chủ về bệnh ấy.

ĐẠI HOÀNG GIÁ TRÙNG HOÀN

Đại hoàng 1 chỉ (chưng) Hoàng cầm 2 lượng

Cam thảo 3 lượng Đào nhân 1 thăng

Hạnh nhân 1 thăng Thược dược 4 lượng

Càn tất 1 lượng Manh trùng 1 thăng

Thúy điệt 100 con Tề tào 1 thăng

Giá trùng nửa thăng

Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt Tiểu đậu, uống với rượu 5 hoàn. Ngày uống 3 lần.

PHỤ PHƯƠNG

CHÍCH CAM THẢO THANG(Thiên Kim Dực)

Trị hư lao bất túc, hãn ra mà buồn bực, mạch Kết, hồi hộp, hành động như thường, không sống quá 100 ngày nguy cấp, 11 ngày chết.

Cam thảo 4 lượng (nướng) Quế chi 3 lượng

Sinh khương 3 lượng Mạch môn nửa thăng

Ma nhân nửa thăng Nhân sâm 2 lượng

A giao 2 lượng Đại táo 30 quả

Sinh địa hoàng 1 thăng

Dùng 7 thăng rượu, nước 8 thăng, trước sắc 8 vị, lấy 3 thăng, bỏ ba, cho A giao vào tiêu hết, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

THÁT CAN TÁN(Trửu Hậu Phương)

Trị lãnh lao, cũng chủ trị quỉ chú truyền nhiễm.

Lại can (gan rái cá) 1 bộ

Nướng khô, Tán bột, uống 1 muỗng với nước. Ngày uống 3 lần.

THIÊN THỨ BẢY

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH PHẾ NUY,

PHẾ UNG, KHÁI THẤU, THƯỢNG KHÍ

ĐIỀU 1

Hỏi Nhiệt ở thượng tiêu, nhân ho, thành Phế nuy. Bệnh Phế nuy, do đâu mà có ?

Thầy nói Hoặc do hãn ra, hoặc do ói mửa, hoặc do tiêu khát, tiểu tiện lợi, đi luôn, hoặc do đại tiện khó, lại bị hạ lợi quá nhiều trùng vong tân dịch (tân dịch mất nhiều lần), cho nên mắc phải.

Hỏi Thốn khẩu mạch Sác, người bệnh ho, trong miệng lại có nước dãi, nước bọt đục, là cớ sao ?

Thầy nói Là bệnh Phế nuy. Nếu trong miệng ráo, lúc ho trong bụng đau ngăm ngăm, mạch trở lại Hoạt, Sác, đó là Phế ung, ho, nhổ ra máu, mủ.

Mạch Sác, Hư, là Phế nuy, Sác, Thực là Phế Ung.

ĐIỀU 2

Hỏi Bệnh Khái nghịch, chẩn mạch, sao biết đó là Phế ung ? Đang có máu mủ, thổ đi thì chết, là mạch tượng gì ?

Thầy nói Thốn khẩu mạch Vi, Vi thì là Phong, Sác thì là nhiệt. Vi thì là hãn ra, Sác thì sợ lạnh. Phong vào vệ, thì thở ra được, hít vào không được, nhiệt quá ở vinh hít vào được nhưng hơi thở không ra được. Phong thương bì mao, nhiệt thương huyết mạch. Phong lưu lại Phế, người bệnh ho, miệng khô, suyễn đầy, họng ráo, không khát, nhổ ra nhiều đàm đặc, thường thường lạnh run. Nóng quá, huyết ngưng trệ, chứa kết lại thành mủ, thổ như cháo gạo. Giai đoạn đầu có thể cứu, mủ thành thì chết.

ĐIỀU 3

Khí đưa lên, mặt phù thũng, thở rút vai, mạch Phù, Đại, bất trị, nếu bị tiêu chảy thì bệnh càng nặng.

ĐIỀU 4

Khí đưa lên, suyễn mà táo, thuộc Phế trướng, muốn thành chứng phong thủy, dùng phép phát hãn thì bệnh khỏi.

ĐIỀU 5

Phế nuy, thổ bọt dãi mà không ho, người bệnh không khát, thì phải són đái, tiểu nhiều lần, sở dĩ như vậy vì thượng tiêu (khí) hư không thể chế được (âm thủy ở) hạ tiêu. Đó là trong Phế có hàn, thì sẽ bị choáng váng, nhiều bọt dãi. Dùng Cam Thảo Can Khương Thang để ôn đi. Nếu uống thuốc vào mà thấy khát thì bệnh thuộc chứng Tiêu khát.

CAMTHẢO CAN CƯƠNG THANG

Cam thảo 4 lượng (nướng) Can khương 2 lượng (bào)

Xé nhỏ, dùng 3 thăng nước, sắc còn 1 thăng, 5 hợp , bỏ bã, uống nóng 2 lần.

ĐIỀU 6

Ho mà khí đưa lên, trong họng có tiếng rít như con gà, Xạ Can Ma Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

XẠ CAN MA HOÀNG THANG

Xạ can 3 lượng Ma hoàng 4 lượng

Sinh khương 4 lượng Tế tân 3 lượng

Tử uyển 3 lượng Khoản đông hoa 3 lượng

Đại táo 7 quả Bán hạ 8 củ (củ lớn, rửa)

Ngũ vị tử nửa thăng

Dùng 1 đấu 2 thăng nước, trước sắc Ma hoàng cho sôi 2 dạo, vớt bỏ bọt, cho các thuốc vào, sắc còn 3 thăng. Uống nóng 3 lần.

ĐIỀU 7

Ho nghịch, khí đưa lên, thường thường thổ đàm đặc, chỉ ngồi, không ngủ được. Tạo Giáp Hoàn chủ về bệnh ấy.

Tạo Giáp Hoàn

Tạo giác 8 lượng, cạo bỏ vỏ, nướng. tán bột, luyện với mật làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 3 viên với nước sắc Đại táo, ngày 3 lần, đêm 1 lần.

ĐIỀU 8

Ho (khái) mà mạch Phù, Hậu Phác Ma Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

HẬU PHÁC MA HOÀNG THANG

Hậu phác 5 lượng Ma hoàng 4 lượng

Thạch cao (to bằng quả trứng gà) Hạnh nhân nửa thăng

Bán hạ nửa thăng Can khương 2 lượng

Tế tân 2 lượng Tiểu thạch 1 thăng

Ngũ vị tử nửa thăng

Dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc với Tiểu mạch cho chín, bỏ bã, cho các thuốc kia vào sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày 3 lần.

ĐIỀU 9

(Ho mà) mạch Trầm, Trạch Tất Thang, chủ về bệnh ấy.

TRẠCH TẤT THANG

Bán hạ nửa thăng Tử sâm 5 lượng

Trạch tất 3 cân (dùng nước chảy về Đông 3 đấu sắc còn 1 đấu 5 thăng)

Sinh khương 5 lượng Bạch tiền 5 lượng

Cam thảo 3 lượng Hoàng cầm 3 lượng

Nhân sâm 3 lượng Quế chi 3 lượng

Tước nhỏ, cho vào nước Thục tất, sắc còn 5 thăng, uống nóng 5 hợp , đến đêm, hết.

ĐIỀU 10

Hỏa nghịch, khí đưa lên, yết hầu không thông, phải dùng phép cầm (giáng) nghịch, hạ khí, Mạch Đông Thang chủ về bệnh ấy.

MẠCH MÔN ĐÔNG THANG

Mạch môn đông 7 thăng Bán hạ 1 thăng

Nhân sâm 3 lượng Cam thảo 2 lượng

Ngạch mễ 3 hợp Đại táo 12 quả

Dùng 1 đấu, 2 thăng nước, sắc còn 6 thăng, ngày uống 3 lần, đêm uống 1 lần.

ĐIỀU 11

Phế ung, Suyễn không nằm được, Đình Lịch Đại Táo Tả Phế Thang chủ về bệnh ấy.

ĐÌNH LỊCH ĐẠI TÁO TẢ PHẾ THANG

Đình lịch (rang có màu vàng, làm hoàn như viên đạn)

Đại táo 12 quả

Dùng 3 thăng nước, sắc Táo lấy 2 thăng, bỏ Táo, cho Đình lịch vào, sắc còn 1 thăng, uống hết 1 lần.

ĐIỀU 12

Ho mà ngực đầy, lạnh run, mạch Sác, họng khô ,không khát, thỉnh thoảng thổ ra đờm, mủ hôi tanh, lâu lâu thổ ra mủ như cháo , đó là chứng Phế ung. Cát Cánh Thang chủ về bệnh ấy.

CÁT CÁNH THANG

Cát cánh 1 lượng Cam thảo 2 lượng

Dùng 3 thăng nước, sắc còn 1 thăng, uống nóng 2 lần, thổ ra mủ.

ĐIỀU 13

Ho mà khí đưa lên, đó là chứng Phế trướng, người bệnh khó thở, mắt như lồi ra, mạch Phù, Đại. Việt Tỳ Gia Bán Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

VIỆT TỲ GIA BÁN HẠ THANG

Ma hoàng 6 lượng Thạch cao nửa cân

Sinh khương 3 lượng Đại táo 15 quả

Cam thảo 2 lượng Bán hạ nửa cân

Dùng 6 thăng nước, trước sắc Ma hoàng, gạt bỏ bọt, cho các thuốc vào, sắc còn 3 thăng, chia 3, uống nóng.

ĐIỀU 14

Phế trướng, ho mà khí đưa lên, phiền táo mà suyễn, mạch Phù, đó là dưới Tâm có thuiỷ khí. Dùng Tiểu Thanh Long Gia Thạch Cao Thang để trị.

Tiểu Thanh Long Gia Thạch Cao Thang

Ma hoàng, Quế chi, Tế tân, Thược dược, Cam thảo, Can khương đều 3 lượng, Thạch cao 2 lượng, Ngũ vị tử, Bán hạ đều ½ thăng.

Sắc Ma hoàng trước với 1 đấu nước, vớt bỏ bọt, rồi cho các vị thuốc kia vào, sắc còn 3 thăng. Người khoẻ uống 1 thăng, người yếu uống ½ liều, trẻ nhỏ uống 4 cáp, ngày 3 lần.

ĐIỀU 15

Phế ung, ngực đầy trướng, khắp mình, mặt, mắt phù thũng, mũi ngặt, nước mũi trong chảy, không biết thơm thối, chua, cay, ho nghịch, khí lên, suyễn lên khò khè, Đình Lịch Đại Táo Tả Phế Thang chủ về bệnh ấy.

ĐÌNH LỊCH ĐẠI TÁO TẢ PHẾ THANG

Đình lịch, nướng vàng, nghiền nát, làm thành viên, to bằng viên đạn. đại táo 12 trái.

Lấy 3 thăng nước sắc Táo, còn 2 thăng, bỏ bã, cho Đình lịch vào nấu còn 1 thăng, uống hết 1 lần.

PHỤ PHƯƠNG

+ Chích Cam Thảo Thang (Ngoại Đài Bí Yếu). Trị Phế nuy, đàm dãi nhiều, trong Tâm phiền, khó chịu (xem thiên Hư lao).

+ Cam Thảo Thang (Thiên Kim): Cam thảo, dùng 3 thăng nước, sắc giảm 1 nửa. Phân uống nóng 3 lần.

+ Sinh Khương Cam Thảo Thang (Thiên Kim): Trị Phế nuy, ho thổ ra bọt dãi không ngớt, họng ráo mà khát.

Sinh khương 5 lượng, Nhân sâm 3 lượng, Cam thảo 4 lượng, Đại táo 15 quả. Dùng 7 thăng nước, sắc còn 3 thăng, chia 3 lần, uống nóng.

+ Quế Chi Khử Thược Dược Gia Tạo Giáp Thang (Thiên Kim): Trị Phế nuy thổ ra bọt dãi. Quế chi, Sinh khương đều 3 lượng, Cam thảo 2 lượng, Đại táo 10 quả, Tạo giáp 1 quả (bỏ vỏ, nướng sém). Dùng 7 thăng nước, sắc lửa nhỏ, lấy 3 thăng, uống nóng 3 lần.

+ Cát Cánh Bạch Vi Tán (Ngoại Đài): Trị ho mà ngực đầy, lạnh run, mạch Sác, họng khô, không khát, thường ra bọt dãi tanh hôi, lâu lâu thổ ra mủ như cháo gạo, là Phế nuy.

Cát cánh, Bối mẫu đều 3 phân, Bã đậu 1 phân (bỏ vỏ, rang, nghiền nát như bùn). Tán bột, người mạnh uống 1 đồng tiền xúc, người yếu giảm bớt. Bệnh ở trên cách, thổ ra mủ, ở dưới cách, tả ra, nếu hạ nhiều không dứt, uống 1 chén nước lạnh, dứt.

+ Vi Hành Thang (Thiên Kim): Trị ho, có hơi nhiệt, phiền đầy, trong hung ngầy ngật khó chịu, là tà thấp, nhiệt kết ở Phế, thành Phế ung.

Vi hành 2 thăng, Ý dĩ nhân nửa thăng, Đào nhân 50 hạt, Qua biện nửa thăng. Dùng 1 đấu nước, trước sắc Vi hành, lấy 5 thăng, bỏ bã, cho các thuốc vào, sắc còn 2 thăng, uống 1 thăng, lại uống, thổ ra như mủ.

THIÊN THỨ CHÍN

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH HUNG TÝ,

TÂM THỐNG, ĐOẢN KHÍ

ĐIỀU 1

Thầy nói: Khi xem mạch phải coi sự thái quá, bất cập. Mạch dương mà Vi, mạch âm mà Huyền, đó là chứng ngực tê đau. Sở dĩ như thế vì người đó cực hư vậy. Nay mạch dương hư thì biết đó là bệnh ở thượng tiêu, cho nên ngực tê, Tâm thống vì mạch âm Huyền vậy.

ĐIỀU 2

Người bình thường, không nóng lạnh, hơi ngắn không đủ thở, là bệnh thực.

ĐIỀU 3

Bệnh hung tý, suyễn tức, khái, thóa, ngực và lưng đau, hơi thở ngắn, thốn khẩu mạch Trầm mà Trì, bộ quan mạch Tiểu, Khẩn, Sác. Quát Lâu Giới Bạch Bạch Tửu Thang chủ về bệnh ấy.

QUÁT LÂU GIỚI BẠCH BẠCH TỬU THANG

Quát lâu thực 1 củ (giã nát), Giới bạch nửa thăng, Bạch tửu 7 thăng.

Cùng sắc còn 2 thăng, chia 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 4

Hung tý, không nằm được, Tim đau lan đến lưng, Quát Lâu Giới Bạch Bán Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

QUÁT LÂU GIỚI BẠCH BÁN HẠ THANG

Quát lâu thực 1 củ (giã nát) Giới bạch 3 lượng

Bán hạ nửa thăng Bạch tửu 1 đấu

Cùng sắc còn 4 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 5

Hung tý, trong Tâm có bĩ khí, khí kết ở ngực, ngực đầy, khí từ dưới sườn đưa lên làm tổn thương tâm, Chỉ Thực Giới Bạch Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy. Nhân Sâm Thang cũng chủ về bệnh ấy.

CHỈ THỰC GIỚI BẠCH QUẾ CHI THANG

Chỉ thực 4 quả Hậu phác 4 lượng

Giới bạch nửa thăng Bạch truật 3 lượng

Quát lâu thực 1 quả (giã nát)

Dùng 5 thăng nước, trước sắc Chỉ thực, Hậu phác, lấy 2 thăng, bỏ bã, cho các thuốc vào, sắc sôi vài dạo, chia 3 lần uống nóng.

NHÂN SÂM THANG

Nhân sâm 3 lượng Cam thảo 3 lượng

Can khương 3 lượng Bạch truật 3 lượng

8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 6

Hung tý, khí trong ngực bị nghẽn, hơi thở ngắn, Phục Linh Hạnh Nhân Cam Thảo Thang chủ về bệnh ấy. Quất Chỉ Khương Thang cũng chủ về bệnh ấy.

PHỤC LINH HẠNH NHÂN CAM THẢO THANG

Phục linh 3 lượng Hạnh nhân 50 hạt

Cam thảo 1 lượng

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 5 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần, không bớt, lại uống.

QUẤT CHỈ KHƯƠNG THANG

Quất bì 1 cân Chỉ thực 3 lượng

Sinh khương nửa cân

Dùng 5 thăng nước, sắc còn 2 thăng, uống nóng 2 lần.

ĐIỀU 7

Hung tý có hoãn có cấp (lúc đau lúc đỡ), Ý Dĩ Phụ Tử Tán chủ về bệnh ấy.

Ý DĨ PHỤ TỬ TÁN

Ý dĩ nhân 15 lượng Đại phụ tử 10 củ (bào)

Tán bột, mỗi lần uống 1 muỗng, ngày 3 lần.

ĐIỀU 8

Trong Tâm bị chứng bỉ, khí nghịch, tim đau như treo, Quế Chi Sinh Khương Chỉ Thực Thang chủ về bệnh ấy.

QUẾ CHI SINH KHƯƠNG CHỈ THỰC THANG

Quế chi 3 lượng Sinh khương 3 lượng

Chỉ thực 5 quả

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 3 thăng, uống nóng 3 lần.

ĐIỀU 9

Tim đau suốt đến lưng, lưng đau suốt đến Tim, Ô Đầu Xích Thạch Chi Hoàn chủ về bệnh ấy.

Ô ĐẦU XÍCH THẠCH CHI HOÀN

Thục tiêu 1 lượng Ô đầu (bào) 1 phân

Phụ tử (bào) nửa lượng Can khương 1 lượng

Xích thạch chi 1 lượng

Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt Ngô đồng, trước khi ăn, uống 1 hoàn, ngày 3 lần, uống tăng lên chút ít.

PHỤ PHƯƠNG

CỬU THỐNG HOÀN Trị chín loại Tâm thống

Phụ tử 3 lượng (bào) Sinh lang nha 1 lượng (nướng)

Nhân sâm 1 lượng Can khương 1 lượng

Ngô thù du 1 lượng

Bã đậu 1 lượng (bỏ vỏ, tim, rang, nghiền nát như mỡ)

Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt Ngô đồng, uống với rượu. Người mạnh ban đầu uống 3 hoàn, ngày 3 lần, người yếu, 2 hoàn. Kiêm trị thoạt trúng ác, bụng trướng đau, miệng không nói được, lại trị tích lãnh lâu năm, Lưu chú tâm thống, và khí lạnh xung lên, rơi ngựa, té xe, huyết tật, đều dùng làm chủ. Kỵ ăn như phép thường.

 

THIÊN THỨ MƯỜI

MẠCH CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỤNG ĐẦY, HÀN SÁN, TÚC THỰC

ĐIỀU 1

Trật dương, mạch Vi, Huyền, đáng lẽ bụng phải đầy, nếu không đầy, đại tiện khó, 2 bên sườn đau nhức, đó là hư hàn từ dưới đưa lên, nên dùng ôn dược mà trị.

ĐIỀU 2

Người bệnh bụng đầy, đè tay vào không đau là hư, có đau là thực, có thể dùng phép. Khi chưa dùng phép hạ thì lưỡi vàng, dùng phép hạ rồi thì mầu vàng tự hết.

ĐIỀU 3

Bụng đầy, có lúc giảm, rồi lại bị như cũ, đó là do hàn, nên dùng ôn dược để trị.

ĐIỀU 4

Người bệnh Nuy hoàng (sắc khô vàng, ảm đạm, không có thần), táo mà không khát. Trong ngực hàn thực, mà tiêu chảy không ngừng thì chết.

ĐIỀU 5

Thốn khẩu mạch Huyền, thì dưới sườn đau rút, người bệnh rờn rợn sợ lạnh.

ĐIỀU 6

Người bên trong có hàn thì hay ngáp, nước mũi trong chảy ra, phát sốt, sắc mặt bình thường thì hay hắt hơi.

ĐIỀU 7

Trúng hàn, người bệnh đi tiêu chảy, vì phần lý bị hư, muốn hắt hơi không được, đó là Vị có hàn.

ĐIỀU 8

Người gầy ốm, chung quanh rốn đau, tất có phong lạnh, cốc khí không tiêu hóa, mà lại dùng phép hạ thì khí sẽ xung lên, nếu không xung lên thì dưới Tâm có chứng bĩ.

ĐIỀU 9

Bụng đầy, phát sốt 10 ngày, mạch Phù mà Sác, ăn uống như thường. Hậu Phác Thất Vật Thang chủ về bệnh ấy.

HẬU PHÁC THẤT VẬT THANG

Hậu phác nửa cân Cam thảo 3 lượng

Đại hoàng 3 lượng Đại táo 10 quả

Chỉ thực 5 quả Quế chi 2 lượng

Sinh khương 5 lượng

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 4 thăng, uống nóng 8 hợp, ngày 3 lần.

Nôn mửa thêm Bán hạ 5 hợp. Hạ lợi, bỏ Đại hoàng. Lạnh nhiều thêm Sinh khương nửa cân.

ĐIỀU 10

Trong bụng có khí lạnh, kêu như sấm, đau buốt, hông sườn nghịch đầy, nôn mửa. Phụ Tử Ngạnh Mễ Thang chủ về bệnh ấy.

PHỤ TỬ NGẠNH MỄ THANG

Phụ tử 1 củ (bào) Bán hạ nửa thăng

Ngạnh mễ nửa thăng Cam thảo 1 lượng

Đại táo 10 quả

Dùng 8 thăng nước, sắc Ngạnh mễ chín là được, bỏ bã, uống nóng 1 thăng. Ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 11

Đau mà bế tắc (đại tiện bế), Hậu Phác Tam Vật Thang chủ về bệnh ấy.

HẬU PHÁC TAM VẬT THANG

Hậu phác 8 lượng Đại hoàng 4 lượng Chỉ thực 5 quả

Dùng 1 đấu, 2 thăng nước, trước sắc 2 vị, lấy 5 thăng, cho Đại hoàng vào sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, đi tiêu được thì thôi.

ĐIỀU 12

Đè tay vào dưới Tâm thấy đầy, đau, đó là bệnh thực vậy, nên dùng phép hạ , dùng bài Đại Sài Hồ Thang.

ĐẠI SÀI HỒ THANG

Sài hồ nửa cân Hoàng cầm 3 lượng

Thược dược 3 lượng Bán hạ (rửa) nửa thăng

Chỉ thực (nướng) 4 quả Đại hoàng 4 lượng

Đại táo 12 quả Sinh khương 5 lượng

Dùng 1 đấu, 2 thăng nước, đau lấy 6 thăng, bỏ bã, lại đun, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 13

Bụng đầy không giảm, giảm không đáng kể, cần dùng phép hạ, nên dùng Đại Thừa Khí Thang.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 14

Trong ngực, trong tim đau, lạnh lắm, ói, không ăn được, trong bụng lạnh, hàn khí xung lên, da bụng nổi lên xuất hiện có đầu, có chân, trên dưới đau không thể sờ tay vào gần. Đại Kiến Trung Thang chủ về bệnh ấy.

ĐẠI KIẾN TRUNG THANG

Thục tiêu (sao bỏ mồ hôi) 2 hợp Can khương 4 lượng Nhân sâm 2 lượng

Dùng 4 thăng nước, sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Giao di vào 1 thăng, sắc nhỏ lửa, lấy 1 thăng rưỡi, chia 2 lần, uống nóng, chặp lâu có thể ăn 2 thăng cháo, sau lại uống.

ĐIỀU 15

Một bên dưới sườn đau, phát sốt, mạch Khẩn, Huyền. Đó là do Hàn. Dùng ôn dược để xổ hạ. Nên dùng Đại Hoàng Phụ Tử Thang.

ĐẠI HOÀNG PHỤ TỬ THANG

Đại hoàng 3 lượng Phụ tử (bào) 3 quả Tế tân 2 lượng

Dùng 5 thăng, sắc còn 2 thăng, chia 3 lần, uống nóng. Nếu người mạnh, sắc còn 2 thăng rưỡi, chia 3 lần uống nóng. Uống rồi, độ 1 giờ sau, uống lần nữa.

ĐIỀU 16

Hàn khí quyết nghịch, Xích Hoàn chủ về bệnh ấy.

XÍCH HOÀN

Phục linh 4 lượng Bán hạ (rửa) 4 lượng

Ô đầu 2 lượng Tế tân 1 lượng

Tán bột, cho Châu sa vào làm màu, luyện mật làm hoàn bằng viên đạn, trước bữa ăn, uống với rượu 3 hoàn. Ngày đêm, uống 1 lần. Chưa bớt, uống tăng lên chút ít. Uống đến bớt mới thôi.

ĐIỀU 17

Bụng đau, mạch Huyền mà Khẩn. Huyền thì Vệ khí không hành, tức sợ lạnh, Khẩn thì không muốn ăn, tà chính chọi nhau tức là Hàn sán.

Hàn sán đau quanh rốn, nếu phát bệnh thì ra nước trắng, tay chân quyết lạnh, mạch Trầm, Khẩn. Đại Ô Đầu Tiễn chủ về bệnh ấy.

ĐẠI Ô ĐẦU TIỄN

Đại ô (thứ lớn) 5 củ (rang, bỏ vỏ, không xé)

Dùng 3 thăng nước, sắc còn 1 thăng, bỏ bã, cho vào 2 thăng mật, điều_ cho bay hết hơi nước, lấy 2 thăng, người mạnh uống 7 hợp. Không bớt, ngày sau lại uống. 1 ngày không được uống 2 lần.

ĐIỀU 18

Hàn sán, trong bụng đau và sườn đau, khí thôi thúc gấp trong bụng, Đương Quy Sinh Khương Dương Nhục Thang chủ về bệnh ấy.

ĐƯƠNG QUY SINH KHƯƠNG DƯƠNG THỤC THANG

Đương quy 3 lượng Sinh khương 5 lượng

Dương nhục 1 cân

Dùng 8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, uống nóng 7 hợp .

Nếu lạnh nhiều, tăng Sinh khương thành 1 cân. Đau nhiều mà ụa, thêm Quất bì 2 lượng, Bạch truật 1 lượng, thêm Sinh khương và 5 thăng nước, sắc còn 3 thăng 2 hợp, uống.

ĐIỀU 19

Hàn sán, trong bụng đau, nghịch lãnh, tay chân tê dại, nếu mình mẩy đau nhức, đã dùng phương pháp cứu, châm, các thuốc đều không trị được, nên dùng Ô Đầu Quế Chi Thang để trị.

Ô ĐẦU QUẾ CHI THANG

Quế chi (bỏ vỏ) 3 lượng Thược dược 3 lượng

Cam thảo (nướng) 2 lượng Sinh khương 3 lượng

Đại táo 12 quả

Tước nhỏ, dùng 7 thăng nước, nhỏ lửa, sắc còn 3 thăng, bỏ bã.

ĐIỀU 20

Mạch Sác mà Khẩn là Huyền, giống như dây cung, đè tay vào không rời. Mạch Sác, Huyền, nên cho hạ cái hàn xuống. Mạch Khẩn, Đại mà Trì, dưới Tâm hẳn cứng. Mạch Đại mà Khẩn, trong Dương có âm, có thể hạ đi.

PHỤ PHƯƠNG

“Ngoại Đài” Ô Đầu Thang Trị hàn sán, trong bụng đau vắt, tặc phong nhập vào công 5 tạng, câu cấp, không day trở được, phát ra có lúc, khiến cho âm rút lại, tay chân quyết nghịch (đã có ở trên).

“Ngoại Đài” Sài Hồ Quế Chi Thang trị Tâm, phúc thoạt đau.

Sài hồ 4 lượng Hoàng cầm 1 lượng rưỡi

Nhân sâm 1 lượng rưỡi Thược dược 2 lượng rưỡi

Quế chi 1 lượng rưỡi Sinh khương 1 lượng rưỡi

Cam thảo 1 lượng Bán hạ 2 hợp rưỡi

Đại táo 6 quả

Dùng 6 thăng nước sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

Ngoại Đài Tẩu Mã Thang Trị trúng ác, Tâm thống, bụng đau nhẩy lên, đại tiện không thông.

Bã đậu 1 củ (bỏ tim, rang) Hạnh nhân 2 hạt

Dùng vải bọc, đập cho nát, 2 hợp nước nóng, vắt lấy nước trắng, uống đi, hạ được. Già, trẻ tùy theo mà dùng. Thông trị bệnh Phi thi Quỹ kích.

ĐIỀU 21

Hỏi Người có bệnh túc thực (thức ăn không tiêu), làm sao mà biết ?

Thầy đáp: Thốn khẩu mạch Phù mà Đại, đè xuống thì ngược lại mạch lại Sáp, bộ xích cũng Vi mà Sáp, cho nên biết là có túc thực. Đại Thừa Khí Thang chủ về bệnh ấy.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 22

Mạch Sác mà Hoạt là thực chứng. Đó là có túc thực (thức ăn không tiêu), dùng phép xổ hạ là khỏi, nên dùng Đại Thừa Khí Thang.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 23

Hạ lợi, không muốn ăn, đó là có túc thực. Nên dùng phép hạ, dùng Đại Thừa Khí Thang.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 24

Túc thực ở vùng thượng quản (thượng vị), nên dùng phép thổ, nên dùng Qua Đế Tán.

QUA ĐẾ TÁN

Qua đế 1 phân (rang vàng) Xích tiểu đậu 1 phân (đun)

Tán bột, dùng 7 hợp Hương thị sắc còn nước, dùng 1 muỗng tán, uống nóng. Không thổ, thêm lên chút ít, thổ được thì thôi (Người rong huyết và người hư nhược không được dùng).

ĐIỀU 25

Mạch Khẩn như kéo dây không chừng mực, đó là có túc thực (Thức ăn không tiêu).

ĐIỀU 26

Mạch Khẩn, đầu đau, phong hàn, đó là trong bụng có túc thực không tiêu.

 

THIÊN THỨ MƯỜI MỘT

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ NGŨ TẠNG PHONG, HÀN TÍCH TỤ

ĐIỀU 1

Phế trúng phong, miệng ráo mà suyễn, thân thể day trở không tự chủ được mà nặng nề, mạo (như có vật gì đè nặng trên đầu) mà thũng trướng.

ĐIỀU 2

Phế trúng hàn, thổ ra nước mũi đục.

ĐIỀU 3

Tạng Phế chết, nhẹ tay thấy hư, đè nặng thấy Nhược như cọng hành, bên dưới không có gốc thì chết.

ĐIỀU 4

Can trúng phong thì đầu rung động, mắt mấp máy, hông sườn đau, đi thường khom lưng, bệnh này làm cho người bệnh thèm ngọt.

ĐIỀU 5

Can trúng hàn, 2 cánh tay không giở lên được, gốc lưỡi ráo, hay thở dài, trong ngực đau, không day trở được, ăn vào thì nôn mửa mà ra mồ hôi.

ĐIỀU 6

Tạng Can tuyệt, nhẹ tay thấy Nhược, đè vào như dây treo trên không, hoặc cong queo như rắn bò là chết.

ĐIỀU 7

Người bị bệnh Can trước, người bệnh thường muốn được đạp trên ngực. Trước khi mắc bệnh, chỉ muốn uống nóng. Toàn Phúc Hoa Thang chủ về bệnh ấy.

TOÀN PHÚC HOA THANG

Toàn phúc hoa 3 lượng

Hành 14 cọng

Tân giáng chút ít

Dùng 3 thăng nước, sắc còn 1 thăng, uống hết 1 lần.

ĐIỀU 8

Tâm trúng phong, hấp hấp phát sốt, không dậy được, trong lòng thầy đói, ăn vào nôn mửa ngay.

ĐIỀU 9

Tâm trúng hàn, người bệnh khốn khổ như ăn tỏi, nặng thì tim đau thấu đến lưng, lưng đau thấu đến tim, giống như có trùng ở trong đó. Nếu mạch Phù, tự nôn ra được thì khỏi bệnh.

ĐIỀU 10

Tâm bị tổn thương, người bệnh mệt mỏi, đầu, mặt đỏ mà bên dưới nặng nề, không có sức, trong tim đau mà tự phiền, phát sốt, rốn máy giật, mạch Huyền. Đó là do Tâm tạng bị tổn thương mà ra.

ĐIỀU 11

Tạng Tâm chết, nhẹ tay thấy chắc như hạt đậu, đè tay vào càng động là chết.

ĐIỀU 12

Tà khốc (vô cớ buồn thương, khóc lóc), khiến cho hồn phách không yên, do huyết khí ít. Huyết khí ít, thuộc về Tâm, Tâm khí hư, thì người bệnh sợ sệt, nhắm mắt muốn ngủ, mơ thấy đi xa mà tinh thần ly tán, hồn phách đi lung tung. Âm khí suy thì gây ra điên, dương khí suy gây ra cuồng.

ĐIỀU 13

Tỳ trúng phong, hâm hấp phát sốt, giống như người say, trong bụng phiền, nặng nề, da thịt mấp máy mà hơi thở ngắn.

ĐIỀU 14

Tạng Tỳ chết, nhẹ tay thấy cứng, lớn, đè nặng tay thấy như cái chén úp, trong không có gì, hình dáng giống như day động là chết.

ĐIỀU 15

Mạch phu dương Phù mà Sáp, Phù thì Vị khí mạnh, Sáp thì tiểu nhiều lần. Phù, Sáp chọi nhau, đại tiện phân cứng, gây ra bệnh Tỳ ước. Ma Tử Nhân Hoàn chủ về bệnh ấy.

MA TỬ NHÂN HOÀN

Ma tử nhân 2 thăng Thược dược nửa thăng

Chỉ thực 1 thăng Đại hoàng (bỏ vỏ) 1 cân

Hậu phác (bỏ vỏ) 1 thước Hạnh nhân 1 thăng (bỏ vỏ, chóp, rang ra dầu)

6 vị Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt Ngô đồng, uống 10 hoàn, ngày 3 lần, thêm lần đến khi nào bớt.

ĐIỀU 16

Bệnh Thận trước, người bệnh thân thể nặng nề, trong thắt lưng lạnh, như ngồi trong nước, thân hình như nước, mà lại không khát, tiểu tiện tự lợi, ăn uống như thường, bệnh thuộc hạ tiêu, thân lao nhọc, mồ hôi ra, trong áo ẩm lạnh lâu ngày sinh bệnh, từ thắt lưng trở xuống lạnh, đau, bụng nặng như mang 5 ngàn đồng tiền. Cam Thảo Can Khương Linh Truật Thang chủ về bệnh ấy.

CAMTHẢO CAN KHƯƠNG LINH TRUẬT THANG

Cam thảo 2 lượng Bạch truật 2 lượng

Can khương 4 lượng Phục linh 4 lượng

Dùng 4 thăng nước sắc còn 3 thăng, chia 3 lần, uống nóng, trong bụng ấm ngay.

ĐIỀU 17

Tạng Thận chết, nhẹ tay thấy cứng, nặng tay thấy loạn như hòn bi lăn, càng xuống đến bộ Xích là chết.

ĐIỀU 18

Hỏi: Nói về sự hao kiệt của Tam tiêu thì Thượng tiêu bị kiệt lại hay ợ, vì sao vậy ?

Thầy đáp: Thượng tiêu nhận khí của trung tiêu, khí của trung tiêu chưa hòa, không tiêu được thức ăn, cho nên hay ợ mà thôi. Hạ tiêu kiệt, thì tiểu són không cầm được, khí không hòa, không tự kiềm chế được, không cần trị, lâu ngày bệnh tự khỏi.

ĐIỀU 19

Thầy nói Nhiệt ở thượng tiêu, nhân vì ho mà thành chứng Phế nuy. Nhiệt ở trung tiêu thì đại tiện cứng, nhiệt ở hạ tiêu thì tiểu ra máu, cũng gây nên chứng Lâm (tiểu từng giọt), bí không thông. Đại trường có hàn, phân nát như phân vịt, có nhiệt, thì phân lầy nhầy. Tiểu trường có hàn, phía dưới cơ thể nặng, tiểu trường có nhiệt, thì bị bệnh Trĩ.

ĐIỀU 20

Hỏi: Bệnh có tích, có tụ, có Cốc khí là thế nào ?

Thầy đáp: Tích là bệnh ở tạng, trước sau không dời đổi. Tụ là bệnh ở Phủ, phát tác có lúc, đau không có chỗ nhất định, có thể trị được. Cốc khí, dưới sườn đau, xoa vào thì bớt, rồi lại đau, đó là Cốc khí.

Nguyên tắc lớn của các bệnh tích là mạch đến nhỏ mà sát xương, đó là Tích. Mạch đó ở Thốn khẩu là chứng tích trong ngực. Hơi ra khỏi Thốn khẩu là tích ở trong họng. Mạch đó ở bộ Quan là tích ở rốn, hơi ra khỏi bộ Quan là tích ở dưới Tâm, hơi ở dưới bộ Quan là tích ở bụng dưới. Mạch đó ở bộ Xích là tích ở khí xung. Mạch hiện ở bên tả thì tích bên tả, mạch hiện ở bên hữu, thì tích ở bên hữu, mạch hiện ở 2 bên thì tích ở giữa. Mỗi loại tích đều có bộ vị riêng.

 

THIÊN THỨ MƯỜI HAI

MẠCH CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH ĐÀM ẨM VÀ KHÁI THẤU

ĐIỀU 1

Hỏi: Ẩm có 4 loại, là loại nào ?

Thầy đáp: Có Đàm ẩm, Huyền ẩm, Dật ẩm và Chi ẩm.

ĐIỀU 2

Phế trúng hàn, thổ ra nước mũi đục.

ĐIỀU 3

Thủy ở Tâm, dưới Tâm cứng mà hồi hộp, hơi thở ngắn, ghét nước, không muốn uống.

ĐIỀU 4

Thủy ở Phế, thổ bọt dãi, muốn uống nước.

ĐIỀU 5

Thủy ở Tỳ, thiếu khí, mình nặng.

ĐIỀU 6

Thủy ở Can, dưới sườn đầy tức, hắt hơi thì đau.

ĐIỀU 7

Thủy ở Thận, dưới Tâm hồi hộp.

ĐIỀU 8

Dưới Tâm có lưu ẩm, thì ở lưng có vùng lạnh bằng bàn tay lớn.

ĐIỀU 9

Lưu ẩm, dưới sườn đau lan đến Khuyết bồn, ho thì hết.

ĐIỀU 10

Trong ngực có lưu ẩm, người bệnh thở ngắn hơi mà khát, tay chân đau nhức trong khớp xương. Mạch Trầm là có lưu ẩm.

ĐIỀU 11

Trên cách có bệnh đàm thì ngực đầy, suyễn, ho, nôn mửa, lúc phát bệnh thì nóng lạnh, lưng đau, thắt lưng đau, nước mắt tự ra, người bệnh run run, người bệnh run giật, sẽ bị Phục ẩm.

ĐIỀU 12

Người bệnh uống nước nhiều, sẽ phát ra suyễn, đầy. Phàm ăn ít, uống nhiều, nước đọng ở dưới tim, nặng thì hồi hộp, nhẹ thì hơi thở ngắn. Mạch 2 tay đều Huyền là hàn, đều do sau khi cho xổ mạnh người dễ bị hư. Mạch chỉ Huyền 1 bên là bệnh ẩm.

ĐIỀU 13

Phế ẩm (ẩm xâm phạm vào Phế, thuộc loại Chi ẩm), mạch không Huyền, chỉ khốn khổ vì suyễn, hơi thở ngắn.

ĐIỀU 14

Chi ẩm cũng suyễn mà không nằm được, thêm hơi thở ngắn, mạch bình thường.

ĐIỀU 15

Bệnh Đàm ẩm, nên dùng ôn dược hòa đi.

ĐIỀU 16

Dưới Tâm có Đàm ẩm, ngực sườn đầy, mắt hoa, Linh Quế Truật Cam Thang chủ về bệnh ấy.

LINH QUẾ TRUẬT CAM THANG

Phục linh 4 lượng Quế chi 3 lượng

Bạch truật 3 lượng Cam thảo 2 lượng

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 3 thăng, chia 3 lần uống nóng, thì tiểu sẽ thông.

ĐIỀU 17

Hơi thở ngắn, có vi ẩm, nên khử theo đường tiểu tiện, Linh Quế Truật Cam Thang cũng chủ về bệnh ấy.

LINH QUẾ TRUẬT CAM THANG

Phục linh 4 lượng, Bạch truật, Quế chi đều 3 lượng,Cam thảo 2 lượng.

sắc với 6 thăng nước, còn 3 thăng, bỏ bã, chia làm 3 lần, uống ấm.

ĐIỀU 18

Người bệnh mạch Phục, muốn tự lợi, lợi trở lại khoan khoái, tuy lợi, dưới Tâm tiếp tục cứng đầy, đó là lưu ẩm muốn đi. Cam Toại Bán Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

CAMTOẠI BÁN HẠ THANG

Cam toại (thứ lớn) 3 củ Thược dược 5 củ

Bán hạ 12 củ (dùng 1 thăng nước, sắc còn nửa thăng, bỏ bã)

Cam thảo (nướng - thứ lớn) 1 gốc

Dùng 1 thăng nước, sắc còn nửa thăng, bỏ bã, dùng nửa thăng mật, cùng với nước thuốc sắc còn 8 hợp . Uống hết 1 lần.

ĐIỀU 19

Mạch Phù mà Tế, Hoạt là chứng thương ẩm.

ĐIỀU 20

Mạch Huyền, Sác, có hàn ẩm, mùa Đông, Hạ khó trị.

ĐIỀU 21

Mạch Trầm mà Huyền, là chứng Huyền ẩm, đau ở bên trong (ở ngực sườn).

ĐIỀU 22

Bệnh Huyền ẩm, Thập Táo Thang chủ về bệnh ấy.

THẬP TÁO THANG

Nguyên hoa (sao), Cam toại, Đại kích, 3 vị bằng nhau.

Nghiền nhỏ, rây nhỏ, dùng 1 thăng, 5 hợp nước, trước sắc 10 quả táo lớn, lấy 8 hợp , bỏ bã, cho thuốc bột vào, người khoẻ uống 1 muỗng, người yếu uống 5 phân. Sáng sớm uống nóng. không hạ, qua ngày sau lại uống 5 phân. Đại tiện được dễ chịu thì ăn cháo để bồi dưỡng.

ĐIỀU 23

Bệnh Dật ẩm, nên dùng phép phát hãn, Đại Thanh Long Thang chủ về bệnh ấy. Tiểu Thanh Long Thang cũng chủ về bệnh ấy.

ĐẠI THANH LONG THANG

Ma hoàng (bỏ đốt) 6 lượng Quế chi (bỏ vỏ) 2 lượng

Cam thảo (nướng) 2 lượng Hạnh nhân (bỏ vỏ, chóp) 40 hạt

Sinh khương 3 lượng Đại táo 12 quả

Thạch cao (Đập vụn) 1 cục bằng quả trứng gà

Sắc Ma hoàng trước với 9 thăng nước, còn 7 thăng, vớt bỏ bọt, cho các thuốc kia vào, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống ấm 1 thăng, cho ra ít mồ hôi thì thôi. Nếu mồ hôi ra nhiều mà vong dương, trở thành hư chứng, sợ gió, phiền muôn, vật vã, không ngủ được… thì dùng Ôn phấn để bôi.

TIỂU THANH LONG THANG

Ma hoàng (bỏ đốt) 3 lượng Thược dược 3 lượng

Ngũ vị tử nửa thăng Can khương 3 lượng

Cam thảo (nướng) 3 lượng Tế tân 3 lượng

Quế chi (bỏ vỏ) 3 lượng Bán hạ (rửa) nửa thăng

Dùng 1 đấu nước, trước sắc Ma hoàng giảm bớt 2 thăng, gạt bỏ bọt, cho các thuốc vào sắc còn 3 thăng bỏ bã, uống nóng 1 thăng.

ÔN PHẤN PHƯƠNG

Long cốt, Mẫu lệ, Hoàng kỳ (sinh) đều 3 cân, Ngạnh mễ 1 lượng. Tán nhuyễn, trộn chung, cho vào bọc lụa mỏng, xoa dần dần.

ĐIỀU 24

Chi ẩm ở vùng hoành cách mô, người bệnh suyễn, đầy, sắc mặt đen xạm, mạch Trầm, Khẩn. Bị bệnh vài mươi ngày, thầy thuốc cho dùng phép thổ, phép hạ mà không khỏi, Mộc Phòng Kỷ Thang chủ về bệnh ấy. Trường hợp hư yếu thì bệnh khỏi ngay. Nếu là thực chứng thì 3 ngày sau lại tái phát, cho uống thêm lần nữa mà không khỏi thì dùng bài Mộc Phòng Kỷ Thang Khứ Thạch Cao Gia Phục Linh Mang Tiêu Thang.

MỘC PHÒNG KỶ THANG

Mộc phòng kỷ 3 lượng Quế chi 2 lượng

Nhân sâm 4 lượng Thạch cao 12 cục bằng quả trứng gà

Dùng 6 thăng nước, đau còn 2 thăng, uống nóng 2 lần.

MỘC PHÒNG KỶ KHỬ THẠCH CAO GIA PHỤC LINH MANG TIÊU THANG

Mộc phòng kỷ 2 lượng Quế chi 2 lượng

Nhân sâm 4 lượng Mang tiêu 3 hợp

Phục linh 4 lượng

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, lại sắc sơ cho Mang tiêu tan hết, chia 2 lần, uống nóng, đi tiêu được thông thì khỏi bệnh.

ĐIỀU 25

Dưới Tâm có chi ẩm, người bệnh khổ vì chứng choáng váng, chóng mặt, Trạch Tả Thang chủ về bệnh ấy.

TRẠCH TẢ THANG

Trạch tả 5 lượng Bạch truật 2 lượng

Dùng 2 thăng nước, sắc còn 1 thăng, uống nóng 2 lần.

ĐIỀU 26

Chi ẩm, ngực đầy, Hậu Phác Đại Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

HẬU PHÁC ĐẠI HOÀNG THANG

Hậu phác 1 thước Đại hoàng 6 lượng Chỉ thực 4 quả

Dùng 5 thăng nước, sắc còn 2 thăng, uống nóng 2 lần.

ĐIỀU 27

Chi ẩm, không thở được, Đình Lịch Đại Táo Tả Phế Thang chủ về bệnh ấy.

ĐÌNH LỊCH ĐẠI TÁO TẢ PHẾ THANG

Đình lịch (rang có màu vàng, làm hoàn như viên đạn)

Đại táo 12 quả

Dùng 3 thăng nước, sắc Táo lấy 2 thăng, bỏ Táo, cho Đình lịch vào, sắc còn 1 thăng, uống hết 1 lần.

ĐIỀU 28

Người hay ói mửa, vốn lúc nào cũng khát, nay lại không khát, đó là do vùng dưới tim có Chi ẩm. Tiểu Bán Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

TIỂU BÁN HẠ THANG

Bán hạ 1 thăng Sinh khương nửa thăng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 1 thăng rưỡi, chia 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 29

Bụng đầy, miệng lưỡi khô ráo, đó là trong ruột có thủy khí, bài Phòng Kỷ Tiêu Mục Đình Lịch Đại Hoàng Hoàn chủ về bệnh ấy.

PHÒNG KỶ TIÊU MỤC ĐÌNH LỊCH ĐẠI HOÀNG HOÀN

Phòng kỷ, Tiêu mục, Đình lịch, Đại hoàng đều 1 lượng.

Tán bột, luyện mật làm hoàn, uống 1 hoàn trước bữa ăn, ngày uống 3 lần, tăng dần, trong miệng sẽ có tân dịch. Khát thêm Mang tiêu nửa lượng.

ĐIỀU 30

Thốt nhiên nôn mửa, vùng dưới tim đầy, trong cách mạc có thủy, choáng đầu, hoa mắt, hồi hộp, Tiểu Bán Hạ Gia Phục Linh Thang chủ về bệnh ấy.

TIỂU BÁN HẠ GIA PHỤC LINH THANG PHƯƠNG

Bán hạ 1 thăng Sinh khương nửa cân Phục linh 3 lượng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 1 thăng, 5 hợp , chia 2, uống nóng.

ĐIỀU 31

Giả như người gầy, dưới rốn run sợ (quí), thổ ra bọt dãi mà đầu mắt choáng váng. Đó là do thủy gây bệnh. Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy.

NGŨ LINH TÁN

Trạch tả 1 lượng 5 phân Trư linh (bỏ vỏ) 3 phân

Phục linh 3 phân Bạch truật 3 phân

Quế chi (bỏ vỏ) 2 phân

Tán bột, uống với nước ấm 1 muỗng, ngày 3 lần, uống nhiều nước ấm, mồ hôi ra thì khỏi.

PHỤC LINH ẨM (Ngoại Đài Bí Yếu) trị trọng Tâm, hung có đình ẩm, túc thủy, tự thổ ra nước rồi, Tâm, Hung trống rỗng, khí đầy, không ăn được, khiến cho ăn được.

Phục linh 3 lượng Nhân sâm 3 lượng

Bạch truật 3 lượng Chỉ thực 2 lượng

Quát bì 2 lượng rưỡi Sinh khương 4 lượng

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 1 thăng 8 hợp, chia làm 3 lần, uống nóng, độ chừng đi bộ 8, 9 dặm, uống lần nữa.

ĐIỀU 32

Người hay bị ho, mạch Huyền, là có thủy, Thập Táo Thang chủ về bệnh ấy.

THẬP TÁO THANG

Nguyên hoa (sao), Cam toại, Đại kích, 3 vị bằng nhau.

Nghiền nhỏ, rây nhỏ, dùng 1 thăng, 5 hợp nước, trước sắc 10 quả táo lớn, lấy 8 hợp , bỏ bã, cho thuốc bột vào, người khoẻ uống 1 muỗng, người yếu uống 5 phân. Sáng sớm uống nóng. không hạ, qua ngày sau lại uống 5 phân. Đại tiện được dễ chịu thì ăn cháo để bồi dưỡng.

ĐIỀU 33

Người bị Chi ẩm, ho, phiền, trong ngực đau, không chết ngay, đến 100 ngày, hoặc 1 năm, nên dùng Thập Táo Thang.

THẬP TÁO THANG

Nguyên hoa (sao), Cam toại, Đại kích, 3 vị bằng nhau.

Nghiền nhỏ, rây nhỏ, dùng 1 thăng, 5 hợp nước, trước sắc 10 quả táo lớn, lấy 8 hợp , bỏ bã, cho thuốc bột vào, người khoẻ uống 1 muỗng, người yếu uống 5 phân. Sáng sớm uống nóng. không hạ, qua ngày sau lại uống 5 phân. Đại tiện được dễ chịu thì ăn cháo để bồi dưỡng.

ĐIỀU 34

Ho đã nhiều năm, mạch Nhược, có thể trị được. Mạch Thực, Đại, Sác là chết, Mạch Hư tất khốn khổ về chuiứng choáng váng. Đó là vì người đó vốn có Chi ẩm trong ngực, cách trị thuộc loại bệnh ẩm.

ĐIỀU 35

Ho nghịch, ngồi dựa để thở, không nằm thẳng được, Tiểu Thanh Long Thang chủ về bệnh ấy.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Ma hoàng (bỏ đốt) 3 lượng Thược dược 3 lượng

Ngũ vị tử nửa thăng Can khương 3 lượng

Cam thảo (nướng) 3 lượng Tế tân 3 lượng

Quế chi (bỏ vỏ) 3 lượng Bán hạ (rửa) nửa thăng

Sắc Ma hoàng trước với 1 đấu nước, giảm bớt 2 thăng, vớt bỏ bọt, cho các thuốc kia vào sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống nóng 1 thăng.

ĐIỀU 36

Uống Thanh Long Thang rồi, nhổ khạc nhiều, miệng khô, bộ thốn mạch thấy mạch Trầm, bộ xích mạch Vi, tay chân quyết nghịch, khí từ bụng dưới xung lên ngực, họng, tay chân tê, mặt đỏ bừng từng cơn như người say, nhân lại chạy xuống hạ tiêu, tiểu khó, thỉnh thoảng bị choáng váng, dùng Quế Linh Ngũ Vị Cam Thảo Thang.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Phục linh 4 lượng Quế chi (bỏ vỏ) 4 lượng

Cam thảo (nướng) 3 lượng Ngũ vị tử nửa thăng

Dùng 8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống nóng 3 lần.

ĐIỀU 37

Xung khí xuống thấp, mà lại ho, ngực đầy, dùng Quế Linh Ngũ Vị Cam Thảo Thang bỏ Quế thêm Can khương, Tế tân để trị ho, đầy.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Phục linh 4 lượng Cam thảo 3 lượng

Can khương 3 lượng Tế tân 3 lượng

Ngũ vị tử nửa thăng

Dùng 8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống nóng nửa thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 38

Chứng ho đầy đã hết, nhưng lại càng khát, xung khí phát trở lại, vì uống các vị Tế tân, Can khương, là các vị thuốc nhiệt. Uống vào thì phải khát, mà khát lại hết là vì có bệnh chi ẩm. Bệnh chi ẩm đáng lẽ phải chóng mặt, hoa mắt, chóng mặt thì phải nôn mửa. Nôn mửa thì cho Bán hạ vào để trừ thuỷ đi.

ĐIỀU 39

Thủy được trừ, hết nôn mửa, người bệnh mình sưng, thêm Hạnh nhân chủ về bệnh ấy. Chứng đó trị nên cho Ma hoàng vào, nhưng người bệnh bị tê, nên không cho vào. Nếu nghịch mà cho vào, sẽ sinh ra Quyết, sở dĩ như thế vì người bệnh huyết hư, Ma hoàng phát dương khí cho nên như vậy.

LINH CAM NGŨ VỊ GIA KHƯƠNG TÂN BÁN HẠ HẠNH NHÂN THANG

Phục linh 4 lượng Cam thảo 3 lượng

Ngũ vị nửa thăng Can khương 3 lượng

Tế tân 3 lượng Bán hạ nửa thăng

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống nóng nửa thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 40

Nếu mặt nóng như say, đó là Vị nóng xung lên, nung đốt mặt, thêm Đại hoàng để xổ đi.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Phục linh 4 lượng Cam thảo 3 lượng

Ngũ vị nửa thăng Can khương 3 lượng

Tế tân 3 lượng Bán hạ nửa thăng

Hạnh nhân nửa thăng Đại hoàng 3 lượng

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống nóng nửa thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 41

Trước khát sau ói là thủy dừng dưới Tâm, đó là thuộc ẩm gia, Tiểu Bán hạ gia Phục Linh thang chủ về bệnh ấy.

 

THIÊN THỨ MƯỜI BA

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH TIÊU KHÁT,

TIỂU TIỆN KHÔNG LỢI, LÂM

ĐIỀU 1

Âm quyết gây nên bệnh tiêu khát, khí xung lên Tâm, trong Tâm nhức nhối, nóng, đói mà không muốn ăn, ăn liền nôn mửa, dùng phép xổ thì tiêu chảy không ngừng.

ĐIỀU 2

Thốn khẩu mạch Phù mà Trì, Phù tức là hư, Trì tức là lao. Hư thì vệ khí không đủ, lao thì vệ khí kiệt.

Mạch phu dương Phù mà Sác, Phù tức là tiêu cốc mà đại tiện cứng. Khí thịnh thì tiểu nhiều, tiểu nhiều thì đại tiện cứng. Tiểu nhiều và đại tiện cứng chọi nhau gây nên tiêu khát.

ĐIỀU 3

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

, tiểu lại nhiều, uống 1 đấu, tiểu ra 1 đấu. Thận Khí Hoàn chủ về bệnh ấy.

THẬN KHÍ HOÀN

Càn địa hoàng 8 lượng Sơn dược 4 lượng

Sơn thù du 4 lượng Trạch tả 3 lượng

Đơn bì 3 lượng Phục linh 3 lượng

Quế chi 1 lượng Phụ tử (bào) 1 lượng

Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt Ngô đồng, uống với rượu 15 hoàn, thêm lần đến 20 hoàn. Ngày uống 2 lần.

ĐIỀU 4

Mạch Phù, tiểu tiện không thông, hơi nóng, đó là chứngTiêu khát, nên dùng phép lợi tiểu, phát hãn. Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Trạch tả 1 lượng 5 phân Trư linh (bỏ vỏ) 3 phân

Phục linh 3 phân Bạch truật 3 phân

Quế chi (bỏ vỏ) 2 phân

Tán bột, uống với nước ấm 1 muỗng, ngày 3 lần, uống nhiều nước ấm, mồ hôi ra thì khỏi.

ĐIỀU 5

Khát muốn uống nước, uống vào thì nôn ra, gọi là chứng thủy nghịch, Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy.

NGŨ LINH TÁN

Trạch tả 1 lượng 5 phân Trư linh (bỏ vỏ) 3 phân

Phục linh 3 phân Bạch truật 3 phân

Quế chi (bỏ vỏ) 2 phân

Tán bột, uống với nước ấm 1 muỗng, ngày 3 lần, uống nhiều nước ấm, mồ hôi ra thì khỏi.

ĐIỀU 6

Khát muốn uống nước không ngớt, Văn Cáp Tán chủ về bệnh ấy.

VĂN CÁP TÁN

Văn cáp 5 lượng

Tán bột. Nước sôi 5 hợp , hòa 1 muỗng uống.

ĐIỀU 7

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

tiểu ra như hạ kê, bụng dưới co rút, đau lan đến giữa rốn.

ĐIỀU 8

Mạch phu dương Sác, là trong Vị có nhiệt, sẽ sinh ra chứng ăn mau đói, đại tiện sẽ cứng, tiểu nhiều lần.

ĐIỀU 9

Người vốn có bệnh lâm. không thể dùng phép phát hãn, nếu dùng phép phát hãn thì sẽ tiểu ra máu.

ĐIỀU 10

Tiểu tiện không thông là có thủy khí, người bệnh khát, Quát Lâu Cù Mạch Hoàn chủ về bệnh ấy.

QUÁT LÂU CÙ MẠCH HOÀN

Quát lâu căn 2 lượng Phục linh 3 lượng

Thự dự 3 lượng Phụ tử (bào) 1 củ

Cù mạch 1 lượng

Tán bột, luyện mật làm hoàn to bằng hạt Ngô đồng, mỗi lần uống 3 hoàn, ngày 3 lần. Không bớt, tăng đến 7, 8 hoàn. Tiểu tiện lợi, trong bụng ấm là biết.

ĐIỀU 11

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

, Bồ Khôi Tán chủ về bệnh ấy. Hoạt Thạch Bạch Ngư Tán, Phục Linh Nhung Diêm Thang đều chủ về bệnh ấy.

BỒ KHÔI TÁN

Bồ khôi 7 phân Hoạt thạch 3 phân

Tán bột, uống 1 muỗng, ngày 3 lần.

HOẠT THẠCH BẠCH NGƯ TÁN

Hoạt thạch 2 phân Loạn phát (đốt) 2 phân Bạch ngư 2 phân

Làm bột uống 1 muỗng, ngày uống 3 lần.

PHỤC LINH NHUNG DIÊM THANG

Phục linh nửa cân Bạch truật 2 lượng Nhung diêm to bằng hòn đạn

Sắc Phục Linh, Bạch truật trước rồi, cho Nhung diêm vào, lại đun. Phân làm 3 lần, uống nóng.

ĐIỀU 12

Khát muốn uống nước, miệng khô, lưỡi ráo, Bạch Hổ Gia Nhân sâm Thang chủ về bệnh ấy.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Tri mẫu 6 lượng Cam thảo 2 lượng

Nhân sâm 3 lượng Ngạch mễ 6 hợp

Thạch cao 1 cân (đập nát)

Dùng 1 đấu nước, nấu cho gạo chín là được, bỏ bã uống nóng 1 thăng. Ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 13

Mạch Phù, phát nhiệt, khát muốn uống nước, tiểu không thông, Trư Linh Thang chủ về bệnh ấy.

Để thấy đường dẫn này bạn phải Tạo tài khoản hoặc Đăng nhập

Trư linh (bỏ vỏ) 1 lượng Phục linh 1 lượng

A giao 1 lượng Hoạt thạch 1 lượng

Trạch tả 1 lượng

Dùng 4 thăng nước, trước sắc 4 vị, lấy 2 thăng, bỏ bã, cho A giao vào cho tiêu, uống nóng 7 hợp , ngày uống 3 lần.

 

THIÊN THỨ MƯỜI BỐN

MẠCH CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH THỦY KHÍ

ĐIỀU 1

Thầy nói Bệnh có Phong thủy, Bì thủy, Chinh thủy, Thạch thủy và Hoàng hãn, Phong thủy, mạch Phù, chứng bên ngoài là khớp xương đau nhức, sợ gió, Bì thủy mạch cũng Phù, chứng bên ngoài là gót chân sưng, ấn vào lún ngón tay, không sợ gió, bụng như cái trống, không khát, nên dùng phép phát hãn. Chính thủy, mạch Trầm, Trì, bên ngoài có chứng khó thở. Thạch thủy, mạch Trầm, chứng bên ngoài là bụng đầy, không suyễn. Hoàng hãn, mạch Trầm, Trì, mình phát nhiệt, ngực đầy, tay chân và đầu, mặt sưng. Lâu ngày không khỏi, sẽ sinh ra nhọt mủ.

ĐIỀU 2

Mạch Phù mà Hồng, Phù là Phong, Hồng là khí, phong, khí chọi nhau, phong mạnh thì sinh ra ẩn chẩn (ban sởi), mình mẩy ngứa, lâu rồi thành sần sùi. Khí mạnh là thủy, khó cúi ngửa. Phong khí đánh nhau, mình mẩy sưng đỏ, mồ hôi ra thì khỏi. Sợ gió thì hư, đó là phong thủy, không sợ gió, tiểu tiện không lợi, thượng tiêu có hàn, miệng nhiều nước dãi, đó là Hoàng hãn.

ĐIỀU 3

Thốn khẩu, mạch Trầm, Hoạt, trong có thủy khí, mặt, mắt sưng lớn, có nhiệt, tên gọi là Phong thủy. Xem mắt bệnh nhân thấy mi mắt hơi sưng, giống như con tằm mới dậy, mạch Nhân nghinh động, thường bị ho, đè tay vào tay chân, lún xuống không nổi lên, đó là Phong thủy.

ĐIỀU 4

Bệnh ở Thái dương, mạch Phù mà Khẩn, đáng lẽ khớp xương phải đau nhức, ngược lại thân thể nặng nề mà ê ẩm, người bệnh không khát, mồ hôi ra thì khỏi, đó là phong thủy. Sợ lạnh, đó là hư tột độ do dùng phép phát hã. Khát mà không sợ lạnh, đó là chứng Bì thủy. Mình sưng mà lạnh, giống như Chu tý (tê khắp), trong ngực tắc nghẽn, không ăn được, ngược lại đau tụ lại, tối lại, bứt rứt không ngủ được, đó là chứng Hoàng hãn. Đau ở khớp xương, ho mà suyễn, không khát, đó là chứng Tỳ trướng, giống như bị thũng, dùng phép phát hãn thì khỏi. Nhưng các bệnh như thế, khát mà hạ lợi, tiểu nhiều lần, đều không thể phát hãn.

ĐIỀU 5

Lý thủy là khắp mình, mặt, mắt sưng vàng, mạch Trầm, tiểu không thông, vì thế gây ra bệnh thủy. Nếu tiểu tự thông, đó là vong tân dịch, cho nên sinh ra khát. Việt Tỳ Gia Truật Thang chủ về bệnh ấy.

VIỆT TỲ GIA TRUẬT THANG

Ma hoàng 6 lượng, Bạch truật 4 lượng, Sinh khương 3 lượng, Thạch cao ½ cân, Cam thảo 2 lượng, Đại táo 15 trái.

Sắc Ma hoàng trước với 8 thăng nước còn 6 thăng, vớt bỏ bọt, cho các vị kia vào, sắc còn 3 thăng, chia làm 3 lần, uống ấm.

ĐIỀU 6

Phu dương, mạch đáng lẽ Phục, giờ trở lại Khẩn, vốn sẵn có hàn. (Chứng của nó là) Sán Hà, trong bụng đau, thầy thuốc lại dùng phép hạ, hạ rồi, thì ngực đầy, hơi thở ngắn.

Phu dương, mạch đáng lẽ Phục, giờ trở lại Sác, đó là vốn có sẵn nhiệt, tiêu cốc, tiểu nhiều, giờ trở lại hạ lợi, đó là muốn thành chứng Thủy.

ĐIỀU 7

Thốn khẩu mạch Phù mà Trì, mạch Phù thì nhiệt, mạch Trì thì tiềm (tàng), nhiệt và tiềm (tàng) chọi nhau gọi là Trầm. Mạch phu dương Phù mà Sác, mạch Phù tức là nhiệt, mạch Sác tức là dừng, nhiệt, dừng chọi nhau, tên gọi là Phục, Trầm, Phục chọi nhau, tên gọi là thủy. Trầm thì mạch lạc hư, Phục thì tiểu tiện khó, hư, khó chọi nhau, thủy chạy ra bì phu, gây nên bệnh thủy.

ĐIỀU 8

Thốn khẩu mạch Huyền mà Khẩn, Huyền thì vệ khí không hành, tức sợ lạnh, thủy không thấm nhuần được các nơi, sẽ chạy vào trong ruột.

Thiếu âm mạch Khẩn mà Trầm, Khẩn là đau, Trầm là thủy, tiểu tiện khó.

ĐIỀU 9

Gặp mạch Trầm nên tránh có thủy, thân thể thũng, nặng nề, thủy bệnh, mạch xuất (mạch bạo xuất không gốc - trên có, dưới tuyệt không) thì chết.

ĐIỀU 10

Người bị thủy bệnh, dưới mắt có dáng tằm nằm, mặt mắt tươi sáng, mạch Phục, người bệnh tiêu khát. Bệnh thủy, bụng lớn, tiểu tiện không lợi, mạch Trầm tuyệt, có thủy, có thể dùng phép hạ.

ĐIỀU 11

Hỏi Bệnh hạ lợi rồi (bao quát tiết tả, lỵ tật) khát muốn uống nước, tiểu tiện không lợi, bụng đầy, nhân đó sinh thũng, vì sao ?

Thầy nói Theo đó là bệnh Thủy. Nếu tiểu tiện tự lợi và hạn ra, nên tự lành.

ĐIỀU 12

Tâm có bệnh đưa đến bệnh Thủy thũng, mình nặng mà ít khí, không nằm được, phiền và táo, người bệnh âm sưng.

ĐIỀU 13

Can có bệnh đưa đến bệnh Thủy thũng, bụng lớn, không tự day trở được, dưới hiếp, bụng đau, thường thường tân dịch sinh ra chút ít, tiểu tiện tiếp tục thông.

ĐIỀU 14

Phế có bệnh, đưa đến Thủy thũng, cơ thể phù, tiểu khó, đại tiện nát như phân vịt.

ĐIỀU 15

Tỳ có bệnh đưa đến Thủy thũng, bụng lớn, tứ chi nặng nề, tân dịch không sinh ra, khổ vì ít khí, tiểu khó.

ĐIỀU 16

Thận có bệnh đưa đến Thủy thũng, rốn sưng, thắt lưng đau, không tiểu tiện được, dưới âm vật ướt như mồ hôi trên mũi trâu, chân nghịch lãnh, mặt lại gầy.

ĐIỀU 17

Thầy nói Các bệnh Thủy thũng, thắt lưng trở xuống sưng, nên cho lợi tiểu tiện, thắt lưng trở lên sưng cho phát hãn là khỏi.

ĐIỀU 18

Thầy nói: Thốn khẩu mạch Trầm mà Trì, Trầm là Thủy, Trì là hàn. Hàn và Thủy chọi nhau, Phu dương mạch Phục, thủy cốc không hóa, Tỳ khí suy thì đại tiện nát như phân vịt, Vị khí suy thì cơ thể sưng. Thiếu dương mạch Ty Thiếu âm mạch Tế, con trai thì tiểu tiện không lợi, con gái thì kinh thủy không thông, Kinh là huyết, huyết không thông thì gây bệnh thủy, tên gọi là huyết phần.

ĐIỀU 19

Hỏi Người khổ vì bệnh Thủy, mặt, mắt, thân thể, tứ chi đều thũng, tiểu tiện không thông, xem mạch không nói là bệnh thủy, lại nói là trong ngực đau, khí xung lên họng, giống như có vật ngăn trở, hơi ho, suyễn. Xét đúng như Thầy nói thì mạch đó là loại mạch gì ?

Thầy nói Thốn khẩu mạch Trầm mà Khẩn, Trầm là thủy, Khẩn là hàn. Trầm, Khẩn chọi nhau, kết ở Quan nguyên, lúc ban đầu còn ít, lâu năm không biết, sau tuổi dương suy, vinh vệ liên quan với nhau, dương tổn âm thịnh, hàn ngưng kết hơi động. Thận khí xung lên, yết hầu nghẽn lấp, dưới hông sườn đau cấp. Thầy thuốc cho là Lưu ẩm mà cho xổ mạnh, khí bị kích thích mà không đi, bệnh đó không trừ. Lại dùng phép thổ, người vốn có bệnh hư phiền ở trong Vị, họng khô, muốn uống nước, tiểu không thông, thủy cốc không tiêu hóa, mặt, mắt, tay chân phù thũng. Lại dùng Đình Lịch Hoàn để trục thủy, lúc bấy giờ thấy bệnh có vẻ như hơi giảm. (Nếu) ăn uống quá độ, lại phù như trước, hông sườn đau giống như Bôn đồn. Nước trong người dâng thì nổi ho, suyễn nghịch. Trước hết nên công kích vào xung khí, khiến cho nó dừng lại rồi mới trị ho. Ho dứt, suyễn tự bớt. Trị bệnh mới trước, bệnh cũ trị sau.

ĐIỀU 20

Phong thủy, mạch Phù, mình nặng, ra mồ hôi, sợ gió. Phòng Kỷ Hoàng Kỳ Thang chủ về bệnh ấy. Bụng đau, thêm Thược dược.

PHÒNG KỶ HOÀNG KỲ THANG

Phòng kỷ 1 lượng Cam thảo nửa lượng (sao)

Bạch truật 7 chỉ rưỡi Hoàng kỳ 1 lượng, 1 phân (bỏ đầu)

Xé nhỏ như hạt mè, mỗi lần dùng 5 đồng tiền xúc, Sinh khương 4 lát, Đại táo 1 quả, 2 chén rưỡi nước, sắc còn 8 phân, bỏ bã, uống nóng, chặp lâu lại uống.

Uống thuốc xong, có cảm giác như trùng bò trong da, từ thắt lưng xuống lạnh như giá, sau ngồi trên chăn, lại lấy chăn quấn thắt lưng trở xuống cho ấm, khiến cho ra ít mồ hôi, bệnh sẽ bớt.

ĐIỀU 21

Phong thủy, sợ gió, khắp mình sưng, mạch Phù mà khát, hạn tiếp tục tự ra, không có đại nhiệt. Việt Tỳ Thang chủ về bệnh ấy.

VIỆT TỲ THANG

Ma hoàng 6 lượng Thạch cao nửa cân

Sinh khương 3 lượng Cam thảo 2 lượng

Đại táo 15 quả

Dùng 6 thăng nước, trước sắc Ma hoàng,vớt bỏ bọt, cho các thuốc kia vào sắc còn 3 thăng, uống nóng 3 lần. Sợ lạnh thêm Phụ tử 1 củ (bào), Phong thủy thêm Bạch truật 4 lượng.

ĐIỀU 22

Mắc bệnh Bì thủy, tay chân phù, thủy khí ở trong bì phu, tay chân hơi run run, Phòng Kỷ Phục Linh Thang chủ về bệnh ấy.

PHÒNG KỶ PHỤC LINH THANG

Phòng kỷ 3 lượng Hoàng kỳ 3 lượng

Quế chi 3 lượng Phục Linh 6 lượng

Cam thảo 2 lượng

Sắc với 6 thăng nước, còn 2 thăng, chia 3 lần uống nóng.

ĐIỀU 23

Phần lý có thủy, Việt Tỳ Gia Truật Thang chủ về bệnh ấy. Cam Thảo Ma Hoàng Thang cũng chủ về bệnh ấy.

VIỆT TỲ GIA TRUẬT THANG

Ma hoàng 6 lượng, Bạch truật 4 lượng, Sinh khương 3 lượng, Thạch cao ½ cân, Cam thảo 2 lượng, Đại táo 15 trái.

Sắc Ma hoàng trước với 8 thăng nước còn 6 thăng, vớt bỏ bọt, cho các vị kia vào, sắc còn 3 thăng, chia làm 3 lần, uống ấm.

CAMTHẢO MA HOÀNG THANG

Cam thảo 2 lượng Ma hoàng 4 lượng

Sắc Ma hoàng trước với 5 thăng nước, vớt bỏ bọt, cho Cam thảo vào, sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, đắp chăn cho ra mồ hôi, lại uống. Cẩn thận gió lạnh.

ĐIỀU 24

Thủy làm nên bệnh, mạch Trầm, Tiểu, thuộc Thiếu âm. Phù là phong, không có thủy, hư trướng là khí. Bệnh thủy, phát hạn dứt ngay. Mạch Trầm, dùng Ma Hoàng Phụ Tử Thang. Mạch Phù, dùng Hạnh Tử Thang.

MA HOÀNG PHỤ TỬ THANG

Ma hoàng 3 lượng Cam thảo 2 lượng

Phụ tử (bào) 1 củ

Sắc Ma hoàng trước với 7 thăng nước, vớt bỏ bọt, cho các thuốc vào sắc còn 2 thăng rưỡi, uống nóng 8 phân, ngày 3 lần.

ĐIỀU 25

Quyết mà Bì thủy, Bồ Khôi Tán chủ về bệnh ấy.

ĐIỀU 26

Hỏi Bệnh mồ hôi vàng, mình mẩy sưng (có bản ghi là nặng nề), phát nhiệt, hãn ra mà khát, giống như Phong thủy, mồ hôi thấm ướt áo, sắc vàng như nước Hoàng bá, do đâu mắc phải ?

Thầy nói Do hãn ra, vào trong nước tắm, nước theo lỗ chân lông vào, Kỳ, Dược, Quế, Tửu thang chủ về bệnh ấy.

HOÀNG KỲ THƯỢC DƯỢC QUẾ CHI KHỔ TỬU THANG

Hoàng kỳ 5 lượng Thược dược 3 lượng Quế chi 3 lượng

Dùng 1 thăng Khổ tửu, 7 thăng nước hòa chung, sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, hẳn Tâm phiền, uống đến 6, 7 ngày, giải. Nếu Tâm phiền không dứt vì Khổ tửu ngăn trở vậy.

ĐIỀU 27

Bệnh Hoàng hãn, 2 ống chân lạnh. Nếu phát nhiệt, đó là thuộc Lịch tiết. Ăn rồi, mồ hôi ra, tối đến mồ hôi trộm lại ra, đó là tại Vinh khí. Nếu mồ hôi ra rồi, lại phát sốt, lâu ngày da thịt bị tróc vẩy. Sốt không dứt, thì sẽ sinh nhọt độc. Nếu mình nặng, mồ hôi ra được thì nhẹ, lâu ngày thì thịt máy giật, thì trong ngực đau. Nếu từ thắt lưng trở lên ra mồ hôi, ở dưới không có mồ hôi, thắt lưng đau như có vật gì trong da. Bệnhnặng thì không ăn được, mình đau nhức, nặng nề, phiền táo, tiểu không thông, đó là chứng Hoàng hãn, Quế Chi Gia Hoàng Kỳ Thang chủ về bệnh ấy.

QUẾ CHI GIA HOÀNG KỲ THANG

Quế chi 3 lượng Thược dược 3 lượng

Cam thảo 2 lượng Sinh khương 3 lượng

Đại táo 12 quả Hoàng kỳ 2 lượng

Dùng 8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, một lát sau ăn cháo nóng hơn 1 thăng, để hỗ trợ sức thuốc, uống nóng, cho hơi ra mồ hôi. Nếu không có mồ hôi, lại uống thêm.

ĐIỀU 28

Thầy nói Thốn khẩu mạch Trì mà Sáp, Trì thì là hàn, Sáp là huyết không đủ. Mạch Phu dương Vi mà Trì, Vi là khí, Trì là hàn, Hàn khí không đủ, thì tay chân nghịch lãnh. Tay chân nghịch lãnh thì vinh vệ không lợi. Vinh vệ không lợi thì bụng đầy, ruột sôi liên tục. Khí chuyển Bàng quang, vinh vệ đều lao. Dương khí không thông, mình lạnh. Âm khí không thông, xương nhức. Dương thông trước thì sợ lạnh, âm thông trước thì tê dại, âm dương tương đắc, khí sẽ vận hành. Đại khí (Tông khí trong hung) một khi đã chuyển, khí sẽ tan. Thực thì trung tiện, hư thì tiểu són, gọi là khí phần.

ĐIỀU 29

Khí phần, dưới Tâm rắn, lớn như cái mâm, như cái chén úp, do thủy ẩm sinh ra. Quế Chi Khử Thược Dược Ma Hoàng Tế Tân Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy.

QUẾ CHI KHỬ THƯỢC DƯỢC MA HOÀNG TẾ TÂN PHỤ TỬ THANG

Quế chi 3 lượng Sinh khương 3 lượng

Cam thảo 2 lượng Đại táo 12 quả

Ma hoàng 2 lượng Tế tân 2 lượng

Phụ tử (bào) 1 củ

Sắc Ma hoàng trước với 7 thăng nước, vớt bỏ bọt, cho các thuốckia vào, sắc còn 2 thăng, chia 3 lần, uống nóng. Khi mồ hôi ra, có cảm giác như trùng bò trong da thì khỏi bệnh.

ĐIỀU 30

Dưới Tâm cứng, lớn như cái mâm, như cái chén, đó là do thủy ẩm gây ra. Chỉ Truật Thang chủ về bệnh ấy.

CHỈ TRUẬT THANG

Chỉ thực 7 quả Bạch truật 2 lượng

Dùng 5 thăng nước, sắc còn 3 thăng, uống nóng 3 lần, trong bụng chuyển là tan.

PHỤ PHƯƠNG

PHÒNG KỶ HOÀNG KỶ THANG (Ngoại Đài Bí Yếu): Trị Phong thủy, mạch Phù là bệnh ở biểu, người bệnh hoặc đầu ra mồ hôi, biểu không có bệnh gì khác, người bệnh chỉ hạ trọng, từ thắt lưng trở lên hòa, từ thắt lưng trở xuống sưng đến âm khí, khó co duỗi.

 

THIÊN THỨ MƯỜI LĂM

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH HOÀNG ĐẢN

ĐIỀU 1

Thốn khẩu mạch Phù mà Hoãn, Phù là phong, Hoãn là Tý, Tý không phải là Trúng phong, tay chân bứt rứt khó chịu, sắc của Tỳ phải là sắc vàng, do ứ nhiệt gây nên).

ĐIỀU 2

Phu dương mạch Khẩn mà Sác, Sác là nhiệt, nhiệt thì tiêu cốc (thường ăn, hay đói), Khẩn thì hàn, ăn vào sinh đầy. Mạch bộ xích Phù là Thận bị tổn thương. Phu dương mạch Khẩn là Tỳ bị tổn thương. Phong hàn chọi nhau, ăn cơm vào thì bị choáng váng, cốc khí không tiêu, trong Vị có thấp nhiệt, trọc khí chảy xuống, tiểu tiện không thông, Âm bị hàn, nhiệt chảy vào Bàng quang, mình mẩy đều vàng, gọi là chứng Cốc đản.

Trên trán đen, hơi ra mồ hôi, lòng bàn tay, bàn chân nóng, sốt về chiều, Bàng quang đau quặn, tiểu không thông, gọi là chứng Nữ lao đản. Bụng giống như bệnh thủy thì không trị được.

Trong Tâm bứt rứt mà nóng, không ăn được, thỉnh thoảng muốn nôn, gọi là chứng Tửu đản.

ĐIỀU 3

Dương minh bệnh, mạch Trì, ăn khó no, no thì phát phiền, đầu choáng váng, tiểu tiện hẳn khó, đó là muốn phát bệnh Cốc đản, tuy cho xổ đi nhưng bụng vẫn đầy, sở dĩ như vậy, vì là mạch Trì.

ĐIỀU 4

Bệnh Tửu Hoàng đản, tiểu sẽ không thông, trong tim nóng, dưới bàn chân nóng, là chứng của nó.

Điều 5

Người bị Tửu hoàng đản, hoặc không nóng, nói không loạn, thần trí yên tịnh, bụng đầy, muốn nôn, mũi khô ráo, mạch Phù thì trước hết nên dùng phép thổ. Mạch huyền, thì trước hết nên dùng phép hạ.

ĐIỀU 6

Tửu đản, trong tim nóng, muốn nôn, cho nôn thì sẽ khỏi bệnh.

ĐIỀU 7

Tửu đản, dùng phép hạ, lâu ngày thành bệnh Hắc đản, mắt xanh, mặt đen, trong Tâm giống như là ăn tỏi, đại tiện phân đen, da mất cảm giác, mạch Phù, Nhược tuy đen nhưng hơi vàng, cho nên biết.

ĐIỀU 8

Thầy nói: Bệnh Hoàng đản, sốt, phiền, suyễn, bụng đầy, miệng khô, vì lúc bệnh phát, thì hỏa cướu mồ hôi đi, là sở đắc của hai nhiệt. Những người mắc bệnh Hoàng đản thì do thấp gây nên. Toàn thân phát nhiệt mà vàng, trong bụng nóng, là nhiệt ở lý, nên dùng phép hạ.

ĐIỀU 9

Mạch Trầm, khát muốn uống nước, tiểu không thông đều phát vàng da.

ĐIỀU 10

Bụng đầy, lưỡi mầu vàng không tươi, nóng nảy không ngủ được, đều thuộc bệnh Hoàng đản kinh niên.

ĐIỀU 11

Bệnh Hoàng đản, 18 ngày là một chu kỳ, trị nó 10 ngày thì giảm. Ngược lại, nếu không giảm mà lại nặng thêm thì khó trị.

ĐIỀU 12

Đản mà khát thì khó trị, Đản mà không khát có thể trị. Bệnh phát ở âm bộ, người bệnh sẽ nôn mửa, bệnh phát ở dương bộ, người bệnh lạnh run mà phát sốt.

ĐIỀU 13

Bệnh Cốc đản, nóng lạnh, không ăn, ăn vào thì đầu choáng váng, trong ngực không yên, lâu lâu phát vàng da, đó là Cốc đản, Nhân Trần Cao Thang chủ về bệnh ấy.

NHÂN TRẦN CAO THANG

Nhân trần cao 6 lượng Chi tử 14 quả

Đại hoàng 2 lượng

Dùng 1 đấu nước, trước sắc Nhân trần giảm 6 thăng cho 2 vị kia vào sắc còn 3 thăng, bỏ bã, phân 3, uống nóng, 3 lần. Tiểu tiện nên lợi, tiểu ra như nước Bồ kết, sắc đỏ tươi. Một đêm bụng giảm, sắc vàng theo tiểu tiện mà ra.

ĐIỀU 14

Người bị bệnh Hoàng đản, chiều về thì phát sốt, mà lại sợ lạnh, đó là vì phòng dục sinh ra bệnh, Bàng quang đau dữ dôi, bụng dưới đầy, khắp mình vàng, trên trán đen, dưới chân nóng, nhân đó gây ra bệnh Hắc đản, bụng trướng như bị thủy thũng, đại tiện phân đen, có khi lỏng, đó là bệnh Nữ lao chứ không phải bệnh thủy. Bụng đầy thì khó trị, Tiêu Thạch Phàn Thạch Tán chủ về bệnh ấy.

TIÊU THẠCH PHÀN THẠCH TÁN

Tiêu thạch - Phàn thạch (đốt), lượng bằng nhau.

Tán bột, dùng nước cháo Đại mạch uống 1 muỗng, ngày 3 lần, bệnh theo đại tiện ra, tiểu tiện màu vàng, đại tiện đen là đúng.

ĐIỀU 15

Tửu Hoàng đản, trong Tâm não nùng hoặc nóng, đau. Chi Tử Đại Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

CHI TỬ ĐẠI HOÀNG THANG

Chi tử 14 quả Đại hoàng 1 lượng

Chỉ thực 5 quả Đậu thị 1 thăng

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 2 thăng, phân 3, uống nóng.

ĐIỀU 16

Người mắc bệnh Hoàng đản, chỉ nên dùng phép lợi tiểu, nếu mạch Phù, nên dùng phép phát hãn để giải, Quế Chi Gia Hoàng Kỳ Thang chủ về bệnh ấy.

QUẾ CHI GIA HOÀNG KỲ THANG

Quế chi 3 lượng Thược dược 3 lượng

Cam thảo 2 lượng Sinh khương 3 lượng

Đại táo 12 quả Hoàng kỳ 2 lượng

Dùng 8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, một lát sau ăn cháo nóng hơn 1 thăng, để hỗ trợ sức thuốc, uống nóng, cho hơi ra mồ hôi. Nếu không có mồ hôi, lại uống thêm.

ĐIỀU 17

Các chứng vàng da, dùng Trư Cao Phát Tiễn để trị.

TRƯ CAO PHÁT TIỄN

Trư cao nửa cân Loạn phát (bằng trứng gà) 3 nắm

Hòa chung rồi sắc, tóc tan hết là thuốc thành, chia làm 2 lần uống. Bệnh theo đường tiểu thoát ra.

ĐIỀU 18

Bệnh Hoàng đản, Nhân Trần Ngũ Linh Tán làm chủ.

NHÂN TRẦN NGŨ LINH TÁN

Nhân trần cao (bột) 10 phân Ngũ linh tán 5 phân

2 vật hòa chung, trước khi ăn cơm , uống 1 muỗng, ngày 3 lần.

ĐIỀU 19

Hoàng đản, bụng đầy, tiểu không thông mà đỏ, mồ hôi tự ra, đó là biểu hòa, lý thực, nên dùng Đại Hoàng Tiêu Thạch Thang.

ĐẠI HOÀNG TIÊU THẠCH THANG

Đại hoàng 4 lượng Hoàng bá 4 lượng

Tiêu thạch 4 lượng Chi tử 15 quả

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Tiêu thực thạch vào, lại sắc còn 1 thăng, uống hết 1 lần.

ĐIỀU 20

Bệnh Hoàng đản, tiểu tiện không đổi mầu, muốn tự thông, bụng đầy mà suyễn, không thể trừ nhiệt, nhiệt trừ thì sẽ bị nôn ói. Nêó có nôn, Tiểu Bán Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

TIỂU BÁN HẠ THANG

Bán hạ 1 thăng Sinh khương nửa thăng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 1 thăng rưỡi, chia 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 21

Các chứng vàng da, bụng đầy mà nôn, nên dùng Sài Hồ Thang (tức Tiểu Sài Hồ Thang).

TIỂU SÀI HỒ THANG PHƯƠNG

Sài hồ nửa cân Hoàng cầm 3 lượng

Nhân sâm 3 lượng Cam thảo 3 lượng

Bán hạ nửa cân Sinh khương 3 lượng

Đại táo 12 quả

Dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc còn 6 thăng, bỏ bã, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 22

Con trai bị Hoàng đản, tiểu tiện tự thông, nên dùng Tiểu Kiến Trung Thang

TIỂU KIẾN TRUNG THANG

Quế chi 3 lượng (bỏ vỏ) Cam thảo 1 lượng (nướng)

Đại táo 12 quả Thược dược 6 lượng

Sinh khương 3 lượng Giao di 1 thăng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, cho Giao di vào, lại sắc nhỏ lửa cho tan ra, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

PHỤ PHƯƠNG

+ QUA ĐẾ TÁN Trị các chứng Hoàng đản.

Qua đế 1 phân (rang vàng) Xích tiểu đậu 1 phân (đun)

Tán bột, dùng 7 hợp Hương thị sắc còn nước, dùng 1 muỗng tán, uống nóng. Không thổ, thêm lên chút ít, thổ được thì thôi (Người rong huyết và người hư nhược không được dùng).

+ MA HOÀNG THUẦN TỬU THANG (Thiên Kim Phương): Trị Hoàng đản.

Ma hoàng 3 lượng. Dùng rượu tốt 5 thăng, sắc còn 2 thăng rưỡi, uống hết 1 lần. Mùa đông dùng rượu, mùa xuân dùng nước sôi.

 

THIÊN THỨ MƯỜI SÁU

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH KINH,

QÚY, THỔ NỤC, HẠ HUYẾT, HUNG MÃN, Ứ HUYẾT

ĐIỀU 1

Mạch Thốn khẩu Động mà Nhược, Động tức là Kinh, Nhược tức là Qúy.

ĐIỀU 2

Thầy nói Xích mạch Phù, con người quáng vàng, Máu cam chưa dứt, quáng vàng hết, con người trong sáng, biết là máu cam đã dứt.

ĐIỀU 3

Từ mùa Xuân đến Hạ mà chảy máu cam là do Thái dương, từ Thu đến Đông mà chảy máu cam là do Dương minh.

ĐIỀU 4

Người vốn có bệnh chảy máu cam, không thể dùng phép phát hãn, mồ hôi ra thì trên trán lõm xuống, mạch Khẩn Cấp, mắt nhìn thẳng, không chớp được, không ngủ được.

ĐIỀU 5

Bệnh nhân mặt không có sắc máu, không nóng lạnh, mạch Trầm, Huyền là chảy máu cam. Mạch Phù, Nhược, đè tay vào thì mạch mất là chứng tiêu ra máu. Bứt rứt, ho, thì sẽ nôn ra máu.

ĐIỀU 6

Thổ huyết, ho nghịch, khí đưa lên, mạch Sác mà có nhiệt, không nằm được là chết.

ĐIỀU 7

Người nghiện rượu khi ho, mà bị thổ huyết. Đó là do uống quá độ sinh ra.

ĐIỀU 8

Thốn khẩu mạch Huyền mà Đại, Huyền là giảm, Đại là Khổng (Khâu), Giảm là hàn, Khâu là hư, hàn, hư chọi nhau, gọi là cách, ở đàn bà thì bán sản, lậu hạ, ở đàn ông thì vong huyết.

ĐIỀU 9

Vong huyết, không thể phát biểu. Mồ hôi mà ra sẽ bị lạnh run.

ĐIỀU 10

Người bệnh ngực đầy, môi héo, lưỡi xanh, miệng khôchỉ muốn súc miệng, không muốn nuốt, không nóng lạnh, mạch Vi, Đại mà Trì, bụng không đầy, người bệnh nói năng tự mãn, là có ứ huyết.

ĐIỀU 11

Người bệnh như nhiệt, phiền đầy, miệng khô ráo mà khát, mạch lại không có hiện tượng nhiệt, đó là chứng Âm phục, bệnh do ứ huyết, nên dùng phép xổ hạ.

ĐIỀU 12

Hỏa tà, dùng Quế Chi Khử Thược Dược Gia Thục Tất Mẫu Lệ Long Cốt Cứu Nghịch Thang để trị.

QUẾ CHI KHỬ THƯỢC DƯỢC GIA THỤC TẤT MẫU LỆ LONG CỐT CỨU NGHỊCH THANG

Quế chi (bỏ vỏ) 3 lượng Cam thảo (nướng) 2 lượng

Sinh khương 3 lượng Mẫu lệ 5 lượng

Long cốt 4 lượng Đại táo 12 quả

Thục tất (rửa cho khỏi tanh) 3 lượng

Dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc Thục tất trước, còn 8 thăng, cho các thuốc vào, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống nóng 2 thăng.

ĐIỀU 13

Dưới Tâm hồi hộp, Bán Hạ Ma Hoàng Hoàn chủ về bệnh ấy.

BÁN HẠ MA HOÀNG HOÀN

Bán hạ, Ma hoàng lượng bằng nhau.

Tán bột, luyện mật làm hoàn to bằng hạt đậu, uống nóng, mỗi lần 3 hoàn. Ngày 3 lần.

ĐIỀU 14

Thổ huyết không ngớt, Bá Diệp Thang chủ về bệnh ấy.

BÁ DIỆP THANG

Bá diệp 3 lượng Can khương 3 lượng Ngại diệp 3 nắm

Dùng 5 thăng nước, 1 thăng Mã thông trấp, sắc còn 1 thăng, phân làm 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 15

Hạ huyết, lúc đầu ra phân, sau ra huyết, đó là chứng viễn huyết. Hoàng Thổ Thang chủ về bệnh ấy.

HOÀNG THỔ THANG

(Cũng chủ thổ huyết, Nục huyết)

Cam thảo 3 lượng Càn địa hoàng 3 lượng

Bạch truật 3 lượng Phụ tử (bào) 3 lượng

A giao 3 lượng Hoàng cầm 3 lượng

Hoàng thổ trong bếp nửa cân

Dùng 8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, chia làm 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 16

Hạ huyết, lúc đầu ra huyết, sau mới ra phân, đó là chứng cận huyết, Xích Tiểu Đậu Đương Quy Tán chủ về bệnh ấy.

XÍCH TIỂU ĐẬU ĐƯƠNG QUY TÁN

Xích tiểu đậu 3 thăng (ngâm cho mọc mầm, phơi khô), Đương quy. Hai vị Tán bột, uống 2 muỗng với tương thủy (nấu chín gạo, đổ vào trong nước lạnh, ngâm 5, 6 ngày, chế thành, vị chua, sắc trắng). Ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 17

Tâm khí không đủ, thổ huyết, chảy máu cam, Tả Tâm Thang chủ về bệnh ấy.

TẢ TÂM THANG

Đại hoàng 2 lượng Hoàng liên 2 lượng Hoàng cầm 1 lượng

Sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng, uống hết 1 lần.

 

THIÊN THỨ MƯỜI BẢY

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH ẨU THỔ, UẾ, HẠ LỢI

ĐIỀU 1

Người vốn có chứng nôn mửa lại có nhọt mủ, không được trị nôn mửa. Mủ hết thì bệnh sẽ khỏi.

ĐIỀU 2

Trước nôn rồi khát, đó là muốn giải, trước khát rồi nôn, là vì dưới Tâm có chi ẩm. Đó là thuộc chứng Ẩm. Người nôn mửa kinh niên vốn khát, nay lại không khát, vì dưới Tâm có chi ẩm. Đó là thuộc chứng chi ẩm.

ĐIỀU 3

Hỏi Người bệnh mạch Sác, Sác là nhiệt, đáng lẽ phải có chứng tiêu cốc, đòi uống, nhưng lại nôn mửa là tại sao ?

Thầy nói: Vì dùng phép phát hãn, khiến cho dương yếu, Cách khí hư, mạch lại Sác. Sác là khách nhiệt, không thể tiêu cốc, vì trong Vị hư hàn.Mạch Huyền là hư vậy, Vỵ khí không dư, sáng ăn vào, chiều thổ, biến thành chứng phản Vị. Hàn ở trên, thầy thuốc lại dùng phép hạ, khiến cho mạch trở lại Huyền, cho nên gọi là hư.

ĐIỀU 4

Thốn khẩu mạch Vi mà Sác, Vi thì không có khí, không khí thì vinh hư, vinh hư thì huyết không đủ, huyết không đủ thì trong ngực lạnh.

ĐIỀU 5

Phu dương mạch Phù mà Sáp, Phù thì là hư, Sáp thì thương Tỳ, Tỳ thương thì không kiện vận được, sáng ăn, chiều nôn ra, chiều ăn, sáng nôn ra, thức ăn cũ không hóa, gọi là chứng Phản Vị. Mạch Khẩn mà Sác, bệnh khó trị.

ĐIỀU 6

Người bệnh muốn thổ, không thể dùng phép hạ.

ĐIỀU 7

Nấc cục mà bụng đầy, xem đại, tiểu tiện, biết bộ phận nào không lợi, giúp cho lợi đi thì khỏi bệnh.

ĐIỀU 8

Hạ mà hung đầy, Thù Du Thang chủ về bệnh ấy.

THÙ DU THANG

Ngô thù du 1 thăng, Nhân sâm 3 lượng, Sinh khương 6 lượng, Đại táo 12 quả

Sắc với 5 thăng nước, còn 3 thăng, uống nóng 7 hợp, ngày 3 lần.

ĐIỀU 9

Nôn khan, thổ ra bọt dãi, đầu đau, Thù Du Thang chủ về bệnh ấy.

THÙ DU THANG

Ngô thù du 1 thăng, Nhân sâm 3 lượng, Sinh khương 6 lượng, Đại táo 12 quả

Sắc với 5 thăng nước, còn 3 thăng, uống nóng 7 hợp, ngày 3 lần.

ĐIỀU 10

Ụa mà ruột kêu, dưới Tâm bỉ, Bán Hạ Tả Tâm Thang chủ về bệnh ấy.

BÁN HẠ TẢ TÂM THANG

Bán hạ (rửa) nửa thăng Hoàng cầm 3 lượng

Can khương 3 lượng Nhân sâm 3 lượng

Hoàng liên 1 lượng Đại táo 12 quả

Cam thảo (nướng) 2 lượng

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 6 thăng, bỏ bã, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 11

Nôn khan mà lợi, Hoàng Cầm Gia Bán Hạ Sinh Khương Thang chủ về bệnh ấy.

HOÀNG CẦM GIA BÁN HẠ SINH KHƯƠNG THANG

Hoàng cầm 3 lượng Cam thảo (nướng) 2 lượng

Thược dược 2 lượng Bán hạ nửa thăng

Sinh khương 3 lượng Đại táo 12 quả

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, uống nóng 1 thăng, ngày 2 lần, đêm 1 lần.

ĐIỀU 12

Các chứng nôn mửa, thức ăn không xuống được, dùng bài Tiểu Bán Hạ Thang.

TIỂU BÁN HẠ THANG

Bán hạ 1 thăng Sinh khương nửa thăng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 1 thăng rưỡi, chia 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 13

Ẩu thổ mà bệnh ở trên cách, sau đó muốn uống nước, là bệnh giải, mau chóng cho uống nước. Muốn uống nước, dùng bài Trư Linh Thang.

TRƯ LINH THANG

Trư linh - Phục linh - Bạch truật lượng bằng nhau

Tán bột, uống 1 muỗng, ngày 3 lần.

ĐIỀU 14

Nôn mửa mà mạch Nhược, tiểu tiện thông, mình có hơi nhiệt, thấy Quyết, khó trị. Tứ Nghịch Thang Chủ về bệnh ấy.

TỨ NGHỊCH THANG

Phụ tử (sống) 1 củ Can khương 1 lượng rưỡi

Cam thảo (nướng) 2 lượng

Dùng 3 thăng nước, sắc còn 1 thăng 2 hợp , bỏ bã, phân uống nóng 2 lần. Người mạnh có thể dùng Đại Phụ tử 1 củ, Can cương 3 lượng.

ĐIỀU 15

Nôn mà phát sốt, Tiểu Sài Hồ Thang chủ về bệnh ấy.

TIỂU SÀI HỒ THANG PHƯƠNG

Sài hồ nửa cân Hoàng cầm 3 lượng

Nhân sâm 3 lượng Cam thảo 3 lượng

Bán hạ nửa cân Sinh khương 3 lượng

Đại táo 12 quả

Dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc còn 6 thăng, bỏ bã, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 16

Phản Vị, Ẩu thổ, Đại Bán Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

“Thiên Kim” viết: Trị phản Vỵ không nạp được đồ ăn, ăn vào thổ ngay.

“Ngoại Đài” viết: Trị nôn, dưới Tâm bỉ, cứng.

ĐẠI BÁN HẠ THANG

Bán hạ (rửa) 2 thăng Nhân sâm 3 lượng Bạch truật 1 thăng

3 vị trên dùng 1 đấu 2 thăng nước, hòa mật vào, đánh 240 lần, sắc thuốc, lấy 2 thăng rưỡi, uống nóng 1 thăng, phần còn lại uống lần thứ 2.

ĐIỀU 17

Ăn xong thì nôn ngay, Đại Hoàng Cam Thảo Thang chủ về bệnh ấy.

ĐẠI HOÀNG CAM THẢO THANG

Đại hoàng 4 lượng Cam thảo 1 lượng

Sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng, chia làm 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 18

Phản Vỵ, nôn mà khát muốn uống nước, Phục Linh Trạch Tả Thang chủ về bệnh ấy.

.

PHỤC LINH TRẠCH TẢ THANG

Phục linh nửa cân Trạch tả 4 lượng

Cam thảo 2 lượng Quế chi 2 lượng

Bạch truật 3 lượng Sinh khương 4 lượng

Dùng 1 đấu nước sắc còn 3 thăng, cho Trạch tả vào, sắc còn 2 thăng rưỡi, uống nóng 8 hợp, ngày 3 lần.

ĐIỀU 19

Thổ rồi, khát muốn được nước, mà tham uống, Văn Cáp Thang chủ về bệnh ấy.

Bài này cũng trị chứng vi phong, mạch Khẩn, đầu đau.

VĂN CÁP THANG

Văn cáp 5 lượng Ma hoàng 3 lượng

Cam thảo 3 lượng Sinh khương 3 lượng

Thạch cao 5 lượng Hạnh nhân 50 hạt

Đại táo 12 quả

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 2 thăng, uống nóng 1 thăng, mồ hôi ra thì khỏi bệnh.

ĐIỀU 20

Nôn khan, thổ nghịch, thổ ra bọt dãi, Bán Hạ Can Khương Tán chủ về bệnh ấy.

BÁN HẠ CAN KHƯƠNG TÁN

Bán hạ Can khương, lượng bằng nhau.

Tán bột, lấy 1 muỗng, sắc với 1 thăng rưỡi tương thủy, còn 7 hợp, uống hết 1 lần.

ĐIỀU 21

Người bệnh trong bụng tựa như suyễn, không suyễn tựa như ói, không ói, tựa như nấc, không nấc, tự biết trong hung phiền muộn đến cực độ, có cảm giác không chịu nổi. Sinh Khương Bán Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

SINH KHƯƠNG BÁN HẠ THANG

Bán hạ nửa thăng Sinh khương trấp 1 thăng

Sắc Bán hạ với 3 thăng nước, còn 2 thăng, cho Sinh khương trấp vào, sắc còn 1 thăng rưỡi, để hơi nguội, chia làm 4 lần uống, ngày 3, đêm 1. Dứt được thì ngừng uống.

ĐIỀU 22

Ói khan, nấc, nếu tay chân quyết, Quất Bì Thang chủ về bệnh ấy.

QUẤT BÌ THANG

Quất bì 4 lượng Sinh khương nửa cân

Sắc với 7 thăng nước còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, thuốc xuống họng là khỏi lành.

ĐIỀU 23

Nôn nghịch, Quất Bì Trúc Nhự Thang chủ về bệnh ấy.

QUẤT BÌ TRÚC NHỰ THANG

Quất bì 2 cân Trúc nhự 2 cân

Nhân sâm 1 lượng Cam thảo 5 lượng

Sinh khương nửa cân Đại táo 30 quả

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 2 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 24

6 phủ, khí tuyệt ở ngoài, tay chân lạnh, khí nghịch lên, ống chân rút lại. Năm tạng, khí tuyệt bên trong, đi tiêu không cầm, nếu dùng phép hạ mạnh, tay chân sẽ tê dại.

ĐIỀU 25

Tiêu chảy, mạch Trầm, Huyền thì phần dưới nặng nề. Mạch Đại là bệnh chưa ngưng, mạch Vi, Nhược, Sác là muốn tự ngừng, tuy phát nhiệt, nhưng không chết.

ĐIỀU 26

Hạ lợi, tay chân quyết lạnh, không có mạch, cứu mà người bệnh không thấy ấm lại. Nếu mạch không phục hồi trở lại, mà lại hơi bị suyễn là chết. Mạch của Thiếu âm thua mạch của Phu dương là thuận.

ĐIỀU 27

Hạ lợi, có hơi sốt mà khát, mạch Nhược là bệnh tự khỏi.

ĐIỀU 28

Hạ lợi, mạch Sác, có hơi nhiệt, hãn ra, giờ tự lành. Nếu mạch Khẩn là bệnh chưa giải.

ĐIỀU 29

Hạ lợi, mạch Sác mà khát là tự khỏi. Nếu xem mạch không bớt, thì sẽ tiêu ra máu mủ, vì có nhiệt cho nên như vậy.

ĐIỀU 30

Hạ lợi, mà mạch lại Huyền, phát nhiệt, mình ra mồ hôi là bệnh tự khỏi.

ĐIỀU 31

Hạ lợi mà mất khí, nên cho lợi tiểu tiện.

ĐIỀU 32

Hạ lợi, mạch bộ thốn lại Phù, Sác, mạch bộ Xích mạch tự Sáp thì sẽ tiêu ra mủ máu.

ĐIỀU 33

Hạ lợi thanh cốc (tiêu chảy phân sống), không thể dùng phép công biểu được, nếu mồ hôi ra thì sẽ bị trướng đầy.

ĐIỀU 34

Hạ lợi, mạch Trầm mà Trì, người bệnh mặt hơi đỏ, mình có hơi nhiệt, hạ lợi thanh cốc, sẽ bị chứng uất mạo (trên đầu nặng như đội cái gì, trong ngực bứt rứt), mồ hôi ra thì bệnh giải, bệnh nhân sẽ hơi bị quyết.. Sở dĩ như vậy là vì trên mặt hơi có dương mà bên dưới hư.

ĐIỀU 35

Hạ lợi rồi mạch tuyệt, tay chân quyết lãnh, 1 ngày, 1 đêm mạch trở lại, tay chân ấm là sống, mạch không trở lại là chết.

ĐIỀU 36

Hạ lợi, bụng trướng đầy, thân thể đau nhức, trước tiên nên ôn lý, sau đó mới công biểu. Ôn lý nên dùng Tứ Nghịch Thang, công biểu nên dùng Quế Chi Thang.

QUẾ CHI THANG

Quế chi (bỏ vỏ) 3 lượng Thược dược 3 lượng

Cam thảo 2 lượng Sinh khương 3 lượng

Đại táo 12 quả

5 vị trên xé ra, dùng 7 thăng nước, sắc lửa nhỏ lấy 3 thăng, bỏ bã, uống vừa ấm 1 thăng, uống rồi một lát ăn cháo loãng 1 thăng, đắp chăn 1 lúc, khắp mình hơi ra mồ hôi là tốt, không nên cho ra dầm dề như nước, nếu uống 1 lần, ra mồ hôi, bệnh bớt, thì không uống phần còn lại.

ĐIỀU 37

Hạ lợi, 3 bộ mạch đều bình, đè tay vào vùng dưới tim thấy cứng, dùng phép hạ ngay, dùng Đại Thừa Khí Thang.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 38

Hạ lợi, mạch Trì mà Hoạt là bệnh thực. Tiêu chảy chưa muốn ngừng, nên dùng phép hạ ngay, nên dùng Đại Thừa Khí Thang.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 39

Tiêu chảy mà mạch Hoạt, nên tống khứ nó đi, dùng phép hạ thì khỏi. Nên dùng Đại Thừa Khí Thang.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 40

Tiêu chảy đã bớt, đến thời kỳ nào đó phát trở lại, vì bệnh chưa hết, nên dùng phép hạ, dùng bài Đại Thừa Khí Thang.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 41

Tiêu chảy, nói xàm, phân khô cứng, Tiểu Thừa Khí Thang chủ về bệnh ấy.

TIỂU THỪA KHÍ THANG

Đại hoàng 4 lượng Hậu phác (nướng) 3 lượng Chỉ thực (thứ lớn, nướng) 3 quả

Sắc với 6 thăng nước, còn 4 thăng 2 hợp, bỏ bã, chia làm 2 lần, uống nóng. Đi tiêu được thì thôi.

ĐIỀU 42

Tiêu chảy, tiêu ra máu mủ, Đào Hoa Thang chủ về bệnh ấy.

Đào Hoa Thang

Xích thạch chi 1 cân (nửa để nguyên, nửa tán nhuyễn), Can khương 1 lượng, Ngạnh mễ 1 thăng.

Sắc với 7 thăng nước cho chín gạo là được, bỏ bã, lấy 7 cáp trộn với 1 thìa bột Xích thạch chi, uống ấm, ngày 3 lần. nếu uống lần đầu đã khỏi thì không uống nữa.

ĐIỀU 43

Nhiệt lỵ hạ trọng, Bạch Đầu Ông Thang chủ về bệnh ấy.

BẠCH ĐẦU ÔNG THANG

Bạch đầu ông 2 lượng Hoàng tiên 3 lượng

Hoàng Bá 3 lượng Tần bì 3 lượng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 2 thăng, bỏ bã, uống nóng 1 thăng, không bớt, lại uống.

ĐIỀU 44

Tiêu chảy rồi lại phiền, đè tay vào dưới Tâm mềm, là hư phiền , Chi Tử Xị Thang chủ về bệnh ấy.

CHI TỬ XỊ THANG

Chi tử 14 quả Hương xịị (bọc vải) 4 hợp

Sắc Chi tử trước với 4 thăng nước, còn 2 thăng rưỡi, cho Hương xị vào sắc còn 1,5 thăng, chia làm 3 lần uống nóng, thổ được thì thôi.

ĐIỀU 45

Tiêu chảy thanh cốc, trong hàn, ngoài nhiệt, hạn ra mà Quyết. Thông Mạch Tứ Nghịch Thang chủ về bệnh ấy.

THÔNG MẠCH TỨ NGHỊCH THANG

Phụ tử (Thứ lớn, để sống) 1 củ, Cam thảo (nướng) 2 lượng, Can khương 3 lượng (người khoẻ 4 lượng).

Sắc với 3 thăng nước còn 1 thăng 2 hợp, bỏ bã, chia 2 lần, uống nóng.

ĐIỀU 46

Tiêu chảy, Phế đau, Tử Sâm Thang chủ về bệnh ấy.

TỬ SÂM THANG

Tử sâm nửa cân Cam thảo 3 lượng

Sắc Tử sâm trước với 5 thăng nước còn 2 thăng. Cho Cam thảo vào sắc còn 1,5 thăng, chia làm 3 lần, uống nóng.

ĐIỀU 47

Khí lợi (khí thoát theo đường đại tiện ra ngoài), Kha Lê Lặc Tán chủ về bệnh ấy.

KHA LÊ LẶC TÁN

Kha lê lặc 10 quả (lùi)

Tán bột, hòa nước cháo uống, uống 1 hơi.

PHỤ PHƯƠNG

+ Tiểu Thừa Khí Thang (Thiên Kim Dực): Trị đại tiện không thông, ói luôn, nói xàm.

+ Hoàng Cầm Thang (Ngoại Đài Bí Yếu): Trị nôn khan, tiêu chảy.

Hoàng cầm 2 lượng Nhân sâm 2 lượng

Càn dương 2 lượng Quế chi 1 lượng

Đại táo 12 quả Bán hạ nửa thăng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 3 thăng, phân 3, uống nóng.

 

THIÊN THỨ MƯỜI TÁM

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH SANG UNG,

TRƯỜNG UNG, TẨM DÂM

ĐIỀU 1

Các mạch Phù, Sác, đáng lẽ phát nhiệt, ngược lại ớn lạnh, sợ lạnh, nếu có chỗ đau, chỗ đó sẽ phát Ung.

ĐIỀU 2

Thầy nói Các loại ung thũng, muốn biết có mủ hay không mủ, lấy tay đè chỗ sưng, nóng là có mủ, không nóng là không mủ.

ĐIỀU 3

Trường ung làm nên bệnh, mình mẩy tróc vẩy, da co rút, đè tay vào mềm, giống như thũng, bụng không có tích tụ (không có khối u), mình không nóng, mạch Sác đó là trong Trường có mụn mủ. Ý Dĩ Phụ Tử Bại Tương Tán chủ về bệnh ấy.

Ý DĨ PHỤ TỬ BẠI TƯƠNG TÁN

Ý dĩ nhân 10 phân Phụ tử 2 phân Bại tương 5 phân

Tán bột, lấy 1 muỗng bột, hòa 2 thăng nước, sắc giảm nửa, uống 1 hơi, tiểu tiện nên xuống.

ĐIỀU 4

Trường ung, thiếu phúc thũng, bĩ, đè tay vào, đau như đau lậu, tiểu tiện tự điều hòa, thường thường phát nhiệt, tự hãn ra, lại sợ lạnh, mạch Trì, Khẩn, mủ chưa thành, có thể hạ đi, nên có huyết. Mạch Hồng, Sác, mủ đã thành, không thể hạ vậy. Đại Hoàng Mẫu Đơn Thang chủ về bệnh ấy.

ĐẠI HOÀNG MẪU ĐƠN THANG

Đại hoàng 4 lượng Mẫu đơn 1 lượng

Đào nhân 50 hạt Qua tử nửa thăng

Mang tiêu 3 hợp

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 1 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, lại sắc sôi, uống 1 hơi, có mủ, hạ mủ, không mủ, hạ huyết.

ĐIỀU 5

Thầy nói Mạch Thốn khẩu Phù, Vi mà Sáp, đáng lẽ phải vong huyết, nếu không thì ra mồ hôi. Giả sử không có mồ hôi thì sao ?

Đáp rằng: Nếu mình có ghẻ mụn, bị dao búa làm thương, mất máu cho nên gây ra như vậy.

ĐIỀU 6

Bệnh Kim sang, Vương Bất Lưu Hành Tán chủ về bệnh ấy.

VƯƠNG BẤT LƯU HÀNH TÁN

Vương bất lưu hành (hái vào ngày 8 tháng 8) 10 phân

Sóc diệu tế diệp (hái vào ngày 7 tháng 7) 10 phân

Đông nam tang căn bạch bì (hái vào ngày 3 tháng 3) 10 phân

Cam thảo 18 phân Hoàng cầm 2 phân

Can khương 2 phân Hậu phác 2 phân

Thược dược 2 phân

Xuyên tiêu (bỏ mắt và hạt nhọn, sao bỏ mồ hôi) 3 phân

3 vị trên đốt tồn tính đừng cho cháy ra tro, đều để riêng giã, rây. Trộn chung, tán bột. Miệng vết loét nhỏ, bôi lên, Miệng vết loét lớn cho uống 1 muỗng. Sản hậu cũng có thể uống. Nếu phong hàn, không dùng Tang căn bạch bì. 3 vị trước đều phơi trong râm 100 ngày.

BÀI NÙNG TÁN

Chỉ thực 16 quả Thược dược 6 phân Cát cánh 2 phân

Tán bột, lấy tròng đỏ một trứng gà, dùng bột thuốc bằng với tròng đỏ trứng, đánh nhuyễn, uống ngày 1 lần.

BÀI NÙNG THANG

Cam thảo 2 lượng Cát cánh 3 lượng

Sinh khương 1 lượng Đại táo 10 quả

Sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng, uống 5 hợp, ngày 2 lần.

ĐIỀU 7

Tẩm dâm sang, Hoàng Liên Phấn chủ về bệnh ấy.

ĐIỀU 8

Tẩm dâm sang, từ miệng chảy đến tứ chi, có thể trị, từ tứ chi chảy vào miệng, không thể trị.

 

THIÊN THỨ MƯỜI CHÍN

MẠCH, CHỨNG, PHÉP TRỊ CÁC BỆNH PHU QUYẾT,

THỦ CHỈ TÚY THŨNG, CHUYỂN CÂN, ÂM HỒ SÁN, VƯU TRÙNG

ĐIỀU 1

Thầy nói Bệnh Phu quyết, người bệnh chỉ đi tới, không đi lui được, thích vào bắp chân sâu 3 tấc, đó là Thái dương kinh bị thương.

ĐIỀU 2

Người bệnh thường lấy ngón tay, cánh tay sưng động đậy, ấy là thân thể người bệnh động đậy. Lê Lô Cam Thảo Thang chủ về bệnh ấy.

ĐIỀU 3

Chứng chuột rút (chuyển cân) cánh tay, cẳng chân thẳng đờ, mạch từ trên xuống, Vi, Huyền, Chuyển cân nhập vào bụng. Kê thỉ bạch tán chủ về bệnh ấy.

KÊ THỈ BẠCH TÁN

Kê thỉ bạch

Tán bột, lấy 1 muỗng hòa với 6 hợp nước, uống ấm.

ĐIỀU 4

Người mắc bệnh Âm hồ sán khí, có khi thiên về nhỏ, thiên về lớn, thường thường lên xuống. Tri thù tán chủ về bệnh ấy.

TRI THÙ TÁN

Tri thù (rang sém) 14 con Quế chi nửa lượng

Tán bột, lấy 1 muỗng 8 phân, hòa nước uống, ngày 2 lần. Hoặc luyện với mật làm hoàn cũng được.

ĐIỀU 5

Hỏi Bệnh bụng đau có trùng, mạch như thế nào để phân biệt ?

Thầy nói Trong bụng đau, mạch nên Trầm mà Huyền, nếu trái lại mạch Hồng, Đại, cho nên biết là có vưu trùng.

ĐIỀU 6

Hồi trùng gây bệnh, khiến cho người bệnh thổ ra bọt dãi, tim đau, phát ra có lúc, uống đủ thứ độc dược không dứt, Cam Thảo Phấn Mật Thang chủ về bệnh ấy.

CAM THẢO PHẤN MẬT THANG

Cam thảo 2 lượng Phấn chì 1 lượng Mật 4 lượng

Sắc Cam thảo trước với 3 thăng nước, còn 2 thăng, bỏ bã, cho Phấn, Mật vào, khuấy đều, sắc như cháo loãng, uống nóng 1 thăng, bệnh giảm thì ngưng uống.

ĐIỀU 7

Bệnh hồi quyết, sẽ nôn ra giun, khiến cho người bệnh đang yên tĩnh mà lại có lúc phiền, đó là do tạng hàn, Giun đi lên, vào trong cách mạc, gây nên phiền, giây lát lại hết. Ăn vào thì nôn, rồi lại phiền, đó là do giun nghe mùi thức ăn mà chui lên, người bệnh thế nào cũng nôn ra giun.

ĐIỀU 8

Chứng Hồi quyết, Ô Mai Hoàn chủ về bệnh ấy.

Ô MAI HOÀN

Ô mai 300 cái Tế tân 6 lượng

Phụ tử (bào) 6 lượng Hoàng liên 1 cân

Đương quy 4 lượng Hoàng bá 6 lượng

Quế chi 6 lượng Nhân sâm 6 lượng

Can khương 10 lượng Thục tiêu (sao bỏ mồ hôi) 4 lượng

Tán bột, rây kỹ, hợp lại, dùng Khổ tửu ngâm Ô mai 1 đêm, bỏ hạt, chưng với 5 thăng gạo, gạo chín thì giã nát như bún, trộn với thuốc cho đều. Cho vào cối, cùng với mật, giã 2.000 chày, làm hoàn bằng hạt Ngô đồng, trước bữa ăn, uống 10 hoàn, ngày 3 lần, thêm lần đến 20 hoàn, cấm các món ăn sống lạnh, trơn nhẵn, có mùi.

THIÊN THỨ HAI MƯƠI

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ PHỤ NỮ CÓ THAI

ĐIỀU 1

Thầy nói Đàn bà được mạch tượng bình hòa, Âm mạch (Xích) Tiểu, Nhược, người khát, không ăn được, không nóng lạnh, gọi là Nhân thần (có thai). Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy. Theo phép, 60 ngày phải có chứng này, giả sử có thầy thuốc trị nghịch khiến cho thổ, hạ thêm 1 tháng, thì ngưng không cho uống thuốc nữa.

ĐIỀU 2

Đàn bà vốn có bệnh Trừng (Tích), kinh dứt chưa đến 3 tháng, mà gặp lậu hạ (huyết xuống liên miên không dứt) không dứt, thai động ở trên rốn, là Trừng cố (là bệnh Trừng tích lâu ngày không chữa được) làm hại. Có thai, 6 tháng động, trước 3 tháng, lúc kinh thủy lợi, thai vậy. Hạ huyết ấy, sau khi dứt 3 tháng, sắc bầm đen, ứ huyết vậy. Sở dĩ huyết không dứt, do Trừng không đi vậy, nên hạ Trừng, Quế Chi Phục Linh Hoàn chủ về bệnh ấy.

QUẾ CHI PHỤC LINH HOÀN

Quế chi - Phục linh - Mẫu đơn (bỏ lõi) - Thược Dược - Đào nhân (bỏ vỏ, chóp, rang). Các vị lượng bằng nhau.

Tán bột, luyện mật làm hoàn, to như phân thỏ, trước mỗi bữa ăn, uống 1 hoàn. Nếu không dứt, thêm đến 3 hoàn.

ĐIỀU 3

Đàn bà có thai 6, 7 tháng, mạch Huyền, phát nhiệt, thai càng trướng, bụng đau, sợ lạnh, thiếu phúc liêm như bị gió thổi, sở dĩ như vậy vì tử cung mở, nên dùng Phụ Tử Thang để ôn tạng.

Bài Phụ Tử Thang không thấy có trong nguyên bản.

ĐIỀU 4

Thầy nói Đàn bà có chứng Lậu hạ, bị hư thai rồi nhân đó tiếp tục hạ huyết đều không dứt, có khi đang có thai mà bị hạ huyết. Nếu như đang có thai mà trong bụng đau, đó là chứng Bào trở, Giao Ngải Thang chủ về bệnh ấy.

GIAO NGẢI THANG

Xuyên khung 2 lượng A giao 2 lượng

Cam thảo 2 lượng Ngải diệp 3 lượng

Đương quy 3 lượng Thược dược 4 lượng

Càn địa hoàng 6 lượng

Dùng 5 thăng nước, thanh tửu 3 thăng, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, cho A giao vào, quấy cho tan, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần. Không bớt, uống thêm.

ĐIỀU 5

Đàn bà mang thai, trong bụng đau quặn, Đương Quy Thược Dược Tán chủ về bệnh ấy.

ĐƯƠNG QUY THƯỢC DƯỢC TÁN

Đương quy 3 lượng Thược dược 1 cân

Phục linh 4 lượng Trạch tả nửa cân

Bạch truật 4 lượng Xuyên khung nửa cân (có chỗ ghi là 3 lượng)

Tán bột, uống 1 muỗng với rượu - Ngày 3 lần.

ĐIỀU 6

Có thai, nôn mửa không ngớt, Can Khương Nhân Sâm Bán Hạ Hoàn chủ về bệnh ấy.

CAN KHƯƠNG NHÂN SÂM BÁN HẠ HOÀN

Can khương 1 lượng Nhân sâm 1 lượng Bán hạ 2 lượng

Tán bột, dùng Sinh khương trấp làm hồ luyện thành hoàn to bằng hạt Ngô đồng, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 hoàn.

ĐIỀU 7

Có thai mà tiểu khó, ăn uống như thường, Đương Quy Bối Mẫu Khổ Sâm Hoàn chủ về bệnh ấy.

ĐƯƠNG QUY BỐI MẪU KHỔ SÂM HOÀN

Đương quy, Bối mẫu, Khổ sâm đều 4 lượng

Tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt Ngô đồng. Mỗi lần uống 3 hoàn. Thêm lần đến 10 hoàn.

ĐIỀU 8

Có thai, có thủy khí, mình nặng, tiểu tiện không lợi, gây gấy sợ lạnh, dậy, đầu choáng váng, Qùy Tử Phục Linh Tán chủ về bệnh ấy.

QÙY TỬ PHỤC LINH TÁN

Qùy tử 1 thăng Phục linh 3 lượng

Tán bột, uống 1 muỗng, ngày 3 lần, tiểu tiện thông thì khỏi bệnh.

ĐIỀU 9

Đàn bà có thai, nên thường xuyên uống Đương Quy Tán.

ĐƯƠNG QUY TÁN

Đương quy 1 cân Hoàng cầm 1 cân Bạch truật nửa cân

Thược dược 1 cân Xuyên khung 1 cân

Tán bột, uống 1 muỗng với rượu, ngày 2 lần.

Có thai uống thường xuyên sẽ dễ sanh, thai không tật bệnh. Trị cả sản hậu 100 bệnh.

ĐIỀU 10

Có thai muốn dưỡng thai, Bạch Truật Tán làm chủ.

BẠCH TRUẬT TÁN

Bạch truật 4 phân Xuyên khung 4 phân

Thục tiêu (bỏ mồ hôi) 3 phân Mẫu lệ 2 phân

Tán bột, uống 1 muỗng với rượu, ngày 3 lần đêm 1 lần.

Nếu đau, gia Thược dược. Dưới Tâm có độc làm đau, bội gia Xuyên khung. Tâm phiền, thổ, đau, không ăn uống được gia Tế tân 1 lượng, Bán hạ thứ lớn 20 củ, lại dùng thổ tương thủy uống thuốc. Nếu ói, dùng thổ tương thủy uống. Nếu vẫn không bớt, dùng nước Tiểu mạch uống. Bớt rồi, khát, dùng cháo Đại mạch uống. Bệnh tuy khỏi, vẫn cứ uống..

ĐIỀU 11

Đàn bà có thai mà bị tổn thương, thân gầy, bụng đầy, không tiểu tiện được, từ thắt lưng trở xuống nặng nề, giống như có thủy khí, mang thai 7 tháng, Thái âm đáng lẽ phải dưỡng lại không dưỡng được, đó là Tâm khí thực, nên châm tả Lao cung và Quan nguyên, tiểu tiện thông lợi thì khỏi bệnh.

THIÊN THỨ HAI MƯƠI MỐT

MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH ĐÀN BÀ SẢN HẬU

ĐIỀU 1

Hỏi Đàn bà mới sinh có 3 bệnh, 1 là bệnh Kính, 2 là bệnh Uất mạo, 3 là đại tiện khó, sao vậy ?

Thầy nói Mới đẻ, huyết hư, mồ hôi ra nhiều, dễ bị trúng phong, cho nên dễ thành bệnh Kính. Vong huyết, mồ hôi lại ra nhiều, lạnh nhiều, gây nên chứng Uất mạo. Mất tân dịch, Vị ráo, vì thế mà đại tiện khó.

ĐIỀU 2

Sản phụ uất mạo, mạch Vi, Nhược, ụa, không ăn được, đại tiện lại cứng, chỉ ra mồ hôi ở đầu. Sở dĩ như thế vì huyết hư mà quyết, quyết thì sẽ bị chứng mạo. Người bị chứng mạo, muốn giải thì mồ hôi sẽ ra nhiều. Vì huyết hư, quyết ở dưới, dương một mình đi lêntrên, cho nên đầu ra mồ hôi. Sở dĩ sản phụ thường ra mồ hôi là vì bị vong âm, huyết hư, dương khí thịnh, cho nên phải ra mồ hôi thì âm dương mới phục hồi, đại tiện cứng, nôn mửa, không ăn được, Tiểu Sài Hồ Thang chủ về bệnh ấy.

TIỂU SÀI HỒ THANG PHƯƠNG

Sài hồ nửa cân Hoàng cầm 3 lượng

Nhân sâm 3 lượng Cam thảo 3 lượng

Bán hạ nửa cân Sinh khương 3 lượng

Đại táo 12 quả

Dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc còn 6 thăng, bỏ bã, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần.

ĐIỀU 3

Bệnh được giải, ăn uống được, 7, 8 ngày sau lại phát sốt, đó là Vị thực, Đại Thừa Khí Thang chủ về bệnh ấy.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 4

Sản hậu, trong bụng đau quặn, Đương Quy Sinh Khương Dương Nhục Thang chủ về bệnh ấy. Cũng trị trong bụng hàn sán, hư lao bất túc.

ĐƯƠNG QUY SINH KHƯƠNG DƯƠNG THỤC THANG

Đương quy 3 lượng Sinh khương 5 lượng

Dương nhục 1 cân

Dùng 8 thăng nước, sắc còn 3 thăng, uống nóng 7 hợp .

Nếu lạnh nhiều, tăng Sinh khương thành 1 cân. Đau nhiều mà ụa, thêm Quất bì 2 lượng, Bạch truật 1 lượng, thêm Sinh khương và 5 thăng nước, sắc còn 3 thăng 2 hợp, uống.

ĐIỀU 5

Sản hậu bụng đau, phiền đầy không nằm được. Chỉ Thực Thược Dược Tán chủ về bệnh ấy.

CHỈ THỰC THƯỢC DƯỢC TÁN

Chỉ thực (đốt đen, chớ thái quá), Thược dược, lượng bằng nhau. Tán bột, uống 1 muỗng, ngày 3 lần.

Cùng chủ về Ung mủ, uống với cháo đại mạch.

ĐIỀU 6

Thầy nói: Sản phụ bụng đau, đáng lẽ phải dùng Chỉ Thực Thược Dược Tán. Nếu không khỏi, đó là trong bụng có huyết ứ bám ở bên dưới rốn, nên dùng Hạ ứ Huyết Thang.

Bài này cũng trị kinh thủy không thông.

HẠ Ứ HUYẾT THANG

Đại hoàng 3 lượng Đào nhân 20 hạt Manh trùng 20 con (sao, bỏ chân)

Tán bột, luyện với mật làm thành 4 hoàn, dùng 1 thăng rưỡi, sắc 1 hoàn, còn 8 hợp, uống hết 1 hơi, máu mới hạ như gan heo.

ĐIỀU 7

Sản hậu 7, 8 ngày, không có chứng Thái dương, bụng dưới đầy, cứng, đau, đó là ác lộ chưa hết. Không đại tiện được, phiền táo, phát nhiệt, mạch Vi, Thực, phát sốt nhiều hơn, về chiều thì bị phiền táo, không ăn được, ăn vào thì nói sàm, đến đêm thì bớt. Đại Thừa Khí Thang chủ về bệnh ấy. Nhiệt ở lý, kết ở Bàng quang vậy.

Đại Thừa Khí Thang

Đại hoàng 4 lượng (rửa rượu) Hậu phác 1/2 cân (nướng bỏ vỏ)

Chỉ thực 5 quả (nướng) Mang tiêu 3 hợp

Dùng 1 đấu nước, sắc với Hậu phác và Chỉ thực, còn 5 thăng, bỏ bã, cho Đại hoàng vào sắc còn 2 thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, sôi vài dạo, uống nóng 2 lần, thấy hạ được thì không uống nữa.

ĐIỀU 8

Sản hậu trúng phong kéo dài vài mươi ngày không giải, đầu hơi đau, sợ lạnh, thỉnh thoảng có sốt, dưới tim buồn bực, nôn khan, ra mồ hôi. Tuy lâu ngày mà chứng Dương đán tiếp tục vẫn còn, có thể dùng Dương Đán Thang.

Dương Đán Thang

Tức là bài Quế Chi Thang thêm Hoàng cầm.

ĐIỀU 9

Sản hậu trúng phong, phát nhiệt, mặt đỏ gay, suyễn mà đầu đau. Trúc Diệp Thang Chủ về bệnh ấy.

TRÚC DIỆP THANG

Trúc diệp 1 nắm Cát căn 3 lượng

Phòng phong 1 lượng Cát cánh 1 lượng

Quế chi 1 lượng Nhân sâm 1 lượng

Cam thảo 1 lượng Phụ tử (bào) 1 củ

Đại táo 15 quả Sinh khương 5 lượng

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 2 thăng rưỡi, chia làm 3 lần, uống nóng, đắp cho ấm, cho ra mồ hôi.

Đầu, cổ cứng, dùng Đại phụ tử 1 củ, cắt ra như hạt đậu, sắc thuốc, vớt bỏ bọt, uống. Nôn mửa thêm Bán hạ (rửa) nửa thăng.

ĐIỀU 10

Đàn bà, trong vú hư, phiền loạn, nôn nghịch, dùng phép an trung ích khí. Trúc Bì Đại Hoàn chủ về bệnh ấy.

TRÚC BÌ ĐẠI HOÀN

Sinh trúc nhự 2 phân Thạch cao 2 phân

Quế chi 1 phân Cam thảo 7 phân

Bạch vi 1 phân

Tán bột, hòa táo nhục làm hoàn, lớn bằng viên đạn, dùng nước uống 1 hoàn, ngày 3 lần, đêm 2 lần.

Sốt, tăng lượng Bạch vi. Phiền, suyễn thêm Bá thực 1 phân.

Sản hậu bi tiêu chảy mà cực hư. Bạch Đầu Ông Gia Cam Thảo A Giao Thang chủ về bệnh ấy.

BẠCH ĐẦU ÔNG GIA CAM THẢO A GIAO THANG

Bạch đầu ông 2 lượng Cam thảo 2 lượng

A giao 2 lượng Tần bì 3 lượng

Hoàng liên 3 lượng Bá bì 3 lượng

Dùng 7 thăng nước, sắc còn 2 thăng rưỡi, cho A giao vào cho tiêu hết, phân 3, uống nóng.

PHỤ PHƯƠNG

+ TAM VẬT HOÀNG CẦM THANG (Thiên Kim Phương): Trị đàn bà lúc lâm bồn, gặp gió, tứ chi phiền nhiệt, đầu đau, dùng Tiểu sài hồ thang, đầu không đau, chỉ phiền, thang này chủ về bệnh ấy.

Hoàng cầm 1 lượng Khổ sâm 2 lượng Can địa hoàng 4 lượng

Dùng 6 thăng nước, sắc còn 2 thăng, uống nóng 1 thăng, thổ nhiều, hạ trùng.

+ NỘI BỔ ĐƯƠNG QUY KIẾN TRUNG THANG (Thiên Kim Phương): Trị đàn bà sản hậu, gầy ốm bất túc, trong bụng như đâm, không dứt, thở vào khí ít, hoặc trong thiếu phúc gấp gáp khó chịu, đau dẫn tới thắt lưng, lưng, không ăn uống được. Sinh rồi 1 tháng, ngày uống được 4, 5 tễ là tốt, khiến người cường tráng là được.

Đương quy 4 lượng Quế chi 3 lượng

Thược dược 6 lượng Sinh khương 3 lượng

Cam thảo 2 lượng Đại táo 12 quả

Dùng 1 đấu nước, sắc còn 3 thăng, chia 3 uống nóng, uống 1 ngày cho hết.

Nếu đại hư, gia Di đường 6 lượng, sau khi nấu thuốc xong thì cho vào, quấy cho tan. Nếu huyết ra quá nhiều, băng, nục không dứt, gia Địa hoàng 6 lượng, A giao 2 lượng, sắc chung, sau đó cho A giao vào. Nếu không có Đương quy dùng Xuyên khung thay thế. Nếu không có Sinh khương, dùng Can khương thay.

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com