Logo
Loading...

Thương hàn luận điều 1-100

Thương hàn luận

sách thương hàn luận

Sách thương hàn luận

Thương hàn luận điều 1

Thái dương chi vị bệnh, mạch Phù, đầu hạng cường thống, nhi ố hàn.

Thái dương bệnh (biểu hiện) mạch Phù, đầu và gáy cứng đau mà sợ gío.

Thương hàn luận điều 2

Thái dương bệnh, phát nhiệt, hạn xuất, ố phong, mạch Hoãn gỉa, danh vi Trúng Phong.

Thái dương bệnh, phát sốt, ra mồ hôi,  sợ gío, mạch Hoãn, gọi  là  Trúng Phong.

Thương hàn luận điều 3

Thái dương bệnh, hoặc dĩ phát nhiệt, hoặc vị phát nhiệt, tất ố hàn, thể thống, ẩu nghịch. Mạch âm dương Câu Khẩn giả, danh viết Thương Hàn.   

Thái dương bệnh, hoặc đã phát sốt hoặc chưa phát sốt, sẽ sợ gío, cơ thể đau nhức, ói mửa, mạch âm dương Câu, Khẩn, gọi là Thương Hàn.

Thương hàn luận điều 4

Bị thương hàn một ngày, khí của Thái dương chịu trước, nếu mạch tĩnh (không cấp sác, cấp là bệnh chỉ ở Thái dương, không truyền vào Thiếu âm), nếu hơi muốn thổ, nếu thấy táo phiền và mạch thời Sác cấp (đó là bệnh thuộc về khí của Thái dương, lại kiêm thấy có sự “hóa” của kinh thiếu âm) thế tức là bệnh đã truyền.

Thương hàn luận điều 5

Bị thương hàn đã hai, ba ngày không thấy các chứng của kinh Dương minh và kinh Thiếu dương. Đó là bệnh không truyền.

Thương hàn luận điều 6

Bệnh ở Thái dương phát nhiệt mà khát, không ghét lạnh là ôn bệnh. Nếu phát hạn rồi, mình lại nóng như đốt, gọi là phong ôn. Bệnh phong ôn, mạch Âm Dương đều phù, tự ra mồ hôi, mình nặng, ngủ nhiều, hơi thở như ngáy, nói năng khó nên lời. Nếu bị nhiễm hạ, tiểu tiện sẽ không lợi, trực thị, són đái, nếu dùng lửa châm cứu, nhẹ thì ngoài da phát vàng, nặng thì như kinh giản, có khi lại khế túng (gân mạch co rút, thõng ra); nếu dùng lửa xông đi, một lần nghịch còn có thể sống, hai lần nghịch khó lòng toàn mạng.

Thương hàn luận điều 7

Bệnh, có chứng phát nhiệt rồi mới ghét lạnh là phát ra ở Dương, không phát nhiệt mà ghét lạnh; là phát ra ở Âm. Phát ra ở Âm sáu ngày lành, phát ra ở Dương bảy ngày lành. Bởi vì số Dương 7 mà số Âm 6 vậy.

Thương hàn luận điều 8

Bệnh ở Thái dương đầu nhức, đến bảy ngày trở lên sẽ tự khỏi vì dẫn qua bản kinh của nó đã hết rồi. Nếu chưa khỏi lại muốn truyền kinh lần nữa, nên châm kinh túc Dương minh Vị (Tức là châm huyệt Túc Tam Lý (dưới đầu gối ba tấc). Ngồi ngay co đầu gối, ngón tay úp xuống xương ống, tại đầu ngón tay giữa là đúng huyệt. Châm 3-7 phân) khiến cho không truyền kinh được nữa thì khỏi.

Thương hàn luận điều 9

Bệnh ở Thái dương khi muốn giải từ giờ tỵ đến giờ mùi.

Thương hàn luận điều 10

Người trúng phong biểu đã giải nhưng chưa được thật khoan khoái, chờ đến mười hai ngày sẽ khỏi.

Thương hàn luận điều 11

Bệnh nhân cơ thể rất nóng  mà lại muốn được mặc áo. đó là nhiệt ở bì phu mà hàn ở cốt tủy.

Thương hàn luận điều 12

Thái dương trúng phong, Dương Phù mà Âm Nhược, mồ hôi sẽ tự gây ra, gây gấy ghét lạnh, rờn rợn ghét gió, hâm hấp phát nhiệt, mũi thở phì phò và ụa khan. Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 13

Bệnh ở Thái dương, đầu nhức, phát nhiệt thấy có mồ hôi ra và ghét gió. Bài Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 14

Bệnh ở Thái dương, cổ lưng ngay đờ, chỉ hơi ngọ ngoạy, lại mồ hôi ra, ghét gió. Bài Quế Chi Gia Cát Căn Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 15

Bệnh ở Thái dương, sau khi hạ nhầm, khí lại xung lên, nên uống bài Quế Chi Thang theo phương pháp trước. Nếu không xung lên không thể cho uống bài Quế Chi.

Thương hàn luận điều 16

Bệnh ở Thái dương 3 ngày đã phát hãn, nếu lại thổ, nếu lại hạ, nếu lại ôn châm, vẫn không giải. Đó là hoại bệnh. Quế Chi Thang không thể uống, xét xem mạch và chứng biết phạm sự nghịch nào, sẽ theo chứng mà Thương hàn luận điều trị.

Thương hàn luận điều 17

Thang Quế chi vốn là để giải cơ. Nếu bệnh nhân mạch Phù, Khẩn, phát nhiệt, hãn không ra, không thể cho uống. Cần phải hiểu lẽ đó, đừng có dùng nhầm.

Thương hàn luận điều 18

Nếu tửu khách (người nghiện rượu) mắc bệnh, không thể cho uống bài Quế Chi vì tửu khách không ưa các chất ngọt.

Thương hàn luận điều 19

Người bình nhật vốn có bệnh suyễn, dùng bài Quế Chi Gia Hậu Phác, Hạnh Tử  rất tốt.

Thương hàn luận điều 20

Phàm uống bài Quế Chi Thang mà thổ, về sau tất thổ ra mủ máu.

Thương hàn luận điều 21

Bệnh ở Thái dương cho phát hãn, mồ hôi ra không dứt. Bệnh nhân ghét gió, tiểu tiện khó, tứ chi hơi co quắp, khó co duỗi. Bài Quế Chi Gia Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 22

Bệnh ở Thái dương sau khi hạ nhầm, mạch Xúc, ngực  đầy, bài Quế Chi Khử Thược Dược Thang chủ về bệnh ấy. Nếu mạch Vi, ghét lạnh, bài Quế Chi Khử Thược Dược Gia Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 23

Bệnh ở Thái dương, mắc đã 8,9 ngày, chứng trạng như Ngược, phát sốt, ghét lạnh, nóng  nhiều lạnh ít, bệnh nhân không ói, đại tiện dễ dàng, một ngày phát hai ba lần, mạch Vi, Hoãn là muốn khỏi vậy. Nếu mạch Vi mà ghét lạnh, ấy là Âm Dương đều hư, không thể lại phát hãn, lại thổ, lại hạ nữa, nét mặt lại có sắc nhiệt là chưa muốn giải, bởi vì không làm cho mồ hôi nhỏ xuất ra , nên cơ thể  ngứa, nên dùng bài Quế Chi Ma Hoàng Các Bán Thang.

Thương hàn luận điều 24

Bệnh ở Thái dương mới uống bài Quế Chi Thang  mà bị phiền không giải được. Trước hết hãy châm  huyệt Phong trì và Phong phủ, rồi cho uống tiếp bài Quế Chi Thang thì sẽ khỏi.

Thương hàn luận điều 25

Uống Quế Chi Thang mà mồ hôi ra nhiều , mạch lại Hồng, Đại, dùng Quế Chi Thang phép uống như trước. Nếu hình như bị chứng ngược, ngày phát hai lần, mồ hôi ra, tất giải được, nên dùng bài Quế Chi Nhị Ma Hoàng Nhất Thang.

Thương hàn luận điều 26

Uống bài Quế Chi Thang sau khi mồ hôi  xuất ra nhiều, phiền khát nhiều mà không giải. Mạch Hồng, Đại, thời Bạch Hổ Gia Nhân Sâm Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 27

Bệnh ở Thái dương phát nhiệt, ghét lạnh. Nếu nhiệt nhiều hàn ít, mạch Vi,Nhược là vô Dương, không thể phát hãn, nên dùng bài Quế Chi Nhị Việt Tỳ Nhất Thang.

Thương hàn luận điều 28

Uống thang Quế Chi, hoặc lại dùng phép hạ, mà đầu cổ vẫn cứng đau, hầm hập phát nhiệt, hơi có mồ hôi, dưới tâm mãn (đầy), hơi đau, tiểu tiện không lợi... Bài Quế Chi Khử Quế Gia Phục Linh Bạch Truật Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 29

Thương hàn mạch Phù, mồ hôi tự ra, tiểu tiện luôn, tâm phiền, hơi ghét lạnh, chân co rút. Nếu cho uống bài Quế Chi Thang để công Biểu, ấy là nhầm; uống vào sẽ sinh ra chứng quyết, trong họng khô, phiền táo và thổ nghịch, làm bài Cam Thảo Càn Khương Thang cho uống để phục hồi lại Dương.

Nếu chứng quyết khỏi, chân ấm lại,  làm bài Cam Thảo Thược Dược Thang cho uống, chân sẽ duỗi ngay. Nếu Vị khí không hòa, nói lảm nhảm, cho “chút ít” bài Thương hàn luận điều Vị Thừa Khí thang. Nếu lại dùng phép phát hãn và phép Thiêu châm, bài Tứ Nghịch Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 30

Có người hỏi: Chứng giống Dương Đán, theo đúng phép để trị mà nặng thêm, quyết nghịch, trong họng khô, hai chân co rút mà nói lảm nhảm: thầy nói đến nửa đêm tay chân sẽ ấm, hai chân sẽ duỗi được. Sau đúng như lời thầy. Sao lại biết được thế ? Đáp rằng: Thốn khẩu mạch Phù mà Đại, Phù là Phong, Đại thời là hư. Phong thì sinh ra nhiệt nhẹ, hư thì hai chân co, bệnh chứng giống như chứng của  Quế chi, nhân đó  thêm Phụ tử vào đấy, lại gấp thêm Quế (Quế chi 3 lạng gọi là Dương Đán Thang) để  cho mồ hôi ra, Phụ tử ôn kinh, đó là vì  vong Dương vậy. Quyết nghịch, trong họng khô, Dương minh kết ở trong, nói xàm, phiền loạn... Đổi uống Cam Thảo Càn Khương thang, nửa đêm khí trở lại, hai chân sẽ ấm, khuỷu chân còn hơi co rút, dùng kèm bài Thược Dược Cam Thảo Thang, bấy giờ khuỷu chân mới thẳng được, dùng Thương hàn luận điều Vị Thừa Khí Thang khiến cho tiêu chảy nhẹ  thì hết nói xàm, vì vậy  bệnh mới khỏi.

Thương hàn luận điều 31

Bệnh ở Thái dương, cổ và  lưng cứng, cổ khó xoay trở, không có mồ hôi, ghét gió, bài Cát Căn Thang chủ về bệnh ấy

Thương hàn luận điều 32

Thái dương và Dương minh hợp bệnh, tất tự hạ lợi, bài Cát Căn Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 33

Thái dương với Dương minh hợp bệnh, không hạ lợi chỉ có nôn thôi. Bài Cát Căn Gia Bánn Hạ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 34

Bệnh ở Thái dương thuộc chứng Quế Chi, thầy thuốc  lại dùng phép hạ, chứng lợi lại không dứt, mạch Xúc, (là) phần biểu chưa giải vậy, Suyễn mà mồ hôi ra, bài Cát Căn Hoàng Cầm Hoàng Liên Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 35

Bệnh ở Thái dương, đầu đau, phát nhiệt, mình đau, lưng đau, các khớp xương đau nhức, ghét gió, không có mồ hôi mà suyễn, bài Ma Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 36

Thái dương và Dương minh hợp bịnh, suyễn mà ngực đầy, không thể dùng phép hạ, nên dùng bài Ma Hoàng Thang làm chủ.

Thương hàn luận điều 37

Bệnh ở Thái dương đã qua 10 ngày (thời kỳ chủ khí của Thiếu âm), mạch Phù, Tế mà ưa nằm là bên ngoài đã giải rồi. Nếu ngực đầy, sườn  đau, cho dùng bài Tiểu Sài Hồ Thang; nếu mạch chỉ Phù, cho dùng bài Ma Hoàng Thang.

Thương hàn luận điều 38

Thái dương trúng phong mạch Phù, Khẩn, phát sốt, ghét lạnh, cơ thể đau nhức, mồ hôi không ra được mà phiền táo, bài Đại Thanh Long Thang chủ về bệnh ấy. Nếu mạch Vi, Nhược, mồ hôi ra mà ghét gió, không thể uống. Nếu cứ uống sẽ gây ra chứng quyết nghịch, gân giần giật, thịt mấp máy. Ấy là nghịch vậy.

Thương hàn luận điều 39

Thương hàn mạch Phù, Hoãn, mình không đau, chỉ “nặng”,  có lúc lại nhẹ, không có chứng Thiếu âm, dùng bài Đại Thanh Long Thang cho phát ra.

Thương hàn luận điều 40

Thương hàn, phần biểu không giải, phía dưới vùng tim  có thủy khí, nôn  khan, phát sốt và ho khan. Hoặc khát, hoặc tiêu chảy, hoặc nấc, hoặc tiểu tiện không lợi, bụng dưới đầy hoặc suyễn, bài Tiểu Thanh Long Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 41

Thương hàn phía dưới vùng tim có thủy khí, ho khan mà hơi suyễn, phát sốt, không khát. Uống thuốc rồi (tức là uống bài Tiểu Thanh Long) lại khát, ấy là hàn đã ra đi , muốn giải, bài Tiểu Thanh Long chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 42

Bệnh ở Thái dương, chứng bên ngoài chưa giải, mạch Phù Nhược , nên để cho ra mồ hôi mà giải, dùng Quế Chi Thang.

Thương hàn luận điều 43

Bệnh ở Thái dương lại dùng phép hạ, thấy hơi suyễn, bởi cơ biểu chưa được giải, bài Quế Chi Gia Hậu Phác Hạnh Nhân Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 44

Bệnh ở Thái dương, chứng ở phần biểu chưa giải, không thể hạ được. Nếu hạ  là nghịch. Muốn giải phần biểu, bài Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 45

Bệnh ở Thái dương trước đã phát hãn không giải được, mà lại hạ đi, mạch Phù, ấy là không khỏi. Bởi Phù là bệnh ở phần biểu mà lại hạ đi cho nên không khỏi. Giờ thấy mạch Phù là biết bệnh vẫn ở phần biểu, phải dùng phép giải biểu. Bài Quế chi thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 46

Bệnh ở thái Dương, mạch Phù, Khẩn (chứng của Ma Hoàng), không mồ hôi, phát sốt, cơ thể đau nhức, 8, 9 ngày không giải được. Biểu chứng vẫn còn, nên cho phát hãn. Nếu uống thuốc trước rồi (Ma Hoàng Thang), hơi bớt, bệnh nhân lại phát phiền, mắt mờ, nặng hơn,  tất phải chảy máu cam. Chảy máu cam thì bệnh sẽ giải được. Sở dĩ như thế là vì có dương khí nhiều vậy. Ma Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 47

Bệnh ở Thái dương, mạch Phù, Khẩn, phát sốt, cơ thể không có mồ hôi mà tự ra máu cam (Thì bệnh) sẽ khỏi.

Thương hàn luận điều 48

Cả hai Dương cùng bệnh: Thái dương lúc mới mắc bệnh, nên dùng phép phát hãn. Mồ hôi làn đầu ra không hết, nhân  đó nó chuyển sang thuộc về Dương minh, tiếp tục tự ra mồ hôi  in ít, không ghét lạnh. Nếu bệnh ở Thái dương, các chứng hậu chưa hết, không thể dùng phép hạ, nếu dùng phép hạ sẽ là “nghịch”. Như thế, có thể cho “tiểu phát hạn”. Ví phỏng sắc mặt bừng bừng đỏ gay, là do Dương khí bị bức uất ở Biểu, nên giải đi (tửu là tiểu phát hạn), xông đi. Nếu phát hãn không thấu triệt, không đủ kể. Dương khí bị bức uất không vượt ra được, nên phát hãn (phát hãn của kinh Thái dương), không phát hãn người bệnh sẽ phiền táo, không còn biết đau đớn ở chỗ nào, chợt đau ở trong bụng, chợt đau ở tứ chi, ấn tay vào cũng không thể xét thấy, người bệnh hơi thở ngắn, chỉ ngồi, vì cái cơ hãn không ra thấu triệt. Lại cứ phát hãn thêm sẽ khỏi. Sao lại biết là không ra thấu triệt ? bởi vì mạch Sắc nên biết vậy

Thương hàn luận điều 49

Mạch Phù, Sác, theo phép phải làm cho mồ hôi xuất  ra thì  khỏi. (Nếu dùng phép) Hạ thì cơ thể sẽ nặng, tâm sẽ hồi hộp, không thể lại dùng phép phát hãn, nên để cho mồ hôi tự ra mới khỏi. Sở dĩ như thế là vì  mạch ở bộ Xích  là mạch Vi, đó là “lý hư”. Phải đợi biểu lý thực, tân dịch tự hòa, lúc đó mồ hôi  tự  mà khỏi.

Thương hàn luận điều 50

Mạch Phù, Khẩn,  theo phép thì cơ thể  đau nhức,  nên dùng (Ma Hoàng Thang) cho mồ hôi ra để giải bệnh . Giả sử mạch bộ Xích đi Trì, không thể phát hãn. Sao lại thế ? Bởi vì doanh khí không đủ, huyết thiếu vậy.

Thương hàn luận điều 51

Mạch Phù ấy là bệnh ở biểu, có thể dùng phép phát hạn, nên dùng bài Ma Hoàng Thang. Mạch Phù mà Sác , có thể dùng phép phát hãn,  nên dùng bài Ma Hoàng Thang

Thương hàn luận điều 52

Người bệnh thường tự ra mồ hôi, ấy là Doanh khí đang hòa. Doanh khí hòa mà bên ngoài không “hài” (hòa), vì Vệ khí (ngoại) không hài hòa cùng Doanh khí mà ra. Bởi vì Doanh khí vận hành  trong mạch, Vệ khí vận hành ngoài mạch (tức là không hòa). Tiếp tục  cho phát hãn thêm, thì Doanh Vệ hòa mà khỏi. Nên dùng bài Quế Chi Thang.

Thương hàn luận điều 53

Tạng (phủ) không có bệnh gì khác, chỉ đúng giờ phát nhiệt, mồ hôi tự ra mà không  khỏi, ấy là Vệ khí không hòa. Trước giờ ấy dùng phép phát hãn thì khỏi. Bài Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 54

Thương hàn mạch Phù, Khẩn, mồ hôi không ra, nhân thế mà gây ra chảy máu cam. Ma Hoàng Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 55

Thương hàn 6, 7 ngày không đại tiện, đầu nhức, có sốt, cho uống bài Thừa Khí Thang. Nếu thấy tiểu tiện trong, biết là tà không ở lý mà vẫn còn ở biểu, nên dùng phép phát hãn. Nếu đầu nhức, hẳn phải chảy máu cam, bài  Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 56

Thương hàn mồ hôi đã ra, qua nửa ngày lại phiền, mạch Phù Sác, mau đổi dùng phương pháp phát hãn. Bài Quế Chi Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 57

Phàm bệnh đã phát hãn, nếu dùng phép thổ, phép hạ... nếu làm cho vong tân dịch, đợi Âm Dương tự hòa, sẽ tự  khỏi

Thương hàn luận điều 58

Sau khi cho xổ mạnh  lại cho phát hãn, tiểu tiện không thông , đó là mất tân dịch vậy. Đừng trị nữa (tức đừng dùng thuốc lợi tiểu), đợi tiểu tiện thông thì  tự khỏi

Thương hàn luận điều 59

Sau khi hạ lại phát hãn, thì sẽ  rét run, mạch Vi, Tế. Sở dĩ như thế vì (lầm dùng phát hãn và hạ) làm cho “Nội”, “ngoại” đều hư vậy.

Thương hàn luận điều 60

Sau khi hạ lại thêm phát hãn, ban ngày phiền táo không ngủ được, đêm thời yên tĩnh, không nôn , không khát, không có Biểu chứng, mạch Trầm, Vi, cơ thể không sốt cao, bài Càn Khương, Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 61

Sau khi phát hãn, cơ thể đau nhức, mạch Trầm Trì. Bài Quế Chi Thang thêm Thược Dược, Sinh Khương đều 1 lạng, Nhân Sâm 3 lạng. Bài Tân Gia Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 62

Sau khi đã phát hãn (Ma hoàng) không thể dùng tiếp bài Quế Chi Thang, mồ hôi  ra mà suyễn, không sốt cao, bài Ma Hoàng Hạnh Nhân Cam Thảo Thạch Cao Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 63

Mồ hôi ra quá nhiều, bệnh nhân bắt chéo bàn tay úp vào tâm;  vùng dưới tâm hồi hộp, muốn được xoa ấn (lên đó), bài Quế Chi Cam Thảo Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 64

Sau khi đã phát hãn (quá nhiều), phía dưới rốn bệnh nhân hồi hộp, ấy là muốn thành chứng Bôn đồn, bài Phục Linh Quế Chi Cam Thảo Đại Táo Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 65

Sau khi đã phát hãn, mà bụng trướng đầy,  bài Hậu Phác Sinh Khương Bán Hạ Cam Thảo Nhân Sâm Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 66

Thương hàn, nếu dùng phép thổ, phép hạ rồi vùng dưới tâm thấy nghịch đầy, khí xung ngược lên ngực. Mỗi khi phát thì váng đầu chóng mặt, mạch Trầm, Khẩn; Phát hãn thì động tới “kinh”, cơ thể sẽ run lảo đảo, bài Phục Linh Quế Chi Bạch Truật Cam Thảo Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 67

Phát hãn rồi, mà bệnh vẫn không giải, lại ghét lạnh, đó là do  hư vậy, bài Thược Dược Cam Thảo Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 68

Phát hãn rồi lại dùng thêm phép hạ mà  bệnh vẫn không giải, mà phiền táo, bài  Phục Linh Tứ Nghịch Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 69

Phát hãn rồi, ghét lạnh, là do hư vậy; không ghét lạnh, chỉ nhiệt là “thực” vậy. Nên Thương hàn luận điều hòa Vị khí, dùng bài Thương hàn luận điều Vị Thừa Khí Thang.

Thương hàn luận điều 70

Bệnh ở Thái dương, sau khi phát hãn, mồ hôi ra rất nhiều, trong Vỵ khô, phiền táo không thể ngủ, muốn uống nước, cho in ít một, để cho Vị khí hòa thì khỏi. Nếu mạch Phù, tiểu tiện không lợi, hơi sốt, tiêu khát (uống vào tiêu ngay, lại uống), bài Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 71

Phát hạn rồi, mạch Phù Sác, mà phiền khát, bài Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 72

Thương hàn, mồ hôi  ra mà khát, bài Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy. Nếu không khát, bài Phục Linh Cam Thảo Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 73

Trúng phong phát nhiệt 6, 7 ngày, chẳng giải mà phiền, có cả chứng của biểu lý, khát muốn uống nước, uống vào thời thổ, gọi là chứng thủy nghịch, bài  Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 74

Lúc chưa cầm đến tay để án mạch, ( thấy) bệnh nhân bắt chéo tay úp lên vùng ngực, thầy nhân đó  bảo người bệnh thử ho lên xem, mà người bệnh không ho, hẳn là do  tai điếc mà không nghe tiếng. Sở dĩ có  như thế là vì dùng phép  phát hãn thêm, bị hư nên sinh ra  chứng như vậy.

Thương hàn luận điều 75

Phát hạn rồi, uống nước nhiều, sẽ gây ra  suyễn, tắm nước cũng sẽ suyễn.

Thương hàn luận điều 76

Phát hạn rồi, nước, thuốc không thể uống vào miệng, đó là nghịch. Nếu lại phát hãn nữa, tất thổ  và hạ không dứt.

Thương hàn luận điều 77

Sau khi phát hãn, thổ, hạ rồi, hư phiền không ngủ được, nếu nặng hơn tất trằn trọc, tráo trở, trong tâm trộn trạo rạo rực, bài Chi Tử Xị Thang chủ về bệnh ấy. Nếu hơi thở yếu, bài Chi tử  Cam Thảo Xị Thang chủ về bệnh ấy. Nếu lại nôn  nữa, bài Chi Tử  Sinh Khương Xị Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 78

Phát hãn và hạ rồi mà vẫn phiền nhiệt, trong ngực  như “nghẽn” lại, bài Chi Tử Xị Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 79

Thương hàn 5, 6 ngày, đã cho xổ mạnh  rồi, mà cơ thể  nóng không dứt, trong bụng kết đau, chưa muốn giải, bài  Chi Tử  Xị Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 80

Thương hàn, đã cho xổ rồi mà tâm phiền, bụng đầy, nằm, dậy không yên, bài Chi Tử, Hậu Phác Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 81

Thương hàn (có chứng của bài Chi Tử ), thầy thuốc dùng thuốc hoàn để xổ mạnh, thân nhiệt không đi hết, hơi phiền, bài  Chi Tử  Can Khương Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 82

Phàm dùng bài Chi Tử Thang, nếu bệnh nhân vốn sẵn có chứng vi đường (phân hơi nát), không thể cho uống bài này.

Thương hàn luận điều 83

Bệnh ở Thái dương, dùng phép  phát hãn, mồ hôi ra  mà bệnh không giải, bệnh nhân vẫn phát sốt, vùng dưới tâm hồi hộp, chóng mặt, mình rung động muốn nhảy xuống đất... bài Chân Võ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 84

Bệnh yết hầu khô ráo, không thể dùng phép phát hãn.

Thương hàn luận điều 85

Người mắc chứng lâm ( tiểu buốt, gắt...), không thể dùng phếp phát hãn, nếu phát hãn ắt đi tiểu ra máu.

Thương hàn luận điều 86

Chứng mụn nhọt, dù cơ thể  đau nhức, không thể dường phép phát hãn, nếu phát hãn sẽ thành bệnh Chí [kính) (cấm khẩu, uốn mình cong như cái cung, hoặc chân tay co rút, hoặc rã rời).

Thương hàn luận điều 87

Chứng chảy máu cam, không thể dùng phép phát hãn, nếu phát hãn, tất trên trán lõm xuống, mạch Khẩn Cấp, mắt trợn ngược,  không liếc qua lại được , không ngủ được.

Thương hàn luận điều 88

Người bị mất huyết,  không thể dùng phép phát hãn, nếu phát hãn, tất sẽ run lẩy bẩy.

Thương hàn luận điều 89

Người vốn sẵn có chứng ra mồ hôi nhiều lại dùng phép phát hãn thêm, tất hoảng hốt, tâm loạn, tiểu tiện xong,  thì âm (tức niệu quản) thấy đau, dùng bài  Vũ Dư Lương Hoàn.

Thương hàn luận điều 90

Bệnh nhân vốn hàn lại dùng phép phát hãn, trong Vị ắt bị lạnh, sẽ thổ ra giun.

Thương hàn luận điều 91

Bệnh vốn phải  phát hãn mà lại dùng phép hạ, thế là nghịch;  nên dùng phép phát hãn  trước mới không nghịch; bệnh vốn nên hạ, mà lại phát hãn, thế là nghịch, nên dùng phép hạ trước mới là không nghịch.

Thương hàn luận điều 92

Thương hàn ở Thái dương, thầy thuốc dùng phép  hạ, tiếp luôn bị chứng hạ lợi thanh cốc không dứt (ăn gì đi ra thức ấy), mình đau nhức ấy, nên gấp cứu phần lý, sau đó thân  mình còn đau nhức, đại tiểu tiện Thương hàn luận điều hòa, nên gấp cứu Biểu. Cứu lý dùng Tứ nghịch thang, cứu biểu dùng Quế chi thang.

Thương hàn luận điều 93

Bệnh ở Thái dương phát sốt, đầu đau , mạch lại Trầm. Nếu mồ hôi ra  rồi mà không khỏi, thân thể đau nhức, nên cứu phần Lý, dùng bài  Tứ Nghịch Thang.

Thương hàn luận điều 94

Bệnh ở Thái dương, trước đã dùng phép hạ ngay mà không khỏi... Bấy giờ mới lại dùng phép phát hãn. Bởi đó, biểu lý đều hư, bệnh nhân đến nỗi thành chứng Mạo (đầu nặng như úp vật gì lên trên). Người mắc chứng mạo, mồ hôi ra sẽ tự khỏi. Sở dĩ như thế vì có mồ hôi  ra thì phần biểu hòa. Nếu còn thấy phần Lý chưa hòa, bấy giờ mới nên dùng phép hạ.

Thương hàn luận điều 95

Bệnh ở Thái dương, mạch Âm Dương đều thấy đều đặn, tất trước phải thấy run rẩy, mồ hôi  ra mà khỏi. Nếu chỉ Dương mạch mà Vi, dùng phép hạ sẽ khỏi. Như muốn dùng phép hạ, bài  Thương hàn luận điều Vị Thừa Khí Thang làm chủ.

Thương hàn luận điều 96

Bệnh ở Thái dương tất phải phát sốt và tự ramồ hôi . Đó là bởi Vinh yếu, Vệ mạnh, nên mồ hôi  mới ra. Muốn cứu tà phong, nên dùng bài Quế Chi Thang.

Thương hàn luận điều 97

Thương hàn đã 5, 6 ngày, trúng phong, lúc nóng lúc lạnh, ngực sườn đầy, miệng đắng , không nói năng gì, không muốn ăn uống, tâm bứt rứt,  hay nôn, hoặc trong ngực thấy  bứt rứt mà không nôn, hoặc khát hoặc trong bụng đau, hoặc dưới sườn cứng, hoặc dưới vùng tâm hồi hộp, tiểu tiện không lợi, hoặc không khát, thân mình có hơi nóng hoặc lại ho, thì dùng bài Tiểu Sài Hồ Thang.

Thương hàn luận điều 98

Huyết yếu, khí hết, tấu lý tự mở, tà khí nhân đó mà vào, chọi nhau với chính khí, kết ở dưới jông sườn . Chính với tà phân tranh, gây nên lúc nóng lúc lạnh, lúc khỏi lúc phát có giờ giấc, cứ lìm lịm không muốn ăn uống. Tạng với Phủ cùng liên lạc với  nhau,  chỗ đau lại nằm ở dưới. Tà ở cao mà đau ở dưới nên mới sinh ra nôn, bài Tiểu Sài Hồ Thang chủ về bệnh ấy. Uống Sài Hồ Thang rồi mà lại khát, là  thuộc về Dương minh chứng , theo phép (dùng bài Bạch Hổ Gia Nhân Sâm Thang) mà Thương hàn luận điều trị.

Thương hàn luận điều 99

Mắc bệnh đã 6, 7 ngày, mạch Trì, Phù, Nhược, ghét gió, ghét lạnh, tay chân ấm. Thầy thuốc dùng phép hạ  luôn 2, 3 lần, không ăn được, dưới hông sườn đầy, đau, mặt, mắt, cơ thể  hiện sắc vàng, cổ gáy cứng, tiểu tiện lại khó. Nếu dùng bài Sài Hồ Thang, sẽ bị tiêu chảy nặng ở hậu môn. Vốn khát mà uống nước lại nôn... không nên dùng bài Sài Hồ Thang,  (nếu dùng) ăn vào sẽ nôn.

phần tiếp

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com