Logo
Loading...

Thương hàn luận điều 100-hêt

Thương hàn luận điều 100 -> hết

Thương hàn luận điều 100

Thương hàn 4, 5 ngày, mình nóng, ghét gió, gáy, cổ cứng, dưới hông sườn  đầy, tay chân ấm mà khát, bài Tiểu Sài Hồ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 101

Thương hàn mà mạch Dương thấy  Sáp, mạch Âm thấy Huyền, theo phép thì trong bụng đau gấp, trước hết cho  uống bài Tiểu Kiến Trung Thang, nếu vẫn không khỏi, bài Tiểu Sài Hồ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 102

Thương hàn, trúng phong có chứng của bài Sài Hồ Thang, dù chỉ thấy có một chứng cũng được, không cần phải đủ.

Thương hàn luận điều 103

Phàm thuộc về chứng của bài Sài Hồ Thang mà lại dùng phép  hạ, nếu chứng của Sài hồ chưa hết, lại cho uống thêm Sài Hồ Thang, hẳn người bệnh phải bứt rứt mà run, lại phát sốt, ramồ hôi thì bệnh giải.

Thương hàn luận điều 104

Thương hàn đã 2, 3 ngày (tức là thời kỳ chủ khí của kinh Thiếu dương) trong tâm bị hồi hộp mà lại bứt rứt, bài Tiểu Kiến Trung Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 105

Bệnh ở Thái dương đã trải qua hơn 10 ngày, lại dùng phép hạ luôn 2, 3 lần; 4- 5 ngày sau chứng của Sài Hồ vẫn còn. Trước hết cho uống bài Tiểu Sài Hồ Thang, ói  không ngừng , vùng dưới tâm đầy, uất,  hơi bứt rứt,  đó  là bệnh  chưa giải hết, cho uống bài Đại Sài Hồ Thang để hạ.

Thương hàn luận điều 106

Thương hàn trải qua 13 ngày, vẫn không giải, ngực, hông sườn  đầy mà lại nôn, về buổi chập tối, phát ra chứng triều nhiệt,  rồi  hơi bị tiêu lỏng, đó vốn là chứng Đại Sài Hồ, không biết dùng phép Hạ đi,  giờ lại thấy tiêu lỏng , biết là thầy thuốc  dùng thuốc hoàn  để cho xổ. Trị như vậy không đúng  phép.  Chứng triều nhiệt  là đang thực, trước hết,  nên dùng bài Tiểu Sài Hồ để giải bên ngoài, sau đó dùng  bài Sài Hồ Gia Mang Tiêu Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 107

Thương hàn đã 13 ngày không khỏi, gọi là quá kinh, nói xàm, đó là do  có nhiệt. Nên dùng thang dược để cho xổ. Nếu tiểu tiện lợi, đại tiện phải  cứng. Trái lại, có tiêu chảy, mạch Thương hàn luận điều hòa, biết là do thầy thuốc dùng thuốc hoàn  để cho xổ, thế là chữa trái phép. Nếu tiêu chảy,  mạch nên Vi mà tay chân lạnh (quyết), ngược lại gọi là hòa,  là do nội thực. Bài  Thương hàn luận điều Vị thừa khí thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 108

Bệnh ở Thái dương không giải được, nhiệt kết ở bàng quang, bệnh nhân như cuồng. Nếu huyết tự đi xuống, nhiệt cũng hạ theo, bệnh  sẽ khỏi. Nếu bên ngoài không giải, cũng chưa thể dùng phép công, mà trước hết nên  giải ngoại tà, ngoại tà  giải rồi, nhưng  thiếu phúc lại bị câu kết (bụng dưới có vẻ đau gấp rút khó chịu), bấy giờ  mới có thể dùng phép công, nên dùng bài Đào Hạch Thừa Khí Thang.

Thương hàn luận điều 109

Thương hàn đến ngày thứ 8, thứ 9  (thuộc về thời kỳ chủ khí của kinh Thiếu dương), dùng phép xổ (làm hại đến khí của Dương minh) gây ra ngực  đầy, bứt rứt, kinh sợ (chứng của Thiếu dương Tâm bào), tiểu tiện không lợi, nói lảm nhảm, khắp cơ thể  nặng nề, không thể trở mình, bài  Sài Hồ Gia Long Cốt Mẫu Lệ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 110

Thương hàn mà bụng đầy (chứng của Tỳ), nói lảm nhảm (chứng của Vị), thốn khẩu mạch Phù mà Khẩn, ấy là Can phạm vào Tỳ, gọi tên là tung (ỷ thế ngang dọc để hiếp người khác), châm huyệt Kỳ Môn.

Thương hàn luận điều 111

Thương hàn phát nhiệt, rờn rợn ghét lạnh, khát quá, muốn uống nước, bụng hẳn phải đầy, mồ hôi tự ra, tiểu tiện lợi, bệnh thế muốn giải, đó  là Can phạm vào Phế, gọi  là Hoành (ngang tàng không còn sợ gì), châm  huyệt Kỳ môn.

Thương hàn luận điều 112

Thái dương bệnh đã 2 ngày,ngược lại tạo nên chứng táo, lại lấy lửa chườm ở lưng, mồ hôi ra quá nhiều. Hỏa nhiệt vào Vị, thủy trong Vị sẽ kiệt, sinh ra phiền táo, tất nói lảm nhảm. Hơn 10 ngày,  có trạng thái run rẩy, tiêu chảy, thế là bệnh muốn khỏi. Mồ hôi từ thắt lưng trở xuống không ra được, muốn tiểu tiện không được, lại nôn, muốn són đái, dưới chân ghét gió, đại tiện cứng, tiểu tiện phải nhiều lần  mà lại không nhiều lần và cũng không nhiều  , đại tiện xong làm cho đầu đột nhiên đau, lòng  bàn chân hẳn nóng, đó là do cốc khí dẫn xuống được rồi  vậy.

Thương hàn luận điều 113

Thái dương mắc bệnh trúng phong, dùng hỏa để bức cho mồ hôi ra. Tà phong bị hỏa nhiệt bức  khí huyết phải tràn ra ngoài,  mất đi cái thường độ. Hai dương cùng hun đốt, khắp mình phát thành mầu vàng . Nếu Dương tà thịnh thời muốn chảy máu cam.  Âm hư thì tiểu tiện khó. Âm Dương đều hư kiệt thìi thân thể khô táo, mồ hôi chỉ ra ở đầu, đến cổ thì hết, bụng đầy, hơi suyễn, miệng khô, họng loét hoặc không đại tiện được, nếu lâu thời nói lảm nhảm, nặng hơn  đến phải ói, tay chân vật vã, lần áo sờ giường. Nếu tiểu tiện lợi, vẫn còn  chữa được (vì còn chút chân âm chưa xuất hết).

Thương hàn luận điều 114

Thương hàn mạch Phù, thầy thuốc dùng hỏa để bức cướp đến nỗi vong dương, tất phát kinh sợ và cuồng, nằm ngồi không yên. Bài Quế Chi Khử Thược Dược, gia Thục Tất Mẫu Lệ Long Cốt Cứu Nghịch Thang chủ về bệnh đó.

Thương hàn luận điều 115

Bệnh hình, khi phát, giống như là thương hàn, mạch lạikhông Huyền, Khẩn mà Nhược. Mạch Nhược tất phải khát. Nếu bị hỏa đốt, tất nói lảm nhảm. Nhưng mạch Nhược lại có phát nhiệt, tức là trong Nhược lại thấy Phù, dùng phương pháp giải đi, mồ hôi sẽ xuất ra,  bệnh khỏi.

Thương hàn luận điều 116

Bệnh ở Thái dương nếu dùng hỏa để đốt nóng , không có mồ hôi (vì huyết dịch bị thương), bệnh nhân tất phải táo, sẽ quay lại với Thái dương kinh, bệnh  không giải tất phải tiêu ra huyết, gọi tên là hỏa tà.

Thương hàn luận điều 117

Mạch Phù, nhiệt lắm mà lại dùng phép cứu. Ấy là bệnh thực. Nếu thực,  dùng phép hư để trị. Bệnh  nhân bị hỏa gây nên  động, tất sẽ làm cho  cuống họng bị khô  mà nôn ra máu.

Thương hàn luận điều 118

Mạch Vi, mạch Sác,  phải cẩn thận không nên cứu. Nếu cứu, nhân đó hỏa thịnh thành  tà khí, công lên trên thành phiền nghịch. Truy hư trục thực (âm vốn hư lại lấy hỏa để truy đuổi khiến cho càng hư, nhiệt vốn thực lại dùng hỏa để trục khiến cho thực càng thực... ) đến nỗi huyết tan trong mạch. Hỏa khí dù nhỏ nhưng công vào trong có lực, khiến cho  xương bị khô, gân bị tổn thương, huyết khó hồi phục trở lại.

Thương hàn luận điều 119

Mạch Phù nên dùng phép hàn để giải. Nếu dùng hỏa để cứu, tà không lối ra, lại nhân cái thế mạnh của hỏa mà càng thịnh, bệnh sẽ từ thắt lưng trở xuống, bệnh phải nặng nề mà tê, tức gọi là hỏa nghịch. Nếu muốn tự giải, trước đó phải có phiền, bây giờ mới có mồ hôi mà giải. Sao lại biết được ? Vì mạch Phù nên biết là mồ hôi ra thì bệnh sẽ khỏi.

Thương hàn luận điều 120

Dùng Thiêu châm khiến cho mồ hôi ra. Chỗ châm bị hàn, hạch sưng lên đỏ tía, sẽ phát ra chứng Bôn đồn, khí từ thiếu phúc sẽ xung lên tâm, cứu trên chỗ sưng 1 tráng, cho uống bài Quế Chi Gia Quế Thang, lại thêm Quế 2 lạng.

Thương hàn luận điều 121

Chứng hỏa nghịch ( có chứng trạng giống với chứng  Vi thực), mà lầm dùng phép xổ, nhân đó lại dùng thiêu châm, gây nên chứng phiền táo (hạ đã làm mất âm ở Lý, thiêu châm lại làm bức  Dương hư, âm dương chia rẽ nhau, gây ra). Dùng bài Quế Chi Cam Thảo Long Cốt Mẫu Lệ Thang làm chủ để  trị

Thương hàn luận điều 122

Bệnh Thương hàn ở Thái dương nếu dùng ôn châm tất sinh ra kinh sợ.

Thương hàn luận điều 123

Bệnh ở Thái dương đáng lẽ ghét lạnh, phát sốt, giờ lại tự ra mồ hôi, không ghét lạnh, phát sốt, mạch trên bộ Quan đi Tế, Sác, đó là lỗi của thầy thuốc đã dùng phép thổ vậy. Bệnh 1, 2 ngày sau mới nôn, trong bụng đói, miệng không ăn được. Bệnh qua 3, 4 ngàymới nôn, không thích ăn cháo, lại muốn ăn thức lạnh, nhưng buổi sáng ăn vào thì  tối lại nôn,  đó là vì thầy thuốc  dùng phép thổ gây nên. Đó gọi là tiểu nghịch.

Thương hàn luận điều 124

Bệnh ở Thái dương mà dùng phép thổ, Bệnh ở Thái dương đáng lẽ phải ghét lạnh, giờ lại không ghét lạnh, không muốn mặc áo, ấy là vì dùng phép thổ mà thành chứng nội phiền.

Thương hàn luận điều 125

Bệnh  nhân mạch Sác, Sác là nhiệt, (phải dùng phép)  tiêu cốc  làm cho đòi ăn, mà lại ói ra, đó là vì dùng phép phát hãn thái quá, khiến cho Dương khí yếu đi, khí ở trong cách mạc bị hư, mạch mới hiện ra Sác, Sác là khách nhiệt (nhiệt từ ngoài đến), không thể tiêu cốc khí, đó là trong Vị bị hư lạnh, nên phải ói vậy.

Thương hàn luận điều 126

Bệnh ở Thái dương đã qua kinh, hơn 10 ngày, dưới vùng tâm nôn nao, muốn nôn mà trong ngực đau, đại tiện ngược lại phải lỏng, vùng bụng hơi đầy, uất uất hơi phiền, trước đây   rất muốn nôn, muốn hạ... Có thể cho uống bài Thương hàn luận điều Vị Thừa Khí Thang. Nếu không như thế, không thể cho uống. Nếu chỉ muốn nôn, trong ngực đau, hơi tiêu chảy, đó không phải là chứng của bài Sài Hồ. Vì ( thấy) nôn  nên biết là rất muốn nôn, rất muốn hạ vậy..

Thương hàn luận điều 127

Bệnh ở Thái dương 6, 7 ngày, Biểu chứng vẫn còn, mạch Vi mà Trầm, ngược lại, tà không kết ở ngực, bệnh nhân phát cuồng,do nhiệt hạ tiêu, thiếu phúc phải cứng và đầy, tiểu tiện tự lợi, dùng phép xổ huyết thì sẽ khỏi. Sở dĩ như thế vì Thái dương đi theo Kinh và ứ nhiệt ở phần lý. Dùng bài Để Đưong Thang làm chủ để trị.

Thương hàn luận điều 128

Bệnh ở Thái dương, thân thể vàng, mạch Trầm Kết, thiếu phúc cứng, tiểu tiện không lợi,đó là vì không có huyết. Nếu tiểu tiện tự lợi, bệnh nhân như phát cuồng, đích xác là huyết chứng rồi. Để Đương Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 129

Thương hàn có nhiệt, thiếu phúc bị đầy, tiểu tiện vốn không lợi, giờ lại lợi, đây là chứng huyết hữu. Nên dùng phép hạ đi. Phải uống hết, không nên để thừa. Nên dùng bài Để Đương Hoàn.

Thương hàn luận điều 130

Hỏi: Bệnh có loại gọi là  kết hung, gọi là tạng kết,bệnh trạng thế nào ?

Đáp: Ấn tay vào đau, mạch bộ thốn  Phù, bộ quan Trầm gọi là Kết Hung vậy.

Thương hàn luận điều 131

( Hỏi ):Thế nào gọi là tạng kết ?

Đáp: Bên ngoài trạng thái giống như chứng trạng của kết hung, ăn uống như thường, thỉnh thoảng hay tiêu chảy, mạch ở bộ thốn Phù, ở bộ quan Tiểu, Tế và Trầm, Khẩn, gọi là chứng tạng kết. Nếu trên lưỡi có rêu trắng và trơn, bệnh này   khó trị. Tạng kết không có Dương chứng, không nóng lạnh qua lại, bệnh nhân lại yên lặng, trên rêu lưỡi trơn, không thể dùng phép công.

Thương hàn luận điều 132

Bệnh phát ra ở (Thái) Dương, ngược  lại, lại cho xổ, nhiệt tà thừa hư xâm nhập vào, là nguyên nhân gây ra chứng Kết hung.

Bệnh phát ra ở (Thiếu) Âm mà lại dùng phép hạ, là nguyên nhân  thành ra chứng Bỉ.  Sở dĩ gây nên chứng Kết hung,là do dùng phép xổ quá sớm. Chứng kết hung, cổ cũng bị cứng, giống như chứng Nhu kính. Dùng phép xổ đi thì sẽ hòa. Nên dùng bài Đại Hãm Hung Hoàn

Thương hàn luận điều 133

Chứng Kết hung nếu mạch Phù, Đại,  không thể dùng phép hạï. Nếu cho xổ, sẽ chết.

Thương hàn luận điều 134

Bệnh  (trúng phong) của Thái dương,  mạch Phù mà Động, Sác. Phù tức là Phong, Sác tức  là nhiệt. Động gây thành đau. Sác thì là hư. Đầu đau, phát nhiệt, hơi có mồ hôi trộm mà lại ố hàn, do Biểu chưa giải vậy. Thầy thuốc, ngược lại,  dùng phép hạ,  mạch Động, Sác biến thành mạch Trì. Trong ngực và (hoành) cách, khí cùng cự nhau thành ra đau, trong Vị trống không, khách khí động lên cách, khiến cho hơi thở ngắn, phiền nhiệt, trong lòng buồn bực, đều là khí của Thái dương hãm vào trong, nhân đó mà phía dưới tâm bị cứng, thì thành chứng Kết hung, dùng bài Đại Hãm Hung Thang làm chủ trị; Nếu không bị kết hung, chỉ có mồ hôi xuất ra ở đầu ,  các nơi khác không có, chỉ đến cổ là dứt. Nếu  tiểu tiện không lợi, khắp thân mình nhất định bị vàng.

Thương hàn luận điều 135

Thương hàn 6, 7 ngày mà kết lại ở ngực. Nhiệt thực, mạch Trầm mà Khẩn, vùng dưới tâm  đau, đè lên thấy cứng như đá. Đại Hãm Hung Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 136

Thương hàn hơn mưòi mấy ngày, nhiệt kết ở Lý, lại thành chứng nóng lạnh qua lại. Nên cho uống bài Đại Sài Hồ Thang. Nếu chỉ có chứng kết hung, không có sốt cao, đó là thủy kết ở ngực và sườn. Trên đầu hơi có mồ hôi ra. Đại Hãm Hung Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 137

Bệnh ở Thái dương, lại cho phát hãn thêm, rồi lại cho xổ thêm, không đại tiện được, 5- 6 ngàysau, trên lưỡi bị khô mà khát. Lúc sẩm tối, người bệnh hơi sốt . Từ  tâm xuống đến thiếu phúc bị cứng, đầy, đau, không  ai có thể đến gần , Đại Hãm Hung Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 138

Chứng Tiểu kết hung, chỉ ở ngay dưới tâm mà thôi, ấn tay vào thì đau, mạch Phù mà Hoạt, Tiểu Hãm Hung Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 139

Bệnh ở Thái dương được 2-3 ngày, không thể nằm được, chỉ muốn ngồi dậy, vùng dưới tâm tất sẽ bị kết, mạch đi Vi, Nhược, đó là do (Thái dương) có hàn phận vậy. Ngược lại, lại cho xổ, nếu tiêu chảy ngưng,  sẽ gây nên chứng (Tiểu) Kết hung. Nếu tiêu chảy  chưa dứt, sau bốn ngày lại cho xổ nữa, sẽ thành chứng Hiệp nhiệt rồi lại tiêu chảy tiếp.

Thương hàn luận điều 140

Thái dương bệnh, nếu dùng phép hạ, nếu mạch Xúc, không thành chứng kết hung, đó là bệnh muốn giải. Nếu mạch Phù, sẽ thành chứng kết hung; nếu mạch Khẩn tất trong họng đau; nếu mạch Huyền tất hai bên hông sườn bị co rút. Nếu mạch Tế, Sác, sẽ bị chứng đầu nhức không ngừng; mạch Trầm Khẩn tất muốn nôn; mạch Trầm, Hoạt sẽ thành chứng  hiệp nhiệt lợi; mạch Phù, Hoạt sẽ tiêu ra huyết.

Thương hàn luận điều 141

Bệnh ở Thái dương nên dùng phép giảihạn để giải bệnh, lại lấy nước lạnh làm ướt người.  Cái Dương nhiệt bị ngăn lại không thoát ra được, càng làm cho người bệnh thêm phiền, trên da thịt nổi lên thành hạt nhỏ. Ý thì muốn uống nước ngược lại, người bệnh  không khát... Nên uống bài Văn Cáp Tán. Nếu không bớt, cho uống bài Ngũ Linh Tán. Chứng Hàn thực Kết hung, không có nhiệt chứng , cho uống bài Tam Vật Tiểu Hãm Hung Thang, dùng bài Bạch Tán cũng được.

Thương hàn luận điều 142

Thái dương với thiếu dương hợp bệnh, đầu và cổ cứng đau, hoặc bị hoa mắt, choáng váng,  có lúc như là có chứng kết hung, thành chứng dưới tâmbị khối thành cứng, nên châm giữa đốt thứ 1 xương  Đại chùy, châm tiếp Phế du, Can du. Cẩn thận không được phát hãn. Nếu phát hãn thì sẽ nói lảm nhảm, mạch Huyền. Nếu trong  5, 6 ngày, chứng nói lảm nhảm không dứt nên châm  ở huyệt Kỳ Môn.

Thương hàn luận điều 143

Phụ nữ  bị trúng phong, phát nhiệt, ố hàn, mà kinh nguyệt lại đến, mắc bệnh đã 7, 8 ngày, nhiệt lui mà mạch Trì, thân mình mát, dưới ngực và sườn  đầy, giống như  chứng kết hung,  làm chi người bệnh nói lảm nhảm, đó là do nhiệt nhập vào huyết thất. Nên châm  huyệt Kỳ Môn, theo cái thực của nó để châm tả.

Thương hàn luận điều 144

Phụ nữ bị  trúng phong được 7- 8 ngày, lại tiếp tục bị hàn nhiệt trở lại, nó phát tác có lúc, kinh nguyệt đang đến lại bị gián đoạn, đó là nhiệt nhập vào huyết thất. Huyết ắt bị kết lại khiến cho  gây nên trạng thái giống  như chứng sốt rét, nó phát tác có lúc. Tiểu Sài Hồ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 145

Phụ nữ bị thương hàn phát nhiệt, vừa gặp lúc thấy kinh nguyệt, ban ngày thì tỉnh táo, đêm thì nói lảm nhảm như thấy ma qủy, đó là nhiệt nhập vào huyết thất. Đừng phạm vào Vị khí và khí Thượng tiêu, Trung tiêu, sẽ tự khỏi.

Thương hàn luận điều 146

Thương  hàn  6- 7 ngày, phát sốt, hơi ố hàn, các chi ( ngón tay, chân) tiết (khớp) đau nhức, hơi nôn mửa, các chi-lạc dưới tâm kết, chứng bên ngoài chưa khỏi, Dùng bài Sài Hồ Quế Chi Thang làm chủ trị.

Thương hàn luận điều 147

Thương hàn 5- 6 ngày, đã cho phát hãn, lại cho xổ, vì thế ngực va2 hông sườn đầy, chỉ hơi kết mà thôi, tiểu tiện không lợi, khát mà không nôn. Chỉ có đầu là ra mồ hôi, nóng lạnh qua lại, tâm phiền, đó là bệnh chưa giải. Sài Hồ Quế Chi Can Khương Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 148

Thương hàn 5- 6 ngày, mồ hôi đầu xuất , hơi ghét lạnh, tay chân lạnh, dưới tâm đầy, miệng không muốn ăn, đại tiện phân cứng, Mạch Tế, đó là Dương bị vi kết, ắt hẳn có Biểu chứng (đầu ra mồ hôi, hơi ố hàn, tay chân lạnh), lại có  chứng thuộc Lý (tâm hạ mãn, không muốn ăn, đại tiện phân cứng ). Mạch Trầm cũng thuộc  Lý, mồ hôi xuất ra do Dương vi. Giả sử như chứng thuần âm kết, không thể có ngoại chứng nào, sẽ nhập vào Lý. Chứng này thuộc  nửa ở Lý, nửa ở Biểu. Mạch tuy  Trầm Khẩn, vẫn không phải là bệnh tạng kết thuộc Thiếu âm. Sở dĩ như thế vì âm chứng không thể có mồ hôi ở đầu, nay đầu lại ra mồ hôi vì thế biết rằng không phải là bệnh ở Thiếu âm. Nên dùng bài Tiểu Sài Hồ Thang. Nếu chưa dứt hẳn, khi đại tiện được thì bệnh khỏi.

Thương hàn luận điều 149

Thương hàn 5- 6 ngày, nôn mửa mà lại phát nhiệt, đó là chứng trạng đầy đủ của Sài Hồ Thang, mà lại lấy loại thuốc khác để cho xổ. Các chứng thuộc Sài hồ vẫn còn, cứ cho uống tiếp bài Tiểu Sài Hồ Thang. ( Đây là lý do tại sao ) tuy  đã cho xổ mà  không gây thành nghịch. Hẳn phải nóng hừng hực mà run lên . Rồi phát nhiệt, phát hãn, bệnh được giải. Nếu dùng phép xổ thì vùng dưới tâm bị đầy mà cứng, đau, gọi là  kết hung, Đại Hãm Hung Thang chủ về bệnh ấy. Nếu chỉ đầy  mà không đau, đó là chứng Buổi, không nên dùng bài Sài Hồ Thang nữa. Nên dùng bài Bán Hạ Tả Tâm Thang.

Thương hàn luận điều 150

Thương hàn 5- 6 ngày, nôn mửa mà lại phát nhiệt, đó là chứng trạng đầy đủ của Sài Hồ Thang, mà lại lấy loại thuốc khác để cho xổ. Các chứng thuộc Sài hồ vẫn còn, cứ cho uống tiếp bài Tiểu Sài Hồ Thang. ( Đây là lý do tại sao ) tuy  đã cho xổ mà  không gây thành nghịch. Hẳn phải nóng hừng hực mà run lên . Rồi phát nhiệt, phát hãn, bệnh được giải. Nếu dùng phép xổ thì vùng dưới tâm bị đầy mà cứng, đau, gọi là  kết hung, Đại Hãm Hung Thang chủ về bệnh ấy. Nếu chỉ đầy  mà không đau, đó là chứng Buổi, không nên dùng bài Sài Hồ Thang nữa. Nên dùng bài Bán Hạ Tả Tâm Thang.

Thương hàn luận điều 151

Mạch Phù mà Khẩn mà lại cho xổ, lại nhập trở vào Lý, trở thành chứng Bỉ, đè xuống thấy mềm, đây chỉ là Bỉ khí vô hình thôi.

Thương hàn luận điều 152

Thái dương Trúng phong thành chứng tiêu chảy, nôn  nghịch. Khi phần biểu đã giải rồi mới có thể dùng phép công được. Nếu bệnh nhân xuất mồ hôi lấm tấm, phát tác có lúc, đầu đau, vùng dưới tâm bị bỉ khí mà cứng và đầy, đau dẫn đến dưới hông sườn, nôn khan, hơi thở ngắn,  mồ hôi ra, không ghét lạnh. Đó là phần Biểu đã giải, (nhưng) phần Lý chưa hòa, dùng bài Thập Táo Thang làm chủ trị.

Thương hàn luận điều 153

Thái Dương bệnh (nếu ở cơ tấu, nên dùng Quế Chi Thang để giải cơ), thầy thuốc nhầm dùng Ma Hoàng Thang để phát hãn (chỉ làm hại cái kinh của Thái dương, mà hư cả Biểu) đưa đến chứng  phát nhiệt, ố hàn , lại nhân đó mà dùng pheps xổ (lại càng thêm hại cả tạng Thái âm, mà hư cả Lý ). Vùng dưới tâm bị chứng Bỉ, làm cho Biểu, Lý đều hư, âm khí và Dương khí đều kiệt. Nếu  không còn Dương thì Âm cô độc lại dùng thêm phép thiêu châm gây thành chứng phiền,  sắc mặt xanh vàng, cơ phu bị co giật, ( trường hợp này) khó chữa. Nay nếu sắc diện hơi vàng,  tay chân ấm, bệnh có thể dễ khỏi.

Thương hàn luận điều 154

Dưới tâm có chứng bỉ,  ấn tay vào thấy mềm,  mạch trên bộ Quan đi Phù. Bài Đại Hoàng Hoàng Liên Tả Tâm Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 155

Dưới tâm có chứng bỉ mà lại ghét lạnh, lại còn ra mồ hôi. Dùng bài Phụ Tử Tả Tâm Thang làm chủ trị.

Thương hàn luận điều 156

Vốn do hạ nhầm nên dưới tâm thành chứng bỉ, cho dùng bài Tả Tâm Thang, chứng bỉ không giải. Bệnh nhân bị chứng khát, miệng khô, phiền, tiểu tiện không lợi. Bài Ngũ Linh Tán chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 157

Thương hàn mồ hôi ra, sau khi đã giải, thấy trong Vị không hòa, dưới tâm bị bỉ cứng, nôn khan, ăn vào có mùi hôi thối, dưới hông sườn  có thủy khí, trong bụng sôi như sấm, tiêu chảy, bài Sinh Khương Tả Tâm Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 158

Hoặc thương hàn, hoặc trúng phong, thầy thuốc  lại dùng phép xổ, bệnh nhân bị tiêu chảy ngày vài mươi lần. Cốc khí không hóa, trong bụng sôi kêu như sấm, dưới tâm bị chứng  bỉ, cứng, nôn khan, tâm phiền, không được yên. Thầy thuốc  thấy chứng dưới tâm bị chứng bỉ, cho là bệnh chưa hết, lại cho xổ nữa, chứng Bỉ càng nặng thêm. Đây không phải do nhiệt kết, chỉ vì trong Vị bị hư, khách khí nghịch lên cho nên khiến cho dưới tâm hạ bị cứng.  Bài Cam Thảo Tả Tâm Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 159

Thương hàn, uống thang dược để xổ gây ra  tiêu chảy  không dứt, dưới tâm bị chứng bỉ, cứng. Uống bài Tả Tâm Thang, rồi lại dùng thuốc khác để xổ, tiêu chảy vẫn không dứt. Thầy thuốc lại  cho uống bài Lý Trung Thang, tiêu chảy càng nặng hơn. Vì Lý Trung Thang là thuốc trị trung tiêu. Chứng tiêu chảy này ở hạ tiêu, nên dùng bài Xích Thạch Chi Võ Dư Lương thang làm chủ để trị. Nếu tiêu chảy vẫn  không dứt, nên cho lợi tiểu tiện.

Thương hàn luận điều 160

Thương hàn sau khi cho nôn, cho xổ rồi lại phát hạn, vì thế bị hư phiền, mạch rất Vi, tám chín ngày sau, dưới tâm bị  chứng bỉ, cứng, dưới hông sườn  đau, khí xông lên yết hầu, bị hoa mắt, chóng mặt. Kinh mạch bị kinh động, lâu ngày sẽ thành chứng Nuy.

Thương hàn luận điều 161

Thương hàn phát hãn, nếu cho nôn, nếu cho xổ, sau khi bệnh giải, dưới tâm bị chứng bỉ, cứng, ợ hơi không dứt. Bài Toàn Phúc Đại Giả Thạch Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 162

Sau khi cho xổ,  không thể dùng thêm Quế Chi. Nếu mồ hôi xuất ra thành chứng suyễn,   không có đại nhiệt, nên dùng bài Ma Hoàng Hạnh Tử Cam thảo Thạch Cao Thang.

Thương hàn luận điều 163

Bệnh ở Thái dương, chứng ngoài chưa hết, mà cho xổ vài lần, thế là hiệp với tà nhiệt để thành chứng tiêu chảy, tiêu chảy không ngừng, dưới tâm có chứng bỉ, cứng, đây gọi là biểu lý không giải, dùng bài Quế Chi Nhân Sâm Thang làm chủ để trị.

Thương hàn luận điều 164

Thương hàn, sau khi cho xổ mạnh, lại cho phát hãn, vì thế dưới tâm bị chứng bỉ mà ố hàn, đó là biểu chưa giải. Không thể công vào chứng Bỉ. Trước hết nên giải chứng biểu, biểu giải mới được công vào chứng Bỉ. Giải biểu nên dùng bài Quế Chi Thang, còn tấn công chứng bỉ,  nên dùng bài Đại Hoàng Hoàng Liên Tả Tâm Thang.

Thương hàn luận điều 165

Thương hàn phát nhiệt, mồ hôi xuất ra không giải, giữa tâm bị bỉ cứng, nôn mửa, lại bị tiêu chảy. Bài Đại Sài Hồ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 166

Bệnh giống như chứng của bài Quế chi, nhưng đầu không đau, cổ không cứng, mạch  bộ thốn đi hơi Phù, giữa ngực bị bỉ cứng. Khí xung lên yết hầu, không thể thở được, đây là vì giữa ngực có hàn, bắt phải nôn. Nên dùng bài Qua Đế Tán.

Thương hàn luận điều 167

Bệnh nhân, dưới hông sườn  vốn có chứng Bỉ,  lan tới cạnh rốn, đau rút xuống thiếu phúc, nhập vào  âm cân, gọi là chứng tạng kết, phải chết.

Thương hàn luận điều 168

Bệnh thương hàn nếu cho xổ, cho hạ, đến ngày thứ  7, 8, bệnh vẫn  không giải, nhiệt kết ở Lý. Biểu lý đều bị nhiệt. Thường bị ghét gió, khát, trên lưỡi khô ráo mà bứt rứt, muốn uống nước đến vài thăng nước. Bạch Hổ Gia Nhân Sâm Thang làm chủ trị.

Thương hàn luận điều 169

Bệnh thương hàn, không có đại nhiệt, miệng ráo khát, tâm bứt rứt, sau lưng hơi ghét lạnh, bài Bạch Hổ Gia Nhân Sâm Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 170

Thương hàn, mạch Phù, phát nhiệt, không mồ hôi, ngoài biểu không giải, không thể cho uống bài Bạch Hổ Thang. Nếu khát, muốn uống nước, không có biểu chứng, dùng bài Bạch Hổ Gia Nhân Sâm thang làm chủ trị.

Thương hàn luận điều 171

Thái dương và Thiếu dương cùng bệnh, dưới tâm cứng, cổ gáy cứng, hoa mắt, nên châm huyệt Đại chùy, Phế du, Can du. Cẩn thận không nên cho xổ.

Thương hàn luận điều 172

Thái dương và Thiếu dương  hợp bệnh, nếu tự tiêu chảy, cho uống bài Hoàng Cầm Thang. Nếu bị nôn, dùng bài Hoàng Cầm Gia Bán Hạ Sinh Khương Thang làm chủ để trị.

Thương hàn luận điều 173

Thương hàn giữa ngực có nhiệt, trong Vị có khí hàn, trong bụng bị đau, muốn nôn. Hoàng Liên Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 174

Thương hàn đến 8- 9 ngày ,phong với thấp cùng xung đột nhau, thân thể đau nhức, buồn bực, không tự trở mình được, không bị nôn, không khát, mạch Phù, Hư mà Sắc, bài Quế Chi Phụ Tử Thang chủ về bệnh ấy. Nếu người bệnh, đại tiện cứng, tiểu tiện tự lợi, bỏ Quế Chi, gia Bạch Truật Thang làm chủ trị.

Thương hàn luận điều 175

Phong thấp xung đột nhau, các khớp xương đau nhức, đau buốt,  không co duỗi được, đến gần sẽ bị đau nkịch liệt, mồ hôi ra, hơi thở ngắn, tiểu tiện không lợi, ghét gió, không muốn cởi áo, hoặc thân mình hơi phù, dùng  bài  Cam thảo Phụ Tử Thang làm chủ trị.

Thương hàn luận điều 176

Thương hàn mạch Phù, Hoạt, đó là biểu có  nhiệt, lý có hàn. Bài Bạch Hổ Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 177

Thương hàn mạch Kết, Đại, tâm động, hồi hộp, bài Chích Cam Thảo Thang chủ về bệnh ấy.

Thương hàn luận điều 178

Khi ấn tay vào mạch thấy  Hoãn , có lúc ngưng  1 lần  rồi  lại trở lại, gọi là mạch Kết. Có khi mạch đến động mà cũng có ngưng giữa chừng rồi lại trở lại mạch Tiểu, Sác, có khi quay về,  lại Động, gọi là mạch Kết, thuộc âm vậy. Nếu mạch đến Động mà giữa chừng  ngưng,  không thể tự quay về, nhân đó mà độngtrở lại, gọi là mạch Đại, đây là mạch độc Âm. Thấy hiện ra mạch này, hẳn là khó chữa.

Các bài viết khác:

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com