Logo
Loading...

Gãy Cổ Xương Đùi trong bệnh ngoại khoa

Gãy Cổ Xương Đùi

Đại cương

Gãy cổ xương đùi là các trường hợp gãy xương mà đường gãy là ở giữa chỏm và khối mấu chuyển. Thường gặp đối với người già, cho dù là một chấn thương nhẹ (như té đập mông)

Rất hiếm gặp ở người trẻ và trẻ em.

Tiên lượng về liền xương khá phức tạp do khớp giả và sự tiêu chỏm.

Thường đe doạ tính mạng bởi các biến chứng như viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu, suy tim, lở loét do nằm lâu.

Nhắc lại các yếu tố quan trọng về giải phẫu

Điểm yếu

Nằm giữa hai hệ xương: hệ quạt chân đế và hệ cung nhọn.

Về X quang

Các điểm cốt hoá

1 tuổi: có điểm cốt hoá đầu xương

5 tuổi: xuất hiện thêm điểm cốt hoá ở mấu chuyển lớn.

8 tuổi: phát triển mạnh các điểm cốt hoá ở đầu xương và mấu chuyển lớn

10 tuổi: xuất hiện thêm điểm cốt hoá mấu chuyển bé

13 tuổi: đầu xương phát triển hoàn toàn nhưng các mấu chuyển chỉ dính chắc vào xương từ 16-18 tuần và chỏm xương dính chắc vào đùi từ 18-20

Đường cung cổ bịt

Là đường hình cung nối liên tục của bờ cổ xương đùi và gờ trên lỗ bịt

Góc cổ thân

Là góc được tạo bởi trục của cổ xương đùi và của thân xương đùi. Bình thường góc khoảng chừng 1300.

Về tuần hoàn nuôi dưỡng chỏm: Có 3 nhóm

Nhóm trên: được hình thành từ 3-4 nhánh nhỏ tách ra từ động mạch mũ sau, nối với các nhánh mũ trước, nhánh bịt, các nhánh đi theo bao khớp vào nuôi dưỡng khoảng trên của chỏm.

Nhóm dưới-trong: tách ra từ động mạch mũ sau nuôi dưỡng 1/4 dưới của chỏm.

Động mạch dây chằng tròn: tách từ động mạch bịt, có vai trò rất nhỏ chỉ nuôi dưỡng một phần của chỏm

Phân loại

Theo Garden

Dựa vào các tương quan hiện có của các thớ xương dọc. Nếu sự tương quan còn được duy trì, tức sự di lệch ít quan trọng và sự nuôi dưỡng chỏm sẽ tốt nhờ bao khớp còn nguyên vẹn. Tiên lượng sẽ tốt.

Độ I: gãy dạng cài nhau, các thớ xương còn thẳng

Độ II: gãy cài không di lệch, các thớ xương còn giữ hướng thẳng nhưng bị lực ép giữa các xương gãy.

Độ III: gãy di lệch khép, thớ xương nằm ngang

Độ IV: gãy rất di lệch, đầu xương tự do trong ổ cối, chỗ gãy tiếp xúc với dây chằng tròn, các thớ xương song song nhưng tách rời ra. Chỏm sẽ đe doạ hoại tử.

Theo Pauwels

Pauwels I: đường gãy tạo với đường nằm ngang 1 góc tương đương 300, dễ liền xương

Pauwels II:  góc    này tương đương 500, tiên lượng liền xương khó.

Pauwels III: góc này tương đương 700, nguy cơ hoại tử chỏm cao.

gãy cổ xương đùi theo Pauwels

Phân loại gãy cổ xương đùi theo Pauwels

Triệu chứng lâm sàng

Tuỳ theo dạng gãy (gãy khép hay dạng) mà biểu hiện các triệu chứng lâm sàng có khác nhau.

Gãy cổ chính danh dạng gãy khép

Thường hay gặp, các đoạn gãy tách rời xa bởi co kéo của cơ. Đoạn gãy dưới ở tư thế khép và xoay ngoài.

gãy cổ xương đùi theo delbet

Phân loại gãy cổ xương đùi theo delbet

Giải phẫu bệnh

Vị trí

+ Loại gãy dưới chỏm: loại này điều trị phức tạp vì chỉ còn chỏm xương nhỏ. Phần chỏm nuôi dưỡng kém chỉ còn động mạch dây chằng tròn do đó liền xương khó, dễ đưa đến khớp giả hoặc tiêu chỏm.

+ Gãy xuyên cổ: tiên lượng tốt hơn loại trên vì còn một phần xương dính vào chỏm, dinh dưỡng tốt hơn.

Hướng đường gãy: thường chếch từ dưới lên trên từ trong ra ngoài.

Di lệch: các đoạn gãy không cài nhau. Đoạn xa di lệch lên trên do cơ mông kéo, hai đoạn xương gập góc, ở góc xuống dưới và ra sau.

Lâm sàng

Về di lệch thấy đoạn ngoài bị kéo lên trên chỏm xoay làm trục cổ xương bị gục xuống dưới. Trên phim nghiêng thấy 2 đoạn gãy không cài vào nhau, đó là dấu hiệu chính. Sau khi khám xác định gãy xương cần đánh giá tình trạng toàn thân để có chỉ định và điều trị phù hợp.

Đau: lệch thường, đau nhiều nhất là khi gắng cử động háng.

Đường gãy ở bờ trong của cổ chéo xuống dưới và vào trong, hoặc đường gãy giữa cổ thẳng góc với trục cổ xương.

Gãy cổ chính danh gãy dạng

ít gặp hơn gãy khép vì hai đoạn cài nhau.

Lâm sàng

Sau ngã đập khối mấu chuyển xuống đất, xương gãy và làm cài cổ xương. Triệu chứng lâm sàng thường không rõ ràng, giảm cơ năng không hoàn toàn, bệnh nhân có thể nhấc gót chân khỏi giường và có trường hợp vẫn đứng dậy được, sau đó đoạn gãy có thể bị tách rời ra trở thành gãy khép.

X quang

 

Đường gãy dưới chỏm hoặc xuyên cổ gần như là ngang. Hai đoạn gãy cài nhau làm mở rộng góc cổ thân.

Tiến triển và biến chứng

Nếu điều trị tốt có thể tránh được các biến chứng toàn thân, xương liền sau 3-4 tháng, không có di chứng. Nếu điều trị không tốt thì để lại nhiều biến chứng.

Biến chứng sớm

Choáng chấn thương: hiếm gặp

Thương tổn phối hợp: tổn thương ổ khớp hoặc gãy xương đùi.

Biến chứng muộn

Toàn thân

Thương tổn loét da, loét mông, gót chân xương cùng

Thương tổn tim phổi: viêm phế quản, viêm phổi, nguy cơ suy tim

Biến chứng tiết niệu: nhiễm khuẩn đường tiết niệu

Tai biến huyết khối: viêm tĩnh mạch và huyết khối phổi.

Tại chỗ

Can lệch: trong tư thế háng khép, gãy ngắn chi 4-5cm và có thể bù trừ bằng cong chậu hông, cột sống, đi dép đế cao.

Can xấu: dễ có nguy cơ thoái hoá khớp nhất là khớp háng, cột sống.

Khớp giả: do thiếu sót về điều trị như bất động kém, tập vận động sớm. Triệu chứng lâm sàng gợi ý là đi đau, đi khó như bước hụt, cần chụp X - quang

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com