Logo
Loading...

206 bài thuốc Đông y Nhật Bản - Phần 3

206 bài thuốc Đông y Nhật Bản - Phần 3

Bài 101: THẬP TOÀN ĐẠI BỔ THANG (JU ZEN TAI HO TO) (mồ hôi trộm, thiếu máu, suy nhược)

Thành phần và phân lượng: Nhân sâm 2,5-3g, Hoàng kỳ 2,5-3g, Truật 3g, Phục linh 3g, Đương quy 3g, Thược dược 3g, Địa hoàng 3g, Xuyên khung 3g, Quế chi 3g, Cam thảo 1,5g.

Cách dùng và lượng dùng: (về nguyên tắc là) Thang.

Công dụng: Thuốc dùng trong các trường hợp thể lực bị suy yếu sau khi ốm dậy, người mệt mỏi rã rời, ǎn uống không ngon miệng, đổ mồ hôi trộm, lạnh chân tay, thiếu máu.

Giải thích: Theo sách Hòa tễ cục phương: Đây là bài Bát trân thang (kết hợp Tứ vật thang - gồm Đương quy, Thược dược, Địa hoàng, Xuyên khung với Tứ quân tử thang - gồm Phục linh, Truật, Nhân sâm, Cam thảo) có thêm Quế chi và Hoàng kỳ. Các chứng bệnh mà bài thuốc này trị cũng tương tự như những chứng bệnh của Nhân sâm dưỡng vinh thang, nhưng trong các chứng bệnh của bài thuốc này điều trị còn có chứng ho, cho nên có thể phân biệt được giữa hai bài thuốc.

Bài này dùng trị các hư chứng ở thời kỳ toàn thân suy nhược vì những bệnh mạn tính, mục tiêu của bài thuốc này là trị chứng thiếu máu, ǎn uống kém ngon, da khô. Thuốc này không dùng cho những người nhiệt cao và nǎng hoạt động, hoặc những người sau khi dùng thuốc này thì ǎn uống kém ngon, ỉa chảy, sốt.

Bài thuốc này nhìn chung có tác dụng bổ sung những phần hư về khí huyết, âm dương, biểu lý, nội ngoại, và với ý nghĩa có tác dụng toàn diện như thế cho nên bài thuốc này có tên là Thập toàn đại bổ thang.

Bài thuốc này còn dùng cho những trường hợp cả khí lẫn huyết đều hư, người sốt rét, tháo mồ hôi, đổ mồ hôi trộm, suy nhược sau đẻ, sau phẫu thuật, sau khi bị các bệnh nhiệt, thị lực giảm sau khi bị các chứng bệnh xuất huyết, lòi dom, tràng nhạc, v.v.

Bài 102: THẬP VỊ BẠI ĐỘC THANG (JU MI HAI DOKU TO) (bệnh da)

Thành phần và phân lượng: Sài hồ 2-3g, Anh bì 2-3g hoặc Phác tốc; Cát cánh 2-3g, Xuyên khung 2-3g, Phục linh 2-4g, Độc hoạt 1,5-3g, Phòng phong 1,5-3g, Cam thảo 1-1,5g, Sinh khương 1-3g, Kinh giới 1-1,5g, Liên kiều 2-3g (Liên kiều không có cũng được).

Cách dùng và lượng dùng: 1. Tán: Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1,5-2g. 2. Thang.

Công dụng: Thuốc dùng trong giai đoạn đầu của những người mắc bệnh da có mủ và bệnh da cấp tính, bệnh mày đay, éczema cấp tính, ghẻ.

Giải thích: Thuốc gia truyền của danh y Hanaoka Seishu.

Bài Thập vị bại độc của Hanaoka Seishu chính là bài Kinh phòng bại độc tán trong Vạn bệnh hồi xuân bỏ các vị Khương hoạt, Tiền hồ, Bạc hà diệp, Liên kiều, Chỉ xác, Kim ngân hoa mà thêm Anh nhự.

Danh y Asada Sohaku đã thay Anh nhự bằng Phác tốc và gọi bài thuốc này là Thập vị bại độc thang.

Bài thuốc này có tác dụng làm vượng chức nǎng của cơ quan giải độc và loại trừ các độc tố. Thông thường, người ta thêm Liên kiều vào để dùng. Bài thuốc được dùng vào giai đoạn đầu của chứng mụn nhọt, nếu bệnh nhẹ thì tự nó sẽ tiêu đi, và nếu không tiêu được thì nó cũng có tác dụng làm giảm độc tính. Đối với những mụn độc mủ bùng lên xẹp xuống, thì bài thuốc này được dùng với mục đích cải thiện thể chất. Đối với chứng eczema, nhiều khi thuốc này cũng có hiệu quả rõ rệt, thuốc này cũng được ứng dụng để chữa mày đay.

Theo các tài liệu tham khảo: Bài thuốc này thường có Liên kiều, dùng cho những người có thể chất giống ở Tiểu sài hồ thang và đòi hỏi tác dụng giải độc. Với ý nghĩa đó, bài thuốc này được ứng dụng chữa mụn, nhọt, éczêma, ngoài ra nhiều khi được dùng để chữa chứng lao rốn phổi, viêm thận, bệnh đái đường, giang mai, ghẻ, suy nhược thần kinh.

Thuốc được ứng dụng chữa viêm tuyến sữa, viêm vòm hàm trên, trứng cá, viêm tai giữa, mụn chắp, viêm tai ngoài.

Bài thuốc này dùng vào giai đoạn đầu của các loại mụn nhọt có tính chất viêm ở những người đã dùng Cát cǎn thang gia cát cánh thạch cao nhưng không có hiệu quả.

Bài 103: NHUẬN TRÀNG THANG (JUN CHYO TO)

Thành phần và phân lượng: Đương quy 3g, Thục địa 3g, Can địa hoàng 3g, (Địa hoàng 6g); Ma tử nhân 2g, Đào nhân 2g, Hạnh nhân 2g, Chỉ thực 0,5-2g, Hoàng cầm 2g, Hậu phác 2g, Đại hoàng 1-3g, Cam thảo 1-1,5g.

Cách dùng và lượng dùng: 1. Tán: Mỗi ngày uống từ 1 đến 3 lần, mỗi lần 2-3g. 2. Thang: Giống như lượng tán.

Công dụng: Chữa bí đại tiện.

Giải thích: Theo sách Vạn bệnh hồi xuân: Dùng cho những người thể lực tương đối kém, thường xuyên bí đại tiện, đặc biệt thường dùng cho những người già bí đại tiện. Vốn dĩ đây là bài thuốc hoàn được luyện bằng mật ong, nhưng nên dùng theo thuốc tán.

Nhuận tràng hoàn dùng để trị táo bón, bí đại tiện. Cho tất cả các vị trên sắc với nước, uốnglúc bụng đói khi thuốc còn nóng. Nếu đại tiện đã thông rồi thì lập tức ngừng thuốc, không thể uống nhiều. Thuốc này cũng có thể dùng dưới dạng hoàn và gia giảm các vị. Nghiền tất cả các vị trên thành bột, luyện với mật ong, làm thành những hoàn nhỏ như hạt ngô đồng, mổi ngày uống 50 hoàn với nước lã đun sôi khi bụng đói, tuyệt đối kiêng các thức ǎn cay và nóng. Nếu táo bọn thực nhiệt thì dùng bài thuốc này, nếu phát sốt thì thêm Sài hồ, nếu đau bụng thì thêm Mộc hương, nếu táo do hư huyết thì thêm Đương quy, Thục địa, Đào nhân, Hồng hoa, nếu táo do phong thì thêm úc lý nhân, Tạo giáp, Khương hoạt; nếu táo do khí hư thì thêm Nhân sâm, úc lý nhân; nếu táo do khí thực thì thêm Tân lang, Mộc hương, táo do đàm hỏa thì thêm Qua lâu, Trúc lịch; nếu bí đại tiện do ra nhiều mồ hôi, tiểu tiện nhiều, nước bọt khô thì thêm Nhân sâm, Mạch môn đông, nếu bí đại tiện do khí huyết già cả, khô háo thì thêm Nhân sâm, Tỏa dương, Mạch môn đông, úc lý nhân, tǎng thêm lương Đương quy, Thục địa, Sinh địa, dùng ít Đào nhân đi; nếu táo bón nặng sau khi đẻ thì thêm Nhân sâm, Hồng hoa, tǎng thêm lượng Đương quy, Thục địa, bỏ Hoàng cầm, Đào nhân. Bài thuốc này nếu thêm Tân lang thì trở thành bài Thông linh thang.

Theo các tài liệu tham khảo: Bài thuốc này dùng trong trường hợp bị táo bón thường xuyên dạng nhẹ có chiều hướng hư chứng, và cũng có thể dùng trong trường hợp táo bón lúùc nặng lúc nhẹ. Mục tiêu của bài thuốclà nhằm vào những người do thể dịch bị khô háo tạo ra nhiệt trong ruột, ruột bị khô, dẫn tới bí đại tiện thường xuyên, phân bị táo như phân thỏ, da khô, thành bụng chùng. Bài thuốc này chính là bài gia giảm của bài thuốc cổ Ma tử nhân hoàn. Theo mục tiêu trên, bài thuốc này cũng có thể ứng dụng để chứa chứng táo bón thường xuyên, nhất là táo bón ở những người già, táo bón kèm thao các chứng tǎng huyết áp, xơ cứng động mạch, viêm thận mạn tính, và những khi dùng các bài thuốc hạ tễ khác không có tác dụng.

Bài 104: CHƯNG NHÃN NHẤT PHƯƠNG (JO GAN IP PO) (chắp, toét mắt)

Thành phần và phân lượng: Bạch phàn (hoặc Minh phàn) 2g, Cam thảo 2g, Hoàng liên 2g, Hoàng bá 2g, Hồng hoa 2g.

Cách dùng và lượng dùng: Sau khi trộn đều tất cả các thuốc sống, cho vào 300 ml nước để sắc lấy 200 ml. Thuốc dùng để rửa mắt hoặc chườm nóng.

Công dụng hoặc hiệu quả: Dùng để trị mụn chắp, toét mắt, viêm kết mạc dịch tễ.

Giải thích:

Bảng

Tên thuốc sống

Tên tài liệu thao khảo

Bạch phàn

Camthảo

Hoàng liên

Hoàng bá

Hồng hoa

Thực tế chẩn liệu (1)

2

2

2

2

2

Chẩn liệu y điển (2)

2

2

2

2

2

 

(1) và (2): Dùng vải chườm nóng lên chỗ toét mắt.

Bài 105: SINH KHƯƠNG TẢ TÂM THANG (SHO KYO SHA SHIN TO) (chán ăn, đầy hơi, hôi miệng)

Thành phần và phân lượng: Bán hạ 4-6g, Nhân sâm 2-3g, Hoàng cầm 2-3g, Cam thảo 2-3g, Đại táo 2-3g, Hoàng liên 1g, Can khương 1-2g (không được dùng Can sinh khương); Sinh khương 2-4g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Thuốc dùng để trị các chứng ǎn uống không ngon miệng, ợ nóng, buồn nôn, nôn mửa, ỉa chảy, viêm ruột, hôi mồm kèm theo cảm giác bị đầy tức ở vùng lõm thượng vị và ợ nóng.

Giải thích: Theo sách Thương hàn luận: Đây là bài Bán hạ tả tâm thang giảm bớt lượng Can khương và thêm vị Sinh khương, dùng trong những trường hợp dùng bài Bán hạ tả tâm thang đặc biệt là khi ợ và ợ nóng nhiều.

Theo các tài liệu tham khảo như Cơ sở và chẩn liệu, Chẩn liệu y điển thì: Trong Phương cực phụ ngôn viết: "bài thuốc này trị các chứng của bài Bán hạ tả tâm thang mà lại bị nôn mửa", còn trong Y thánh phương cách có viết: "Những người bệnh cảm thấy đầy tức ở bụng dưới, ợ hơi thức ǎn và những người nặng thì bị nôn mửa và bụng dưới bị ứ nước, sôi bụng, ỉa chảy thì phải dùng Sinh khương tả tâm thang".

Đây là bài thuốc bệnh dạ dày. Thuốc có hiệu nghiệm đối với những người không muốn ǎn, vùng lõm thượng vị cảm thấy đầy tức, buồn nôn, đặc biệt là những người bị ợ, lưỡi bị rộp trắng, sôi bụng và ỉa chảy. ỉa chảy ở đây là loại ỉa chảy do sự lên men gây ra (trong phân có lẫn hơi).

Bài 106: TIỂU KIẾN TRUNG THANG (SHO KEN CHU TO) (bổ trẻ em)

Thành phần và phân lượng: Quế chi 3-4g, Sinh khương 3-4g, Đại táo 3-4g, Thược dược 6g, Cam thảo 2-3g, Mạch nha 20g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Bỏ tất cả các vị (trừ Mạch nha) vào sắc, sau đó bỏ bã rồi cho Mạch nha vào sắc tiếp trong vòng 5 phút.

Công dụng: Dùng để trị các chứng thể chất hư nhược ở trẻ em, mệt mỏi rã rời, chứng thần kinh dễ bị kích thích, viêm ruột mạn tính, trẻ con đái dầm, khóc đêm ở những người thể chất hư nhược, dễ mệt mỏi, huyết sắc kém kèm theo một trong các triệu chứng: đau họng, tim đập mạnh, chân tay lúc nóng lúc lạnh, đái rắt hoặc đái nhiều.

Giải thích: Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược: Có thể nói đây là một bài thuốc bổ cho những người có thể chất hư nhược, nhất là dùng để cải thiện thể chất hư nhược cho trẻ con.

Bài thuốc này là bài Quế chi gia thược dược thang có thêm Mạch nha, với tác dụng bổ dưỡng và làm dịu những cơn đau kịch phát của Mạch nha, cho nên bài thuốc này được ứng dụng rộng rãi hơn là việc dùng để trị chứng kiết lị và đau bụng của bài Quế chi gia Thược dược thang.

Lưu ý: Bài thuốc này không được dùng cho những người bị nôn mửa và những người bị viêm cấp tính.

Theo các tài liệu tham khảo như Kim quỹ yếu lược, Chẩn trị y điển, v.v...: Bệnh thương hàn, mạch dương sáp, mạch lâm huyền se ợcó chứng bụng thường đau thắt, trước hết hãy dùng Tiểu kiến trung thang, nếu không khỏi thì dùng Tiểu sài hồ thang làm chủ. Bệnh thương hàn qua hai ba ngày sau, người rất phiền muộn vì tim đập mạnh mà phiền, dùng Tiểu kiến trung thang làm chủ.

Thuốc dùng cho những người hư lao, biểu cấp, tim đập mạnh, bụng đau, mộng tinh, chân tay đau, bàn chân bàn tay nóng khó chịu, họng hô, miệng khát. Nam giới da vàng vọt, tiểu tiện bất lợi thì thường dùng Tiểu kiến trung thang. Phụ nữ đau bụng cũng nên dùng Tiểu kiến trung thang.

Thuốc dùng cho những người thường ngày cơ thể hư nhược, dễ mệt mỏi, hoặc những người bình thường khỏe mạnh, nhưng hoạt động quá sức, người quá mệt mỏi. Những chứng bệnh chủ yếu mà bài thuốc này trị là người mệt mỏi rã rời, bụng đau. Bài thuốc cũng được dùng khi nhịp tim tǎng vọt, đổ mồ hôi trộm, đổ máu cam, mộng tinh, bàn chân bàn tay nóng khó chịu, tứ chi có cảm giác mệt mỏi đau nhức, miệng khô, tiểu tiện bất lợi. Phạm vi ứng dụng của bài thuốc khá rộng rãi, phần nhiều là được dùng cho trẻ còn bú, cải thiện thể chất của những đứa trẻ gầy yếu, trị chứng đái đêm, khóc đêm, viêm dạ dày, cảm mạo ở trẻ em, lên sởi, viêm phổi và đau bụng kịch phát. Thuốc cũng có hiệu nghiệm đối với bệnh viêm phúc mạc mạn tính dạng nhẹ, lao phổi dạng nhẹ, viêm xương, viêm khớp, chứng thần kinh, thoát vị ở trẻ sơ sinh, xuyễn, chàm tím, viêm kết mạc, xuất huyết đáy mắt.

Bài 107: TIỂU SÀI HỒ THANG (SHO SAI KO TO) (nhiệt ngực, nặng tức, mệt sau cảm mạo)

Thành phần và phân lượng: Sài hồ 4-7g, Bán hạ 4-5g, Sinh khương 4g, Hoàng cầm 3g, Đại táo 2-3g, Nhân sâm 2-3g, Cam thảo 2g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Thuốc dùng trong các trường hợp bị buồn nôn, ǎn uống không ngon miệng, viêm dạ dày, hư nhược vị tràng, cảm thấy mệt mỏi và các chứng của giai đoạn sau của cảm cúm.

Giải thích: Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược: Bài thuốc này còn có tên là Sankinto (Tam cấm thang).

Đây là bài thuốc tiêu biểu của các bệnh nhiệt ngực và cũng là bài thuốc cơ bản trong các bài thuốc Sài hồ. Thuốc này được dùng cho những người có cảm giác tức tối khó chịu từ vùng lõm thượng vị cho tới mạng sườn như là nén vào xương sườn, lưỡi có rêu trắng, miệng đắng, dẻo, bụng đầy cứng, buồn nôn, người lúc nóng lúc lạnh, phần nhiều những người mắc các chứng của bài thuốc này thường hay kiêng khem. Đây là bài thuốc cải thiện thể chất và được ứng dụng rộng. Bài thuốc này có tên là Tam cấm thang là do xuất phát từ "bệnh trạng phải cấm 3 thứ: hãn, thổ, hạ".

Sách Phương hàm loại tụ ghi: "bài thuốc này nhằm vào những người đầy tức ngực sườn, người lúc nóng lúc lạnh, ǎn uống kém ngon, nôn, ù tai".

Theo các tài liệu tham khảo: Bài thuốc này dùng khi biểu tà đã tiêu tan, bệnh đã tiến vào phần thiếu dương, tức là ở khoảng bán biểu bán lý, thể hiện dưới dạng đầy tức ở ngực sườn. Phần thiếu dương nằm ở xung quanh màng hoành cách, chỗ phế quản, màng sườn, phúc mạc, gan và mật, dạ dày. Ngực sườn đầy tức là vì khu vực xung quanh rẻ cuối cùng xương sườn, ở các phần da, cơ và các tổ chức dưới da của sườn bị viêm và bị cǎn dị thường gây ra, người cảm thấy đầy tức khóc chịu như có cái gì chèn đầy ngực, nếu ấn tay vào vùng cánh cung của xương sườn thì thấy chối và đau nhói. Hiện tượng này là do sự sưng tấy thành các cục rắn ở các vị trí nói tên vì nhiệt bên trong gây ra, ngay tuyến bạch mạch thành ngực cũng sinh ra hiện tượng sưng tấy thành các cục rắn này. Ngoài ra, mạch trầm và huỳên, ǎn uống không thậy ngon miệng, miệng đắng, lưỡi có rêu trắng, nôn mưả, người lúc nóng lúc lạnh, tim đập mạnh, cổ cứng, tai ù. Và theo đường kinh lạc của Can và Đởm, cái đau kéo từ cổ xuống tới tận hạ bộ. Bài thuốc này cũng có thể dùng khi không nhất thiết là có sốt rét và nôn mửa, và cũng có thể dùng khi chứng đầy tức ở vùng mạng sườn không thể hiện rõ rệt lắm.



Bài 108: TIỂU SÀI HỒ THANG GIA CÁT CÁNH THẠCH CAO (SHO SAI KO TO KA KI KYO SEK KO) (viêm amidan)

Thành phần và phân lượng: Sài hồ 4-7g, Bán hạ 4-7g, Sinh khương 4g, Hoàng cầm 3g, Đại táo 2-3g, Nhân sâm 2-3g, Cam thảo 2g, Cát cánh 3g, Thạch cao 10g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Cho vào sắc với 600 ml nước, lấy 350 ml, bỏ bã, sau đó cho nước thuốc lên cô lại lấy 200cc, chia uống làm 3lần. Nếu dùng Can sinh khương thì dùng 1g.

Công dụng: Trị các chứng viêm amiđan và viêm vùng xung quanh amiđan mà họng bị sưng và đau.

Giải thích: Bài thuốc này được ứng dụng rất rộng rãi trong các khoa tai mũi họng và hô hấp, là những chứng của bài Tiểu sài hồ thang. Đây là bài Tiểu sài hồ thang có thêm Cát cánh và Thạch cao, cho nên thuốc được dùng trong trường hợp cổ khô, niêm mạc đã bị viêm nặng hoặc có đờm và mủ. Thuốc được ứng dụng trong các trường hợp viêm tuyến dưới tai, viêm tuyến bạch mạch cổ, viêm xoang, viêm amiđan, viêm vùng xung quanh amiđan, bị chứng có mủ và đờm trong giai đoạn sau của cảm cúm. Mục tiêu của bài thuốc là chứng thiếu dương: Mạch trầm và huyền, ǎn uống không ngon miệng, đắng miệng, lưỡi có rêu trắng, nôn mửa, lúc nóng lúc lạnh, tim đập mạnh, phần cổ tê cứng, tai điếc v.v...

Theo Thực tế chẩn liệu: Khi tuyến dưới tai bị sưng, thân nhiệt lúc tǎng lúc giảm ở mức trên dưới 38 độ, trên lưỡi có những đốm rêu trắng, ít nhiều bị đầy tức ở vùng mạng sườn, nếu dùng liên tục cho tới khi thân nhiệt xuống thì phần nhiều là có thể chữa khỏi và có thể ngǎn chặn được những chứng kèm theo. Những người viêm tai giữa dạng mụn cấp tính, khi bệnh phát 2-3 ngày thì người bị sốt và rét, miệng đắng, lưỡi có những rêu trắng, tai đau, khó nghe, ra nước mủ, miệng khô rất khó chịu. Thuốc cũng dùng cho những người có triệu chứng của bệnh sùi vòm họng, ở vùng mạng sườn có cảm giác đầy tức, tuyến bạch mạch cổ bị sưng và có chiều hướng mắc chứng thần kinh.



Bài 109: TIỂU THỪA KHÍ THANG (SHO JO KI TO) (bí đại tiện)

Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 2-4g, Chỉ thực 2-4g, Hậu phác 2-3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị bí đại tiện.

Giải thích: Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược:

(a) Phân lượng của các vị là 4 lạng Đại hoàng, 3 quả Chỉ thực và 2 lạng Hậu phác;

(b) Thừa khí có nghĩa là thuận khí, tức là làm cho khí lưu thông tốt hơn, nhờ đó trị được chứng đầy bụng và bí đại tiện. Hậu phác, Chỉ thực có tác dụng trị cǎng chướng bụng, Đại hoàng có tác dụng tiêu viêm và làm thông đại tiện;

(c) Đây là bài thuốc dùng cho những bệnh nhân bị thực chứng, song đó là bài thuốc dùng cho những người có thể lực khá, vùng xung quanh rốn và bụng nhìn chung là đầy trướng, có lực đàn hồi, mạch khỏe và bí đại tiện.

Những chú ý khi sử dụng:

(a) Bài thuốc này cấm dùng cho những người mặc dù bị bí đại tiện nhưng mạch lại yếu, chẳúng hạn bụng tuy đầy trướng nhưng không được dùng khi bụng bị cổ trướng và viêm phúc mạc;

(b) Đây là bài Đại thừa khí thang bỏ Mang tiêu, được dùng cho những người bệnh trạng nhẹ hơn trong bài Đại thừa khí thang.

Theo Chẩn liệu y điển: Bài thuốc này được dùng nhiều khi bệnh viêm phổi cấp tính và sốt phát ban đang tiến triển, ngoài ra còn được dùng để trị chứng béo phì, tǎng huyết áp, táo bón thường xuyên, ngộ độc thức ǎn v.v...

Theo Thực tế ứng dụng: Bài thuốc này dùng để tháo dần dần những thứ ứ trệ trong dạ dày, nhưng trên thực tế, thuốc còn có thác dụng tháo những thứ ứ trệ trong ruột chứ không chỉ trong dạ dày. Thuốc cũng còn được dùng trị chứng tǎng huyết áp, phát phì, bí đại tiên, ngộ độc thức ǎn, viêm phổi cấp tính và các bệnh nhiệt khác.



Bài 110: TIỂU THANH LONG THANG (SHO SEI RYU TO) (hô hấp trên)

Thành phần và phân lượng: Ma hoàng 2-3g, Thược dược 2-3g, Can khương 2-3g, Cam thảo 2-3g, Quế chi 2-3g, Tế tân 2-3g, Ngũ vị tử 1,5-3g, Bán hạ 3-6g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Về nguyên tắc, sắc Ma hoàng trước, bỏ bọt, rồi cho các vị khác vào sắc tiếp. Nhìn chung, người ta bỏ cả tất cả các vị vào sắc cùng một lúc.

Công dụng: Thuốc dùng để trị ho ra đờm loãng, viêm mũi, viêm phế quản, hen phế quản, đổ nước mũi.

Giải thích: Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược: Đây là bài Ma hoàng thang biến hóa thành, dùng cho người có tà bệnh ở biểu, bụng trên có thủy độc, Ma hoàng là thuốc chủ lực. Bài thuốc này dùng để trị chứng ho kèm theo những tiếng hò khè thì thông thường không thể là ho khan được mà có đờm loãng như nước rãi và có chiều hướng rất nhiều. Bài thuốc này không dùng cho người ho ra đờm đặc hoặc đờm dạng mủ. Ngoài ra, cũng không nên dùng thuốc này cho những người gầy, thiếu máu, bụng mềm nhão, không muốn ǎn, bàn chân bàn tay lạnh, mạch nhỏ và yếu.

Theo các tài liệu tham khảo: Mục tiêu chủ yếu của thuốc là nhằm vào biểu chứng (sốt, ớn lạnh, đau đầu, không ra mồ hôi, nôn khan v.v...) và thủy chứng (đờm loãng, nước mũi, nước dãi, lượng tiểu tiện nhiều, đái đêm, phù thũng, ho hen). Thuốc được dùng để trị chứng hen xuyễn ở trẻ em, ho gà, viêm thận cấp tính (phù thũng), éczêma, viêm kết mạc cấp tính.



Bài 111: TIỂU THANH LONG THANG GIA THẠCH CAO (SHO SEI RYU TO KA SEK KO) (viêm phế quản, hen)

Thành phần và phân lượng: Ma hoàng 2-3g, Thược dược 2-3g, Can khương 2-3g, Cam thảo 2-3g, Quế chi 2-3g, Tế tân 2-3g, Ngũ vị tử 1,5-3g, Bán hạ 3-6g, Thạch cao 5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Thuốc dùng để trị các chứng viêm phế quản, hen phế quản, đổ nước mũi, ho có đờm hoảng, viêm mũi ở những người khô cổ.

Giải thích: Theo sách Kim quỹ yếu lược: Đây là bài Tiểu thanh long thang có thêm Thạch cao.

Theo các tài liệu tham khảo: Dùng cho những người bị các chứng của Tiểu thanh long thang mà lại bị phiền táo hoặc ho, khí thượng sung bệnh trạng nặng, người bị phù thũng, người khô háo, miệng khát.



Bài 112: TIỂU THANH LONG THANG HỢP MA HẠNH CAM THẠCH THANG (SHO SEI RYU TO GO MA KYO KAN SEKI TO) (viêm phế quản, hen)

Thành phần và phân lượng: Ma hoàng 4g, Thược dược 2-3g, Can khương 2-3g, Cam thảo 2-3g, Quế chi 2-3g, Tế tân 2-3g, Ngũ vị tử 1,5-3g, Bán hạ 3-6g, Hạnh nhân 4g, Thạch cao 10g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị các chứng hen phế quản, hen ở trẻ em, ho.

Giải thích: Đây là bài thuốc kết hợp giữa Tiểu thanh long thang và Ma hạnh cam thạch thang, không rõ xuất xứ của bài thuốc này ở đâu. Ho, xuyễn, tức thở ở trong bài thuốc này ở trong tình trạng nặng hơn là ở bài Tiểu thanh long thang, bài thuốc được dùng khi miệng khát.

Theo các tài liệu tham khảo: Đây là bài thuốc thuộc cùng loại với Tiểu thanh long thang thêm vào bài Tiểu thanh long thang gia thạch cao mỗi thang 5g Thạch cao. Thuốc dùng trong trường hợp khí thượng nghịch nặng, người phiền táo, miệng khát do kết hợp với Thạch cao và Ma hoàng, bài thuốc này dùng để trị cả chứng ra mồ hôi dầu (du hãn), chứ không phải không ra mồ hôi như bài thuốc gốc. Honma rất hay dùng bài thuốc này với ý nghĩa là bài thuốc kết hợp Tiểu thanh long thang với Ma hạnh cam thạch thang.



Bài 113: TIỂU BÁN HẠ GIA PHỤC LINH THANG (SHO HAN GE KA BUKU RYO TO) (nghén)

Thành phần và phân lượng: Bán hạ 5-8g, Sinh khương 5-8g, Phục linh 3-5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Nếu uống nhiều trong một lần sẽ bị nôn, nên uống từ từ làm nhiều lần.

Công dụng: Trị ốm nghén, nôn mửa và buồn nôn.

Giải thích: Theo sách Kim quỹ yếu lược: Trong các thuốc đông y thì Bán hạ và Sinh khương là những vị thuốc tiêu biểu có tác dụng trị nôn mửa. Kim quỹ yếu lược ghi rằng hai vị này có tác dụng khơi thông dạ dày, hạ khí, chặn nôn mửa", do thuốc trực tiếp tác dụng vào dạ dày, làm dịu bớt những cơn co thắt ở vùng môn vị và hạ khí cho nên người ta cho rằng thuôùc có cả những tác dụng ở trung khu (vùng trung tâm). Ngày nay, qua thực nghiệm, người ta đã biết được rằng Bán hạ có tác dụng hạ nôn mửa ở cả vùng trung khu lẫn vùng đầu mút.

Bài thuốc này dùng để chống nôn mửa, nhưng cần phải phân biệt với chứng mửa ói nước trong bài Ngũ linh tán. Có nghĩa là, nôn mửa trong Ngũ linh tán thì miệng rất khát, nhưng uống nước vào là lập tức bị ói nước, và sau khi ói rồi lại rất khát, uống nước vào lại bị ói, tiểu tiện kém, nhưng bài thuốc này dùng cho những người không khát lắm mà lại rất buồn nôn.

Theo các tài liệu tham khảo: Thuốc được dùng khi vùng lõm thượng vị bị đầy tức, bụng bị ứ nước, đôi khi bị chóng mặt, tim đập mạnh, nôn mửa, miệng khát, nôn mửa trong giai đoạn đầu của ốm nghén, các loại nôn mửa, viêm dạ dày ruột cấp tính. Thuốc còn có hiệu nghiệm với trẻ bị trớ sữa.



Bài 114: THǍNG MA CÁT CǍN THANG (SHO MA KAK KON TO) (cảm)

Thành phần và phân lượng: Cát cǎn 5-6 g, Thǎng ma 1-3 g, Sinh khương 1-3g, Thược dược 3g, Cam thảo 1,5-3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để trị viêm da và giai đoạn đầu của cảm mạo.

Giải thích: Theo sách Vạn bệnh hồi xuân: Thuốc dùng trong giai đọan đầu của bệnh sởi khi sởi không mọc, có nguy cơ chạy hậu có tác dụng thúc cho sởi lên đều và làm cho bệnh sởi diễn ra suôn sẻ. Thuốc dùng rất tốt cho tới khi sởi đã mọc đều.

Theo Giải thích các bài thuốc: thuốc dùng vào giai đoạn đầu của các bệnh sốt kèm theo phát ban như sởi, đậu mùa, tinh hồnh nhiệt, người bị cảm đầu đau dữ dội như bị bệnh não, "khi bị các loại bệnh dịch thời tiết thì người sốt, đau đầu, người và chân tay đau và chưa phát ban". Những người bị các bệnh trên cũng có khi khô mũi , đổ máu cam, mất ngủ. Thuốc cũng được ứng dụng để chữa cúm, lên sởi, tinh hồng nhiệt, thủy đậu, đổ máu cam, mắt xung huyết, bệnh da, viêm amiđan.

Theo các tài liệu tham khảo: Thuốc dùng để trị các bệnh thời khí ôn dịch ở người lớn, trẻ em, đầu đau, người bị sốt, người và chân tay đau. Thuốc uống trong quãng thời gian chưa phát ban. Dùng cho những người bị trúng phong thương hàn dương minh, đầu đau, người đau, sốt rét, không ra được mồ hôi, miệng khát, mắt đau, mũi khô không nằm ngửa được, phát ban dương minh muốn mọc mà không mọc được. Kinh túc dương minh, đi gần dưới mắt và giáp mũi nên mắt cộm, mũi khô và do đó không thể ngủ được.

Đây là bài thuốc dùng để giải nhiệt trong dạ dày và nhiệt trong máu, dùng trị biểu tà của dương minh kinh. Những người bị các loại bệnh nhiệt, mắt đau, mũi khô, mất ngủ, không ra được mồ hôi, sốt ớn lạnh là những chứng nhiệt dương minh kinh. Thuốc này được dùng cho giai đoạn đầu các loại bệnh nhiệt kèm theo phát ban như đậu mùa, sởi, tinh hồng nhiệt, hoặc những người bị cúm đầu đau dữ dội như bị bệnh não. Thuốc thích hợp đối với những trường hợp chưa phát ban hoặc có nguy cơ sởi không mọc được.

Bài thuốc này còn được ứng dụng trong các trường hợp bị cảm, cúm, sởi, viêm quầng (erysipelas), tinh hồng nhiệt, thủy đậu, đổ máu cam, xung huyết mắt, viêm amiđan và bệnh da v.v... Cách gia giảm:

(a) Nếu đau đầu thì cho thêm ít Thông bạch, Hành hoa;

(b) Nếu ho thì thêm 3g Tang bạch bì;

(c) Nếu nóng ở vùng ngực thì thêm 3g Hoàng cầm và 2g Bạch hà diệp;

(d) Nếu không ra được mồ hôi thì thêm 3g Ma hoàng

(e) Nếu đau họng thì thêm 3g Cát cánh;

(g) Nếu bị viêm quầng màu vàng thì thêm 2g Huyền sâm.



Bài 115: TIÊU MAI THANG (SHO BAI TO) (tẩy giun)

Thành phần và phân lượng: Ô mai 2g, Sơn tiêu 2g, Tân lang tử (Hạt cau2g); Chỉ thực 2g, Mộc hương 2g, Súc sa 2g, Hương phụ tử 2g, Quế chi 2g, Xuyên luyện tử (vỏ xoan) 2g, Hậu phác 2g, Cam thảo 2g, Can khương 2g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để tẩy giun.

Giải thích: Thuốc dùng để trị giun sán. Tác giả của bài thuốc, danh y Asada Sohaku nói bài thuốc này dùng cho những người bị bệnh giun sán có kèm theo các bệnh về bụng mà các thuốc tẩy giun thông thường không có tác dụng. Bài thuốc này có Ô mai và Sơn tiêu là chủ lực, cộng với Tân lang tử và Xuyên luyện tử là những vị thuốc đông y có tác dụng tẩy giun, bài thuốc phụ thêm khí tễ (có tác dụng làm cho dạ dày khỏe mạnh và làm cho ruột hoạt động đều) có hương thơm như Chỉ thực Mộc hương, Súc sa, Hương phụ tử, Quế chi, Hậu phác và Can khương, do đó, thuốc được ứng dụng để chữa bệnh giun thường xuất hiện nhiều ở những người ngày thường ǎn quá nhiều chất prôtêin nhưng lại thiếu các chất gia vị cho nên bị ợ hơi, hôi miệng, ợ nóng.

Theo Vật ngộ phương hàm khẩu quyết: Bài này trị chứng đau bụng do giun sán, có tác dụng đối với những người không hợp các loại thuốc tẩy giun khác.



Bài 116: TIÊU PHONG TÁN (SHO FU SAN) (eczêma mạn tính)

Thành phần và phân lượng: Đương quy 3g, Địa hoàng 3g, Thạch cao 3-5g, Phòng phong 2g, Truật 2-3g, Mộc thông 2-5g, Ngưu bàng tử 2g, Tri mẫu 1,5g, Hồ ma 1,5g, Thiền thoái 1g, Khổ sâm 1g, Kinh giới 1g, Cam thảo 1-1,5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng trị eczêma mạn tính (với những người chất tiết nhiều).

Giải thích: Theo sách Ngoại khoa chính tông: Bài thuốc này phần nhiều được dùng trị chứng eczêma mạn tính và bán cấp tính dai dẳng ở những người trẻ tuổi và khoẻ mạnh, không có hiện tượng thiếu máu, trong trường hợp bệnh thay đổi rõ rệt và tiến triển, rất ngứa. Bài thuốc này vốn là thuốc tán, nhưng thuốc thường được dùng dưới dạng sǎỳc uống.

Sách Phương hàm loại tụ viết: "Thuốc này dùng để trị cho những người phong thấp thấm vào huyết mạch gây ra ngứa ngáy. Nhất là ở những phụ nữ lứa tuổi 30, về mùa hè, tòan thân mọc nhiều mụn nước độc, da xù xì như vỏ cây, ngứa ngáy nếu gãi thì lại phỏng nước ngứa không chịu được. Nếu dùng thuốc này thì trong một tháng sẽ đỡ, dùng trong 3 tháng sẽ khỏi hoàn toàn".

Sách Ngoại khoa chính tông (phần về bệnh lở ngứa) viết:" Thuốc dùng trị cho những người phong thấp ngấm vào huyết mạch sinh ra lở loét ngứa ngáy không ngừng. Thuốc có tác dụng đối với cả người lớn lẫn trẻ con bị phong nhiệt thấm vào người sinh ra ngứa, trên mặt da lúc thì xuất hiện những vẩy da, lúc lại biến mất những vẩy đó. Bị lở đầu, rôm sẩy và ngứa da do phong thấp (Nữu khấu phong) thì dùng Tiêu phong tán".

Theo Thực tế ứng dụng: thuốc dùng trị chứng eczêma mạn tính và bán cấp. Mục đính của bài thuốc này là nhắm vào những người trên da mọc dầy đặc những mụn nhỏ, khi đỡ làm cho da đỏ phồng lên mọng nước, rất ngứa ngáy, hoặc rất khát nước hoặc sinh ra những đám vẩy da dày trông rất bẩn. Bệnh tiến triển rất nhanh.



Bài 117: TIÊU DAO TÁN (SHO YO SAN) (kinh, hư nhược)

Thành phần và phân lượng: Đương quy 3g, Thược dược 3g, Sài hồ 3g, Truật 3g, Phục linh 3g, Cam thảo 1,5-2g, Can sinh khương 1g, Bạc hà diệp 1g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Thuốc dùng để trị các chứng lạnh, thể chất hư nhược, kinh nguyệt thất thường, kinh nguyệt khó khǎn, các chứng của thời kỳ mạn kinh và các chứng về đường kinh nguyệt.

Giải thích: Theo sách Hòa tễ cục phương: Bài thuốc này được đặt tên là Tiêu dao tán là vì bài thuốc này có tác dụng làm dịu cơn bệnh khiến cho con người thanh thản thoải mái.

Đây là bài thuốc được dùng cho những bệnh do gan bị tổn thương gây ra trên những người có thể chất hư chứng của bệnh thiếu dương, nhất là những chứng bệnh kèm theo của tình trạng hư lao và các chứng tinh thần ở phụ nữ. Bài thuốc này nằm ở vị trí giữa Tiểu sai hồ thang và Bổ trung ích khí thang.

Thông thường, phần nhiều người ta thêm Mẫu đơn bì và Sơn tri tử để dùng dưới dạng Gia vị tiêu dao tán (Đơn tri tiêu dao tán).

Sách Hòa tễ cục phương viết:" Thuốc dùng cho những người bị huyết hư, mỏi mệt, ngũ tâm phiền nhiệt, người và chân tay đau nhức, đâuử nặng, chóng mặt, miệng khát họng khô, người sốt đổ mồ hôi trộm, ǎn uống kém chỉ muốn nằm, huyết nhiệt, kinh nguyệt không đều, bụng cǎng cứng và đau, sốt rét. Thuốc cũng trị cho những người phụ nữ huyết nhược âm hư, thiếu dinh dưỡng, người nóng, cơ thể gày yếu, ho đờm".

Sách Vạn bệnh hồi xuân viết: "Bài thuốc này trị các chứng can tỳ huyết hư, người sốt, đổ mồ hôi trộm, đau đầu, chóng mặt, thần kinh suy nhược, má đỏ, miệng khô, kinh nguyệt không đều, bụng trên đau, bụng dưới nặng, niệu đạo đau hoặc phù nề hoặc có mủ khiến cho nóng trong và khát".

Sách Y phương tập giải viết: "Thuốc này trị các chứng huyết hư, gan táo, cốt chưng lao nhiệt, sốt cơn lúc nóng lúc lạnh, bí đại tiện, kinh nguyệt không đều. Cốt chưng triều nhiệt trở thành can huyết hư. Can hóa ảnh hưởng tới phế sinh ra ho. Tà của thiếu dương, cho nên người lúc nóng lúc lạnh. Hỏa thịnh khắc kim khiến cho không sinh ra thủy, do đó miệng khát, táo bón, can tǎng huyết, can ngừng hoạt động kiến cho kinh nguyệt không đều".



Bài 118: TÂN DI THANH PHẾ THANG (SHIN I SEI HAI TO) (tắc,viêm mũi)

Thành phần và phân lượng: Tân di 2-3g, Trí mẫu 3g, Bách hợp 3g, Sơn tri tử 1,5-3g, Mạch môn đông 3-6g, Thạch cao 5-6g, Thǎng ma 1-1,5g, Tỳ bà diệp 1-3g, Hoàng cầm 3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị các chứng tắc mũi, viêm mũi mạn tính, viêm amidan chứng tích mủ.

Giải thích: Theo sách Ngọai khoa chính tông: Dùng cho những người phế nhiệt, trong mũi có cục thịt lúc đầu như hạt lựu sau lớn dần làm tắc lỗ mũi khiến cho không khí không qua lại dễ dàng được nữa. Thuốc được ứng dụng chữa tắc mũi, viêm phình mũi, thành mủ hốc vòm họng trên. Thuốc nên dùng khi các bài thuốc khác không có hiệu quả.

Theo Đông y đó đây: thuốc dùng khi bị bệnh có rất nhiều mủ, chỉ cần mở miệng ra là đã trông thấy mủ.



Bài 119: TẦN GIAO KHƯƠNG HOẠT THANG (JIN GYO KYO KATSU TO) (trĩ, ngứa)

Thành phần và phân lượng: Tần giao 3g, Khương hoạt 5g, Hoàng kỳ 3ỡg, Phòng phong2 g, Thǎng ma 1,5g, Cam thảo1,5g, Ma hoàng 1,5g, Sài hồ 1.5g, Cảo mộc 0.5g, Tế tân 0.5g, Hồng hoa 0.5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị bệnh trĩ có ngứa.

Giải thích: Theo Chẩn liệu y điển trong phần trĩ dò của sách "Chúng phương quy củ" có ghi: "Tần giao khương hoạt thang dùng để trị trĩ dò đã lòi ra ngoài và ngứa không chịu được".

Tham khảo: Đại từ điển y học Trung Quốc (của Tạ Quang) viết: Thuốc này trị trĩ dò đã thành cục lòi ra ngoài vì ngứa không chịu được.



Bài 120: TẦN CỬU PHÒNG PHONG THANG (JIN GYO BO FU TO) (trĩ)

Thành phần và phân lượng: Tần cửu 2g, Trạch tả 2g, Trần bì 2g, Sài hồử 2g, Phòng phong 2g, Đương quy 3g, Truật 3g, Cam thảo 1g, Hoàng bá 1g, Thǎng ma 1g, Đại hoàng 1g, Đào nhân 3g, Hồng hoa 1g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Theo Chẩn liệu y điển: uống lúc đói.

Công dụng: Dùng cho những người đi ngoài đau do bị trĩ ngoại.

Giải thích: Theo sách Lan thất bí tàng: Thuốc này dùng cho những người có chiều hướng bí đại tiện, khi đi ỉa rất đau, đôi khi ra lẫn với mủ, thể lực tương đối khá. Thuốc không chỉ dùng cho người bị trĩ dò mà còn dùng cho cả những người bị đau và chảy máu do trĩ ngoại. Tùy theo tình hình đại tiện như thế nào mà gia giảm lượng Đại hoàng.

Thuốc dùng để trị trĩ dò bị đau mỗi khi đi đại tiện. (Mục Thuốc đông y Nhật bản của Koizumi Eijiro).

Trung Quốc y học đại từ điển(do Tạ Quan biên soạn) viết: "Thuốc này dùng để trị trĩ dò đau mỗi khi đi đại tiện".



Bài 121: SÂM TÔ ẨM (JIN SO IN) (cảm cúm)

Thành phần và phân lượng: Tử tô diệp 1-1.5g, Chỉ thực 1-1.5g, Cát cánh 2g, Trần bì 2g, Cát cǎn 2g, Tiền hồ 2g, Bán hạ 3g, Phục linh 3g, Nhân sâm 1.5g, Đại táo 1.5g, Sinh khương 1.5g (Can khương 1g); Mộc hương 1-1.5g, Cam thảo 1g (Nhân sâm và Mộc hương không có cũng được).

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để trị cảm mạo, ho.

Giải thích: Theo sách Hòa tễ cục phương: Thuốc dùng cho những người bị tứ thời cảm mạo, người sốt, đau đầu, ho có đờm, nói khó khǎn, đổ nước mũi, vùng lõm thượng vị bị đầy tức nôn mửa và ói nước. Thuốc cũng được dùng cho những người bị ho có đờm khi bị cảm thời tiết, mà những ngày thường vị tràng yếu, nếu dùng Cát cǎn thang và Quế bì thang thì thấy tức ngực.

Tô diệp dùng trong đông y là frutescens Brit. Var. crispa Decne, song Tô diệp dùng trong bài thuốc của Hòa tễ cục phương là Bạch tô, Perylla frutescens, trong phân loại học, và không có Đại táo và Sinh khương.

Theo các tài liệu tham khảo: Thuốc được ứng dụng để chữa viêm phế quản, viêm phổi, ngộ độc rượu, chứng khí uất, xuyễn, các chứng thần kinh, không muốn ǎn do thần kinh v.v...



Bài 122: THẦN BÍ THANG (SHIM PI TO) (hen)

Thành phần và phân lượng: Ma hoàng 3-5g, Hạnh nhân 4g, Hậu phác 3g, Trần bì 2.5-3g, Cam thảo 2g, Sài hồ 2-4g, Tử tô diệp 1.5-3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị hen trẻ em hen phế quản, viêm phế quản.

Giải thích: Theo sách Ngoại đài bí yếu phương và sách Các bài thuốc gia truyền cuả Asada:

Xuất xứ của bài thuốc ở Ngoại đài bí yếu phương không có các vị Hậu phác, Cam thảo nhưng trong các bài thuốc gia truyền của gia đình Asada và các bài thuốc thường dùng ở Nhật bản lại có Hậu phác và Cam thảo. Bài thuốc này được cấu tạo bằng cách kết hợp Ma hạnh cam thạch dùng để chữa ho xuyễn bỏ Thạch cao với Bán hạ hậu phác thang dùng để chữa ho và tức ở cổ họng bỏ Bán hạ, Phục linh, Sinh khương, sau đó thêm Sài hồ và Trần bì, do đó bài thuốc được ứng dụng chữa hen và viêm phế quản ở những người có thể chất như trong bài Tiểu sài hồ thang. Vì vậy bài thuốc chủ yếu dùng cho những người hô hấp khó khǎn, bị chứng thần kinh do khí uất và cho trẻ em, những người dùng thuốc này, vì nước ứ ít cho nên đờm cũng ít.

Những đối tượng chủ yếu của bài thuốc này là:

(a) Hô hấp khó khǎn;

(b) Ho;

(c) Vị tràng khỏe.

Những mục tiêu điều trị đã được xác nhận của bài thuốc là:

(a) Ho ít đờm

(b) Hen và chứng sợ hãi bột phát.

Asada cho rằng nếu dùng bài thuốc này liên tục trong một thời gian dài thì sẽ trị được tận gốc hen. Nhưng nếu chẩn đoán nhầm thì lại gây ra hiện tượng tức thở. Người ta cho rằng nguyên nhân của hiện tượng đó phải chǎng là trong các bài thuốc cổ đã kết hợp hai vị thuốc tuyệt đối không thích hợp là Sài hồ và Ma hoàng. Bài thuốc này thích hợp cho những người vị tràng khỏe, trong các cơ quan tiêu hóa ít nước ứ.

Đây là thuốc chữa hen hiệu nghiệm với những người hen (xuyễn) mạn tính, hô hấp khó khǎn và ít đờm "trị ho kéo dài, hen nặng, chỉ ngồi chứ không nằm được, bên trong phổi có tiếng cò cử, khó thở". Bài thuốc này được vận dụng để cải thiện thể chất của những người bị hen nhất là ở trẻ em.



Bài 123: SÂM LINH BẠCH TRUẬT TÁN (JIN REI BYAKU JUTSU SAN) (tỳ vị hư nhược)

Thành phần và phân lượng: Nhân sâm 3g, Sơn dược 1,5-3g, Truật 3-4g, Phục linh 3-4g, ý dĩ nhân 5-8g, Biển đậu 2-4g, Liên nhục 2-4g, Cát cánh 2-2,5g, Súc sa 2g, Cam thảo 1,5g.

Cách dùng và lượng dùng:

1. Tán:mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1,5-2g.

Nghiền thành bột, uống mỗi lần 1,5-2g, mỗi ngày uống 3 lần với nước táo sắc hoặc nước ấm. Hoặc cũng có thể uống với nước cháo gạo nứt, hoặc sắc uống cũng được. Trong phần giải thích sơ lược ghi rằng nghiền thuốc thành bột uống mỗi lần 2,0-3,0g với nước táo sắc hoặc với nước ấm hoặc nước cháo. Bất đắc dĩ mới sắc uống.

2. Thang.

Công dụng: Trị các chứng ǎn uống không ngon miệng, ỉa chảy mạn tính, thể lực giảm sút sau khi ốm dậy, người mệt mỏi rã rời ở những người gầy, sắc mặt kém, không muốn ǎn và có chiều hướng bị ỉa chảy thường xuyên.

Giải thích: Theo sách Hòa tễ cục phương: Đây là bài thuốc gia giảm của Tứ quân tử thang, cách dùng giống như Tứ quân tử thang, dùng cho những người vị tràng yếu, ǎn uống không ngon miệng, nôn mửa và ỉa chảy, nhưng điều đáng chú ý là không có sốt và lạnh. Thuốc tán thì dùng uống với nước ấm, nước cháo gạo lứt, hoặc nước sắc của đại táo.

Theo nhiều tài liệu tham khảo: Thuốc dùng cho những người vị tràng hư nhược, hơi một tí là bị ỉa chảy, không muốn ǎn uống, cả mạch lẫn bụng đều mềm và yếu, người thiếu máu, dễ mệt mỏi và bị chứng lạnh. Những người này phần nhiều là đi ỉa ngày 2-3 lần phân lỏng như nước, cũng có khi thức ǎn vào đến dạ dày một cái là đi ỉa chảy liền. Bụng hơi đầy, sôi bụng, bụng bị ứ hơi, nhưng hầu như không kèm theo đau bụng.



Bài 124: THANH CƠ AN HỒI THANG (SEI KI AN KAI TO) (tẩy giun)

Thành phần và phân lượng: Sài hồ 4-7g, Bán hạ 4-5g, Sinh khương 4g, Nhân sâm 2-3g, Hoàng cầm 3g, Cam thảo 2g, Hải nhân thảo 3g, Mạch môn đông 3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để tẩy giun.

Giải thích: Theo Man nan lục: Đây là bài Tiểu sài hồ thang bỏ Đại táo, thêm Hải nhân thảo (giá cô thái), Mạch môn đông.

Theo Chẩn liệu y điển: Thuốc dùng cho những người bị giun sán, người lúc sốt lúc lạnh, da khô, người mệt mỏi giống như bị bệnh sốt và rét, hoặc cho trẻ em bị giun sán mà bị sốt và rét.



Bài 125: THANH THẤP HÓA ĐÀM THANG (SEI SHITSU KE TAN TO) (đau thần kinh, đau khớp, đau cơ)

Thành phần và phân lượng: Thiên nam tinh 3g, Hoàng cầm 3g, Sinh khương 3g, Bán hạ 4g, Phục linh 4g, Trần bì 2-3g, Khương hoạt 1,5g, Bạch chỉ 1,5g, Bạch giới tử 1,5g, Cam thảo 1-1,5g, Truật 4g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị các chứng đau thần kinh, đau khớp, đau cơ ở những người cảm thấy lạnh ở lưng.

Giải thích: Theo Thọ thế bảo nguyên: Đây là bài thuốc tuyệt diệu cho những người "lưng lạnh như một cục bǎng, mạch hoạt như là lǎn viên bi", song không nhất thiết cứ phải câu nệ vào đặc điểm trên.

Vốn dĩ, đây là bài thuốc dùng cho những người mà nơi này hay nơi khác của cơ thể bị đau vì thấp, và cũng được ứng dụng để trị đau ở vùng ngực. Thuốc được dùng để chữa đau thần kinh liên sườn, đau vùng ngực và vùng lưng. Mục tiêu của thuốc này là trị chứng nếu ho thì vùng dưới nách đau co thắt lại, đờm ứ đầu ngực khiến rất khó chịu, thuốc cũng còn được dùng trong trường hợp đau di chuyển nơi này nơi khác trong cơ thể chứ không chỉ ở vùng ngực.

Theo các tài liệu tham khảo: Dùng trị đau thần kinh liên sườn do thủy độc gây ra. Thuốc cũng còn được dùng nhiều để trị các chứng mất trương lực dạ dày, sa dạ dày. Thuốc còn trị phù sữa, cảm mạo, chứng mỏi tê vai và đau ngực thường thấy ở những người da trắng bủng, mọng nước. Thuốc cũng có thể dùng cho những người cổ có cục cứng to như quả mai khô.

Thuốc dùng để trị chứng đau ngực vì đờm khô khó khạc ra, chứng đau các cơ và lạnh lưng. Thuốc cũng được ứng dụng trị chứng đau thần kinh liên sườn, viêm khớp cơ, phù bạch hạch, mỏi tê vai.



Bài 126: THANH THỬ ÍCH KHÍ THANG (SEI SHO EK KI TO) (trúng thử)

Thành phần và phân lượng: Nhân sâm 3-3,5g, Truật 3-3,5g, Mạch môn đông 3-3,5g, Đương quy 3g, Hoàng kỳ 3g, Trần bì 2-3g, Ngũ vị tử 1-2g, Hoàng bá 1-2g, Cam thảo 1-2g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị các chứng trúng thử và ǎn uống không ngon miệng, ỉa chảy, mệt mỏi toàn thân, gầy về mùa hè do nóng.

Giải thích: Theo Y học lục yếu: Đây là bài Bổ trung ích khí thang cải biến, và đúng như tên gọi của nó, bài thuốc này có tác dụng loại trừ khí thử và ích khí.

Thuốc "trị những người bị cảm thử mùa hè kéo dài, chân tay mỏi mệt, người nóng, bồn chồn, tiểu tiện ít, phân nhão, người hoặc khát hoặc không khát nhưng không muốn ǎn, đổ mồ hôi trộm".

Sách Đông y bảo giám viết: thuốc gồm: Thương truật 1,5 tiền, Hoàng kỳ và Thǎng ma mỗi thứ 1 tiền, Nhân sâm, Bạch truật, Trần bì, Thần khúc, Trạch tả mỗi 5 phân, Tửu hoàng bá, Đương quy, Thanh bì, Mạch môn đông, Can cát, Cam thảo mỗi thứ 3 phân, Ngũ vị tử 5 hạt, dùng cho những người bị trúng thấp và nhiệt, chân tay mỏi, tinh thần giảm, động tác chậm chạp, nước giải vàng người nóng, khát nước, ỉa chảy, không muốn ǎn và đổ mồ hôi trộm.



Bài 127: THANH THƯƠNG QUYÊN THỐNG THANG (SEI JO KEN TSU TO) (đau mắt)

Thành phần và phân lượng: Mạch môn đông 2,5-6g, Hoàng cầm 3-5g, Khương hoạt 2,5-3g, Độc hoạt 2,5-3g, Phòng phong 2,5-3g, Truật 2,5-3g, Đương quy 2,5-3g, Xuyên khung 2,5-3g, Bạch chỉ 2,5-3g, Màn kinh tử 1,5-2g, Tế tân 1g, Cam thảo 1g, Cảo mộc 1,5g, Cúc hoa 1,5-2g, Sinh khương 3g (Cảo mộc, Cúc hoa và Sinh khương không có cũng được).

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị đau vùng mặt, đau đầu.

Giải thích: Theo Thọ thế bảo nguyên (phần về đau đầu): Thuốc còn có tên khác là Khu phong xúc thống thang.

Các tài liệu tham khảo đều cho rằng: Đây là bài thuốc chủ yếu để trị tất cả các chứng đau đầu, đau đầu mạn tính, đau đầu các loại, đau dây thần kinh sinh ba trigeminal, còn gọi là dây thần kinh sọ số 5, đau do sưng vùng hàm trên.



Bài 128: THANH THƯỢNG PHÒNG PHONG THANG (SEI JO BO FU TO) (trứng cá)

Thành phần và phân lượng: Kinh giới 1-1,5g, Hoàng liên 1-1,5g, Bạc hà diệp 1-1,5g, Chỉ thực 1-1,5g, Cam thảo 1-1,5g, Sơn chi tử 1,5-3g, Xuyên khung 2-3g, Hoàng cầm 2-3g, Liên kiều 2-3g, Bạch chỉ 2-3g, Cát cánh 2-3g, Phòng phong 2-3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để chữa trứng cá.

Giải thích: Theo sách Vạn bệnh hồi xuân: Đây là bài thuốc dùng đề làm phát tán và giải độc nhiệt ứ ở vùng trên màng hoành cách, đặc biệt ở vùng mặt, thuốc được dùng trong trường hợp bài Kinh phòng bại độc tán thì quá nhẹ mà Phòng phong thông thánh tán thì quá mạnh.

Các vị Hoàng liên, Hoàng cầm, Sơn chi tử có tác dụng giải độc thân nhiệt cao kèm theo việc giảm tiểu tiện; Bạch chỉ, Cát cánh, Xuyên khung, Phòng phong, Kinh giới có tác dụng vào vùng nửa trên của cơ thể từ màng hoành cách trở lên và vùng mặt, có tác dụng khu phong, giải độc, bài độc; Liên kiều cùng Chỉ xác có tác dụng làm tiêu tán những chất độc hóa mủ.

Theo những mục tiêu trên, bài thuốc này được ứng dụng chữa trứng cá ở phần mặt do xung huyết ở nam nữ thanh niên, eczêma ở phần đầu, xung huyết mắt, mũi đỏ v.v...

Theo Chẩn liệu y điển: Dùng cho những người phát ban đỏ ở vùng mặt và cổ, hoặc nóng. Thuốc được ứng dụng trị trứng cá, eczêma ở phần đầu, xung huyết mắt, viêm kết mạc, bệnh vảy nến (psoriasis) ở vùng mặt, mũi đỏ v.v...

Theo Giải thích các bài thuốc: Thuốc dùng để trị các loại mụn có mủ ở phần đầu những người thể lực dồi dào, hoặc mụn lở, đinh và phát ban trên da. Ngoài ra, thuốc cũng còn được dùng để chữa viêm tai giữa, viêm lợi, viêm màng chân rǎng v.v...



Bài 129: THANH TÂM LIÊN TỬ ẨM (SEI SHIN REN SHI IN) (an thần)

Thành phần và phân lượng: Liên nhục 4g, Quan môn đông 4g, Phục linh 4g, Nhân sâm 3g, Sa tiền tử 3g, Hoàng cầm 3g, Hoàng kỳ 2g, Địa cốt bì 2g, Cam thảo 1,5-2g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị mất ngủ, an thần.

Bài 130: THANH PHẾ THANG (SEI HAI TO) (ho đờm)

Thành phần và phân lượng: Hoàng cầm 2g, Cát cánh 2g, Tang bạch bì 2g, Hạnh nhân 2g, Sơn chi tử 2g, Thiên môn đông 2g, Bối mẫu 2g, Trần bì 2g, Đại táo 2g, Trúc nhự 2g, Phục linh 3g, Đương quy 3g, Mạch môn đông 3g, Ngũ vị tử 0,5-2g, Sinh khương 0,5-2g (nếu là Can sinh khương thì dùng 1g), Cam thảo 1-1,5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để trị ho ra nhiều đờm.

Giải thích: Theo sách Vạn bệnh hồi xuân: Bài thuốc này nhằm vào những người ho dữ, ra nhiều đờm, đờm rất khó ra và ho cho đến khi đờm ra mới thôi.

Theo các tài liệu tham khảo: Thuốc dùng cho những người bị đờm nhiều, ho dữ liên tục, vả lại, đờm lại đặc rất khó ra. Nếu tình trạng trên kéo dài thì họng bị đau, khàn tiếng và ngứa cổ rất khó chịu. Đờm có khi màu vàng, có khi màu xanh, cũng có khi màu trắng, song đó là đờm đặc rất khó ra, ho liên tục cho tới khi ra được đờm mới thôi có khi ra đờm lẫn máu hoặc tức thở, cơ thể bị suy nhược. Trong sách Vật ngộ dược thất phương hàm, danh y Asada Sohaku viết: "Đây là bài thuốc chữa ho đờm, song là hư hỏa (ho do viêm đường hô hấp ở những người suy nhược và hư chứng). Nếu là đàm hỏa thuần thực (viêm ở những người thực chứng) và mạch hoạt sác thì cho dùng Qua quát chỉ thực thang. Thuốc này cũng có thể dùng cho những người phổi bị nhiệt, ho kéo dài. Do đó, thuốc này dùng cho những người dùng Tiểu thanh long thang gia thạch cao không có hiệu quả vẫn bị ho. Những người ho mãi không dứt, người ngày càng trở nên suy nhược thì phải uống ngay thuốc này".

Bài 131: CHIẾT TRUNG ẨM (SES SHO IN) (thống kinh)

Thành phần và phân lượng: Mẫu đơn bì 3g, Xuyên khung 3g, Thược dược 3g, Quế chi 3g, Đào nhân 4-5g, Đương quy 4-5g, Diên hồ sách 2-2,5g, Ngưu tất 2-2,5g, Hồng hoa 1-1,5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để chữa kinh nguyệt thất thường và đau khi có kinh.

Giải thích: Theo sách Sản luận: Đây là bài thuốc kết hợp hai bài Quế chi phục linh hoàn với Đương quy thược dược tán, bỏ Trạch tả, Phục linh, Bạch truật là những vị thuốc lợi thủy, mà thêm vào các vị Diên hồ sách, Ngưu tất, Hồng hoa. Thuốc này được dùng với mục đích trị các chứng kèm theo đau bụng ở phụ nữ do ứ huyết sinh ra, song đây cũng là bài thuốc làm cho khí huyết lưu thông, bổ máu, hồi phục sức khỏe của sản phụ sau khi đẻ.

Theo Chẩn liệu y điển: Dùng cho những người bệnh trạng đang trở thành cấp tính nguy hiểm hoặc mạn tính, vùng bụng dưới có vật chướng và đau dội, đôi khi có đau tự phát kèm theo chứng bạch đới. Phần nhiều thuốc được dùng cho những người bị viêm phần phụ kéo dài.

Theo Giải thích các bài thuốc: Thuốc dùng cho những người bị đau ở vùng bụng dưới do ứ máu và có đau ở bên trong xương hông. Thuốc cũng có thể dùng cho những người bị xuất huyết trong giai đoạn đầu mang thai, hoặc tuy không phải trong thời kỳ có thai, nhưng có đau vì các chứng do ứ huyết, kinh nguyệt thất thường.



Bài 132: XUYÊN KHUNG TRÀ ĐIỀU TÁN (SEN KYU CHA CHYO SAN) (cảm đau đầu)

Thành phần và phân lượng: Bạch chỉ 2g, Khương hoạt 2g, Kinh giới 2g, Phòng phong 2g, Bạc hà diệp 2g, Cam thảo 1,5g, Tế tân 1,5g, Xuyên khung 3g, Hương phụ tử 4g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị cảm cúm, các chứng về đường huyết đạo, đau đầu.

Giải thích: Theo sách Hòa tễ cục phương: Đây là bài thuốc ít được dùng trong số các bài thuốc cổ, nhưng thời sau người ta thường dùng cho những phụ nữ bị đau đầu thường xuyên.

Theo Thực tế chẩn liệu: Dùng trị đau đầu và đau dây thần kinh sinh ba (dây thần kinh sọ số V).



Bài 133: THIÊN KIM KÊ MINH TÁN (SEN KIN KEI MEI SAN) (sưng đau vết thương)

Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 2g, Đào nhân 5g, Đương quy 5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Bài thuốc có tên là Kê minh tán. Đem nghiền nhỏ các vị thuốc rồi cho sắc với 1 bát rượu, lấy 6/10 bát, bỏ bã, uống vào lúc gà gáy, sau một ngày thì sẽ khỏi hẳn hiện tượng ứ huyết (hoặc tụ huyết).

Công dụng: Dùng chữa sưng và đau vết thương.

Giải thích: Không rõ xuất xứ của bài thuốc này. Người ta nói bài thuốc này được ghi trong Tam nhân phương và Thiên kim phương, nhưng xem ra không có bài thuốc nào giống bài thuốc này. Bài thuốc này còn được gọi đơn giản là Kê minh tán, nhưng để phân biệt với bài thuốc cùng tên nhưng khác thành phần, nên bài thuốc này được gọi là Thiên kim kê minh tán. Thuốc dùng uống trong để trị đau dữ và sưng do bị thương và bong gân gây ra. Bài thuốc này nên sắc với rượu để uống.

Theo Ngoại đài yếu phương: Dùng cho những người bị ngã từ trên cao xuống bị sai khớp chảy máu, hoặc phụ nữ đang bị bǎng huyết. Hai vị bên nghiền thành bột uống với rượu ngày 3 lần.

Theo Trung Quốc đại từ điển: Tam nhân cực nhất bệnh chứng phương: trị các vết thương, tụ máu, tức thở muốn chết, người nóng, đau đầu. Nghiền tơi cho sắc với 1 bát rượu lấy 6/10 bát, bỏ bã, uống vào lúc gà gáy, uống sau một ngày thì tụ huyết tan. Nếu thấy tắc thở, không thể nói được nữa, nhưng kịp cho uống thuốc, phải cậy miệng đổ nước giải trẻ em còn nóng vào, sẽ khỏi ngay.

Theo Chẩn liệu y điển: Bài Kê minh tán (Thiên kim phương) này dùng rất hiệu nghiệm cho những người sau khi bị thương, vết thương sưng tấy lên và đau. Nên dùng ngay sau khi bị thương.



Bài 134: TIỀN THỊ BẠCH TRUẬT TÁN (ZEN SHI BYAKU JUTSU SAN) (kém tiêu hóa)

Thành phần và phân lượng: Truật 4g, Phục linh 4g, Cát cǎn 4g, Nhân sâm 3g, Mộc hương 1g, Hoắc hương 1g, Cam thảo 1g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng cho trẻ em kém tiêu hóa, bị thổ tả khi cảm mạo.

Những điều cần chú ý khi sử dụng: Cần chú ý về lượng dùng cho trẻ em khi dùng cho trẻ em kém tiêu hóa.

Giải thích: Theo sách Tiểu nhi trực quyết: Đây là bài Tứ quân tử thang có tác dụng bổ tỳ hư và làm tǎng thêm sức cho vị tràng được bổ sung thêm các vị Cát cǎn, Hoắc hương, Mộc hương, dùng cho những người tỳ hư và thể dịch bị tiêu hao. Bài Ngũ linh tán dùng cho những người bị ứ nước trong dạ dày cho nên khát và nôn mửa, còn bài thuốc này dùng cho những người bị khô dịch dẫn tới khát và nôn mửa.

Trong sách Vạn bệnh hồi xuân viết rằng thuốc này dùng cho những người bị thổ tả, hoặc bị bệnh mà dẫn đến khô tân dịch, khát, thuốc có tác dụng làm dạ dày hoạt động điều hòa và cầm ỉa chảy. Thuốc cũng trị cho những người có nguy cơ bị kinh phong mạn tính.

Theo các tài liệu tham khảo: Dùng cho những trẻ em vị tràng hư nhược tiêu hóa kém, hơi bị sốt, những người bị thổ tả do cảm mạo. Thuốc cũng được ứng dụng cho những người bị đái đường, ǎn uống cái gì cũng thấy nhạt nhẽo.



Bài 135: SƠ KINH HOẠT HUYẾT THANG (SO KEI KAK KET TO) (đau khớp, đau thần kinh)

Thành phần và phân lượng: Đương quy 2g, Địa hoàng 2g, Xuyên khung 2g, Truật 2g, Phục linh 2g, Đào nhân 2g, Thược dược 2,5g, Ngưu tất 1,5g, Uy linh tiên 1,5g, Phòng kỷ 1,5g, Khương hoạt 1,5g, Phòng phong 1,5g, Long đảm 1,5g, Sinh khương 1-1,5g, Trần bì 1,5g, Bạch chỉ 1-1,5g, Cam thảo 1g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng để trị các chứng đau khớp, đau thần kinh, đau lưng, đau cơ.

Giải thích: Theo sách Vạn bệnh hồi xuân: Đây là bài thuốc Tứ vật thang được phụ thêm các vị khác. Đương quy, Thược dược, Xuyên khung, Địa hoàng và Đào nhân trong bài Tứ vật thang gia Đào nhân có tác dụng làm tan ứ huyết ở vùng bụng dưới; Phục linh, Thương truật, Trần bì, Khương hoạt, Bạch chỉ cùng với Uy linh tiên, Phòng kỷ, Long đảm có tác dụng trừ phong và thấp ở vùng thắt lưng. Ngưu tất có tác dụng đặc biệt là trừ thấp và trị đau ở vùng thắt lưng và chân. Tức là, bài thuốc này dùng để trị đau ở chân, tay hoặc đau ở nửa trên của cơ thể ở những người thường ngày hay uống rượu và những người có ứ huyết.

Theo Chẩn liệu y điển: Bài thuốc này được ứng dụng trị các chứng thấp khớp cơ, thống phong, viêm khớp đầu gối do dịch tương, đau vùng thắt lưng, đau thần kinh hông, tê liệt chân, cước khí, phù thũng, bán thân bất toại, tǎng huyết áp, đau do máu đông trong mạch máu sau khi đẻ. Thuốc cũng rất có hiệu nghiệm đối với những người phụ nữ bị bệnh rám da kéo dài do thấp khớp gây ra.

Theo Thực tế trị liệu: Thuốc dùng để trị đau thần kinh và đau thần kinh hông ở những người thể lực bị suy nhược, đau đớn chuyển khắp người và cái đau đó đặc biệt dữ dội vào ban đêm vì uống rượcu quá mức hoặc sinh hoạt tình dục quá mức.

Theo Giải thích các bài thuốc: Thuốc dùng để trị chứng tê phù sau khi đẻ, chân bị tê liệt, đau khớp đầu gối phải, đau cơ toàn thân.

Theo Thực tế ứng dụng: Thuốc dùng để trị chứng đau dây thần kinh chân tay, thống phong và những di chứng sau khi tai biến mạch máu não.



Bài 136: TÔ TỬ GIÁNG KHÍ THANG (SO SHI KO KI TO) (viêm phế quản, khó thở)

Thành phần và phân lượng: Hạt tô tử 3g, Bán hạ 4g, Trấn bì 2.5g, Tiền hồ 2.5g, Quế chi 2.5g, Đương quy 2.5g, Hậu phác 2.5g, Đại táo 1-1.5g, Sinh khương 1-1.5g, Cam thảo 1g; (dùng Tử tô lá cũng được).

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng cho những người có chứng lạnh chân bị viêm phế quản mạn tính cho nên có chiều hướng ít nhiều bị khó thở.

Giải thích: Theo sách Hòa tễ cục phương: Đây là bài thuốc kết hợp bài Đương quy kiến trung thang dùng cho những người thể chất hư nhược, vùng trung tiêu dễ bị hư lại bị các chứng ứ huyết, bỏ Thược dược, với bài Bán hạ hậu phác thang thường dùng cho những người khí trệ, bỏ Phục linh. Bài thuốc này được dùng để trị ho cho những người gia do chứng lạnh và khí huyết thượng xung gây ra. Bài thuốc này còn dùng cho những người ngày thường thể chất hư nhược, khí lực kém, chân và vùng thắt lưng lạnh, mặt đỏ vì khí huyết thượng sung, ù tai, mũi đỏ, sung huyết mắt, nhiều đờm, ho và khó thở.

Bài thuốc này có hai bài thuốc tương tự: Tử tô thang (Thiên kim) gồm 8 vị là Tô tử, Hậu phác, Bán hạ, Sài hồ, Cam thảo, Đương quy, Quất bì, Quế chi và thêm Hạnh nhân và Tang bạch dùng để chữa chứng lạnh chân và xuyễn, và bài Tô tử thang (Ngoại đài) gồm có 8 vị là Tô tử, Can khương, Quất bì, Phục linh, Bán hạ, Quế chi, Nhân sâm, Cam thảo dùng để trị các chứng hư, khí thượng nghịch xuyễn.

Theo các tài liệu tham khảo: Bài thuốc này trị chứng lạnh chân và khó thở. Phần nhiều đó là những người thể chất hư nhược, người già cả, vùng hạ tiêu (vùng dưới rốn) yếu, tiểu tiện bất lợi, đờm nhiều, thở gấp, khí thượng xung, mạch huyền khẩn hồng đại yếu bụng nhìn chung bạc nhược, đầy tức ở vùng lõm thượng vị.

Trong sách Kinh nghiệm bút ký có viết: "Hai chứng lạnh chân và hen là đối tượng của bài thuốc này. Khi bị bệnh gì đó mà có hai triệu chứng lạnh chân và xuyễn thì phải dùng thuốc này sẽ có hiệu quả. Nếu không có chứng lạnh chân thì thuốc này không hiệu quả lắm. Những bệnh mà bài thuốc này có hiệu quả là: thứ nhất là xuyễn, thứ hai là ù tai, thứ ba là mũi đỏ, thứ tư là rǎng lung lay, thứ nǎm là thổ huyết, thứ sáu là loét khoang miệng, thứ bảy là phù nước ở những người bị xuyễn nặng, thứ tám là ho có đờm dạng xuyễn; những người bị các chứng trên nếu chân bị lạnh thì nhất định phải dùng bài thuốc này, 10 người khỏi 9".



Bài 137: ĐẠI HOÀNG CAM THẢO THANG (DAI O KAN ZO TO) (bí đại tiện)

Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 4g, Cam thảo 1-2g.

Cách dùng và lượng dùng:

1. Tán: Mỗi ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 0,75-1,5g (nên dùng Đại hoàng với Cam thảo theo tỉ lệ 2/1).

2. Thang: Lượng ghi trên là lượng dùng cho 1 ngày.

Công dụng: Trị bí đại tiện.

Giải thích: Theo sách Kim quỹ yếu lược: Bài thuốc này dùng trị nôn mửa và bí đại tiên. Trong sách cũng ghi rằng "Những người ǎn vào liền bị ói ngay thì phải dùng Đại hoàng cam thảo thang", bài thuốc này tuy được dùng chữa nôn mửa, song dùng với ý nghĩa bài này có tác dụng tả hạ, nó đẩy tất cả những cái gì cản trở trong ruột xuống phía dưới làm cho dạ dày thông thoát để ngǎn chặn nôn mửa, do đó, bài thuốc này không phải là dùng cho bất kỳ loại nôn mửa nào. Bài thuốc này nhìn chung là dùng cho những người bị bí đại tiện, nhất là những người bí đại tiện thường xuyên, bài thuốc cũng được dùng cho những người chỉ bị bí đại tiện chứ không bị bất kì chứng bệnh nào khác. Ngoài thuốc sắc, bài thuốc này cũng có thể được dùng ở dưới dạng hoàn tán, nếu là thuốc hoàn tán, bài thuốc được gọi là Đại cam hoàn.

Theo Tọa đàm nhập môn Đông y: Đây là bài thuốc chống nôn, song kỳ thực tác dụng của nó là hạ tễ, nói theo đông y thuốc này có tác dụng thông khí trong dạ dày. Thức ǎn vào chỗ dạ dày bị chèn chặt cho nên bị đẩy ngược trở ra. Bài thuốc này có tác dụng tháo đáy dạ dày, chuyển những thứ tháo ra qua miệng sang tháo ra qua đường hậu môn.

Theo Liệu pháp đông y thực dụng: Thuốc có thể dùng rộng rãi cho những người thường xuyên bí đại tiện, không cần phải lo nghĩ nhiều tới thể lực khỏe hay yếu. Thuốc cũng có thể dùng trong trường hợp chỉ bí đại tiện chứ không có chứng gì khác. Nếu trước khi đi ngủ, uống khoảng 20 hoàn Đại cam hoàn mà sáng hôm sau đi đại tiện tốt thì uống tiếp một thời gian mỗi ngày với số lượng đó, sau không uống nữa thì đai tiện vẫn tốt.



Bài 138: ĐẠI HOÀNG MẪU ĐƠN BÌ THANG (DAI O BO TAN PI TO) (kinh nguyệt)

Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 1-2g, Mẫu đơn bì 4g, Đào nhân 4g, Mang tiêu 4g, Đông qua tử 4-6g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng trị các chứng kinh nguyệt bất thường, kinh nguyệt khó khǎn, bí đại tiện và bệnh trĩ ở những người có thể lực tương đối khá, đau bụng dưới và hay bí đại tiện.

Giải thích: Theo sách Kim quỹ yếu lược: Bài thuốc này còn có tên gọi khác là Đại hoàng mẫu đơn thang.

Theo Chẩn liệu y điển: Đây là một bài thuốc loại trừ ứ huyết, có thể dùng cho những người thể lực khá tốt, có các chứng bệnh giống với bài Đào hạch thừa khí thang nhưng bệnh trạng ít cấp bách, những người có chứng bệnh giống như trong bài Quế chi phục linh hoàn, nhưng thực chứng hơn ở bài Quế chi phục linh hoàn mà lại bị bí đại tiện.

Nếu khám bụng thì phần bụng dưới có vật chướng, đau dội và bí đại tiện. Những hiện tượng này thường xuất hiện ở bụng dưới phía tay phải, nhưng cũng không nhất thiết như vậy. Bài thuốc này được dùng để chữa viêm ruột thừa, nhưng trong trường hợp đau chỉ tập trung ở phần manh tràng, người bị sốt, miệng khát, bí đại tiện, mạch trì khẩn. Nếu mạch hồng sác thì đó là triệu chứng báo hiệu đang bị lên mủ, bài thuốc này không có tác dụng.

Bài thuốc này phần nhiều được dùng để trị các chứng viêm ở nửa thân bên dưới, và ngoài trị viêm ruột thừa, bài thuốc này còn được dùng để chữa viêm vùng quanh hậu môn, viêm ruột kết, viêm trực tràng, lị, trĩ, viêm tử cung và phần phụ, viêm tuyến sữa, sốt và các bệnh sau đẻ, viêm phúc mạc vùng xương chậu, sưng bạch hạch (bubo), lậu, viêm tiền liệt tuyến, viêm mào tinh hoàn do lậu, viêm bể thận, sỏi niệu đạo, viêm bàng quang v.v...

Nếu uống thuốc này mà lại đau thêm, bọc nước và cục cứng tǎng thêm và bụng càng đầy trướng hơn thì phải tính tới bài thuốc khác. Có thể phải chuyển sang dùng bài ý dĩ phụ tử bại tương tán, Tràng ung thang.



Bài 139: ĐẠI KIẾN TRUNG THANG (DAI KEN CHU TO) (lạnh đau bụng)

Thành phần và phân lượng: Sơn tiêu (hạt sen) 1-2g, Can khương 3-5g, Nhân sâm 2-3g, Mạch nha 20g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Cho Sơn tiêu, Can khương và Nhân sâm vào sắc trước, sau đó bỏ bã rồi cho Mạch nha vào sắc lại cho tan đều, hạ lửa, thuốc uống khi còn nóng.

Sau khi uống thuốc khoảng 30 phút, nên húp khoảng 50g cháo nóng. Trong khi dùng thuốc này thì nên ǎn các thức ǎn mềm và nóng, và nên coi đây là phép dưỡng sinh trong trường hợp bị bệnh nặng.

Công dụng: Theo Chẩn liệu y điển: Dùng cho những người lạnh bên trong, ruột nhu động gây ra tình trạng không ổ định khiến cho bụng đau. Khám bụng thì thấy vùng bụng mềm nhũn, yếu, dễ bị ứ nước và hơi, nhìn từ ngoàivào cũng có thể thấy sự nhu động của ruột. Khi nhu động tǎng lên thì bụng đau và đôi khi bị cả nôn mửa. Trong bụng lạnh, mạch chậm và yếu, chân tay dễ bị lạnh. Nhưng khi hơi trong bụng rất đầy thì vùng bụng nhìn chung cǎng lên có khi không nhìn thấy sự nhu động của ruột nữa.

Sách Phương cực phụ ngôn nói: "Thuốc dùng để trị cho những người trong bụng rất đau, nôn mửa và không ǎn uống được, da bụng cǎng ruột nhu động như giun bò". Sách Y thánh phương cách viết: "Những người trong bụng rất lạnh, đầy bụng, bụng thỉnh thoảng bị đau và nôn mửa, không ǎn uống được, da bụng rất cǎng nổi hằn , sự nhu động của ruột như những con giun bò thì phải dùng Đại kiến trung thang".



Bài 140: ĐẠI SÀI HỒ THANG (DAI SAI KO TO) (bí đại tiện, phát phì)

Thành phần và phân lượng: Sài hồ 6g, Bán hạ 3-4g, Sinh khương 4-5g, Hoàng cầm 3g, Thược dược 3g, Đại táo 3g, Chỉ thức 2g, Đại hoàng 1-2g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Trong sách Thương hàn luận thì không có Đại hoàng, còn trong sách Kim quỹ yếu lược thì lại có Đại hoàng. Cần phải gia giảm Đại hoàng tùy theo tình trạng đại tiện như thế nào. Cho các vị thuốc vào sắc với 700cc nước, lấy 400 cc, bỏ bã, sau đó cho nước thuốc lên cô tiếp lấy 300 cc, chia uống ngày 3 lần.

Trong trường hợp bệnh nhẹ thì Sài hồ và Bán hạ mỗi thứ 6g cũng có hiệu quả. Trong mục đầy và đau vùng lõm thượng vị sách Kim quỹ yếu lược có ghi Đại hoàng là 2g. Có lẽ cũng không nên tranh luận nên hay không nên cho Đại hoàng vào bài thuốc này, cũng không phải dứt khoát là phải có Đại hoàng, mà cũng có trường hợp cần cho Đại hoàng, cũng có trường hợp không cần cho Đại hoàng.

Công dụng: Thuốc dùng trị các chứng viêm dạ dày, bí đại tiện thường xuyên, mới tê vai (chứng toàn thân của bệnh cao huyết áp), đau đầu, táo bón, mỏi tê vai, phát phì ở những người to béo, thể lực tương đối khá và có chiều hướng bí đại tiện.

Giải thích: Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược: Bài thuốc có Sài hồ là thuốc dùng cho những người bị đầy tức ở vùng sườn ngực, song trong số các bài có Sài hồ, bài thuốc này được dùng cho những người bị thực chứng và có thể lực khá. Do đó, những người dùng Đại sài hồ thang thường là những người bệnh trạng nặng. Cả mình và người ngoài đều nhận biết được hiện tượng đầy trướng vùng sườn rất đau đớn khó chịu. Đối với những người bị sốt, buồn nôn và nôn mửa nặng, trên lưỡi đã xuất hiện rêu vàng, không muốn ǎn uống và có chiều hướng bí đại tiện, hoặc những người tuy không sốt và bí đại tiện, nhưng những chứng bệnh nói trên nặng thì khi dùng bài thuốc này nên bỏ Đại hoàng.

Sách Phương cực loại tụ viết: "Đối tượng của bài thuốc này là chứng đầy tức ở vùng bụng trên, người cảm thấy nặng nề, u uất, không muốn ǎn uống, thuốc rất có hiệu quả đối với người bị tâm thần dạng u uất. Thuốc này cũng rất tốt đối với những người bị chứng tê cứng từ nách trái kéo xuống vùng bụng trên, hoặc gân mạch vùng nách trái bị co thắt, sờ tay vào rất đau, bí đại tiện, vui buồn thất thường. Hoặc, bài thuốc này rất có tác dụng đối với chứng rụng tóc do can hỏa. Và cũng có thể kể thêm chứng sốt, đầy trướng bụng trên, nôn mửa trong giai đoạn đầu của bệnh ỉa chảy cũng là đối tượng của bài thuốc này. Bài thuốc này thêm Nhân trần dùng để trị chứng hoàng đảm bụng trên đầy tức".

Theo các tài liệu tham khảo và Giải thích các bài thuốc: Thuốc dùng cho những trường hợp thực chứng, bệnh trạng nặng, về thể chất phần lớn là những người béo khỏe, gân cốt chắc chắn, cường tráng và cǎng. Thông thường đó là những người có mạch trầm, thực, nhưng chậm, phần bụng thì góc bụng trên rộng, da bụng trên dày, chắc và cǎng, tới mức lấy tay ấn vào bụng chỗ bên dưới rẻ xương sườn cuối cùng cũng không lõm xuống. Do đó, ở vùng ngực có cảm giác cǎng, đầy tức, đau đớn, có chiều hướng bí đại tiện, khí bị chèn chặt ở bên trong không muốn thoát ra ngoài. Chính vì thế mà bị bí đại tiện, hoặc ỉa chảy, nôn mửa, xuyễn, về mặt tinh thần thì lại hướng ra ngoài, hay quát tháo, to tiếng, dễ cáu gắt. Vùng ngực cǎng cho nên nếu thắt lưng thì thấy rất khó chịu, tức tối.

Sách Vật ngộ phương hàm khẩu quyết viết: "Ngoài việc rất hay dùng cho các chứng thiếu dương, đối tượng của bài thuốc này còn là trị chứng đầy tức ở vùng bụng trên, bài thuốc cũng rất có hiệu nghiệm với trường hợp mà người ta vẫn gọi là tâm trạng u uất trong các dạng bệnh tâm thần. Đối với những người bị bệnh này ở dạng nặng nhất, S. Emi cho thêm Hương phụ tử và Cam thảo, còn Takashina thì bỏ Đại táo, Đại hoàng, thêm Linh dương giác, Điếu đằng, Cam thảo. Dẫu sao thì đấy cũng là loại chủ dược đối với chứng động kinh. Đối với những người bán thân bất toại, cấm khẩu thì trước kia người ta coi là hiện tượng giống như bị trúng phong, nhưng do can tích kinh mạch tắc nghẽn đường khí huyết hắc khiến cho khí huyết không lưu thông, cuối cùng dẫn tới bất toại, bài thuốc này có công hiệu đối với những người thuộc can thực. Bài thuốc này cũng còn trị chứng tê cứng vùng từ nách trái xuống đến vùng bụng trên, hoặc cơ và mạch ở nách trái bị co thắt, dùng tay ấn vào đó thấy đau, bí đại tiện, vui buồn thất thường v.v..."



Bài 141: ĐẠI BÁN HẠ THANG (TAI HAN GE TO) (nôn mửa)

Thành phần và phân lượng: Bán hạ 4-7g, Nhân sâm 3g, Mật ong 20g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị nôn mửa.

Giải thích: Theo sách Kim quỹ yếu lược: Do rối loạn chức nǎng đưa thức ǎn của dạ dày, thức ǎn đã đi vào dạ dày lại tháo ngược trở ra, người ta gọi đó là phản vị. Trong số các dạng nôn mửa, bài thuốc này rất có tác dụng đối với hiện tượng phản vị này nhờ tác dụng "sinh diêu dưỡng dục". Mục đích của bài thuốc là trị nôn mửa khiến cho vùng thượng vị bị đầy cứng. Đây là bài thuốc có tần số sử dụng khá ít.

Tham khảo: Sách Kim quỹ yếu lược viết: "Những người nôn mửa do phản vị thì phải dùng Đại bán hạ thang'. Còn sách Ngoại đài bí yếu viết: "Thuốc này dùng cho những người bị nôn mửa khiến cho vùng bụng trên bị đầy cứng".



Bài 142: TRÚC NHỰ ÔN ĐẢM THANG (CHIKU JO UN TAN TO) (cảm)

Thành phần và phân lượng: Sài hồ 3-5g, Trúc nhự 3g, Phục linh 3g, Mạch môn đông 3-4g, Sinh khương 3g, Bán hạ 3-5g, Hương phụ tử 2g, Cát cánh 2-3g, Trần bì 2-3g, Chỉ thực 1-2g, Hoàng liên 1-2g, Cam thảo 1g, Nhân sâm 1-2g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng cho những người sau khi bị cảm cúm, viêm phổi vẫn còn sốt dai dẳng, hoặc thân nhiệt đã trở lại bình thường nhưng người vẫn cảm thấy bức bối khó chịu, vẫn ho, ra nhiều đờm, ngủ không ngon giấc.

Giải thích: Theo sách Vạn bệnh hồi xuân: Người ta cho rằng bài thuốc này xuất phát từ Tiểu bán hạ gia Phục linh thang trong sách Kim quỹ yếu lược, được cải biến qua các bài Nhị trần thang trong sách Hòatễ cục phương và bài Ôn đảm thang trong sách Tam nhân phương.

Đây là các bài thuốc trong Kim quỹ yếu lược, Hòa tễ cục phương, Tam nhân phương, Vạn bệnh hồi xuân.

Do tôn trọng Bán hạ và Trần bì trong Nhị trần thang loại cũ, cho nên bài thuốc có tên như vậy, do đó, Bán hạ và Trần bì cùng dùng trong những bài thuốc liên quan này cần phải hiểu là loại cũ chứ không phải loại mới.

Vốn dĩ, bài thuốc này được dùng cho những người do bị ứ nước trong dạ dày mà sinh ra nôn mửa và buồn nôn. Trúc nhự có tác dụng làm tiêu nhiệt trong dạ dày và tác dụng làm trấn tĩnh tinh thần, Chỉ thực có tác dụng loại trừ hiện tượng đầy tức ở vùng lõm thượng vị và làm dịu tâm trạng lo lắng. Hoàng liên, Toan táo nhân và Nhân sâm càng làm dịu hơn nữa sự hưng phấn và cǎng thẳng thần kinh. Ngoài ra, Trúc nhự, Cát cánh và một số vị khác còn có tác dụng tiêu đờm.

Các tài liệu tham khảo đều cho thấy công dụng của Trúc nhự ôn đảm thang như trên.



Bài 143: TRỊ ĐẢ PHỌC NHẤT PHƯƠNG (JI DA BOKU IP PO) (trị sưng tấy và đau do vết thương)

Thành phần và phân lượng: Xuyên khung 3g, Phác tốc 3g, Xuyên cốt 3g, Quế chi 3g, Cam thảo 1,5g, Đinh hương 1-1,5g, Đại hoàng 1-1,5g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị sưng tấy và đau do vết thương.

Giải thích: Theo Kagawa. Dùng khi gân cốt đau đớn do vết thương.



Bài 144: TRỊ ĐẦU SANG NHẤT PHƯƠNG (JI ZU SO IP PO) (trị eczêma)

Thành phần và phân lượng: Liên kiều 3g, Thương truật 3g, Xuyên khung 3g, Phòng phong 2g, Nhẫn đông 2g, Kinh giới 1g, Cam thảo 1g, Hồng hoa 1g, Đại hoàng 0,5g, (Đại hoàng không có cũng được).

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng trị eczêma, mụn lở và eczêma ở trẻ sơ sinh (chú ý lượng dùng của trẻ em).

Giải thích: Đây là bài thuốc theo kinh nghiệm của Nhật Bản, bài thuốc còn được gọi là Đại khung hoàng thang. Bài thuốc gia truyền của nhà Fukui bỏ các vị Hồng hoa, Thương truật và thêm Hoàng cầm.

Chủ trị của bài thuốc là lở đầu ở trẻ em do thai độc, song bài thuốc được ứng dụng chữa eczêma ở phần mặt và hàm ở những người nhìn chung là thực chứng và bí đại tiện. Đối với những người không bí đại tiện bỏ Đại hoàng. Bài thuốc không chỉ dùng cho trẻ sơ sinh mà còn được ứng dụng cho cả thiếu niên và người lớn. Phân lượng là lấy lượng dùng của người lớn làm tiêu chuẩn, cho nên khi dùng cho trẻ sơ sinh thì cần chú ý giảm lượng sử dụng. Bài này chủ yếu có tác dụng giải độc, còn bài thuốc tương tự là Thanh thượng phòng phong thang có nhiều hàm tễ tính hàm mà dược tính là khổ hàn cho nên chúng chủ yếu có tác dụng thanh nhiệt, vì thế công dụng hai thuốc này khác nhau.

Theo Thực tế chẩn liệu: Thuốc có tác dụng trung hòa và giải độc, trị lở đầu của trẻ em có chảy nhựa, ngứa, có sẹo, thuốc cũng còn được dùng cho cả thiếu niên và người lớn. Phần nhiều đó là những người thực chứng và thích hợp với các loại hạ tễ. Đối với những người đại tiện thông thì bỏ Đại hoàng. Thuốc cũng dùng trị eczêma ở phần đầu của trẻ em, dùng để hạ thai độc và các loại eczêma. Bài thuốc cũng được ứng dụng rộng rãi để trị các mẩn đỏ, mụn nhọt, bọc nước, lở loét, và kết vảy ở phần mặt, hàm, hõm nách, hạ bộ.

Theo các tài liệu tham khảo khác: Đây là bài thuốc hàng đầu trị lở đầu, có tác dụng trị eczêma ở phần đầu và hạ thai độc ở trẻ em. Đây là bài thuốc chủ trị lở đầu của trẻ em do thai độc gây ra, song nó cũng rất có hiệu nghiệm trị các loại mụn lở ở phần mặt và nửa thân trên. Bài Thanh thượng phòng phong thang có tác dụng chủ yếu thanh nhiệt, trong khi đó bài thuốc này mạnh về giải độc. Thuốc này cũng rất hiệu nghiệm đối với những người thuộc dạng thực chứng mà lại hợp với các loại hạ tễ. Nếu dùng liên tục từ 1-2 tháng thì bệnh khỏi hẳn.



Bài 145: TRUNG HOÀNG CAO (CHU O KO) (mụn có mủ dạng cấp tính)

Thành phần và phân lượng: Dầu vừng 1000ml, Hoàng lạp 380; Vũ kim 40g, Hoàng bá 20g;

Đun sôi kỹ Dầu vừng cho bay hết hơi nước, sau đó cho Hoàng lạp vào đun cho chảy ra rồi dùng vải để lọc, khi tương đối nguội thì cho bột Vũ kim và bột Hoàng bá vào trộn cho đều, quấy cho thuốc đóng chặt lại.

Cách dùng và lượng dùng: Dùng bôi, đắp ngoài.

Sách Thuốc gia truyền nhà Hanaoka Seishu hướng dẫn là cho 3 vị Vũ kim, Hoàng bá, Hoàng liên vào sắc với nước, bỏ bã rồi cho thêm Dầu vừng, Hoàng lạp đun cho đến khi kiệt hết hơi nước, sau đó dùng vải sạch để lọc. Sách Phương hàm của Asada Sohaku hướng dẫn cho Dầu vừng và Hoàng lạp vào đun cho kiệt hết hơi nước, dùng vải lụa lọc, khi thuốc tương đối nguội thì cho bột Vũ kim và Hoàng bá vào quấy đều (không có Hoàng liên).

Công dụng: Dùng trong giai đoạn đầu bị mụn có mủ dạng cấp tính, khi bị thương và bong gân.

Giải thích: Thuốc gia truyền của Hanaoka Seishu. Đây là bài thuốc gia truyền của danh y Hanaoka Seishu, xuât xứ của bài thuốc này có Hoàng liên, nhưng trong sách Phương hàm của danh y Asada Sohaku lại bỏ Hoàng liên, và nhìn chung người ta dùng đây làm tiêu chuẩn. Bài thuốc này giống như Hoàng liên giải độc thang dưới dạng cao nhuyễn, dùng để trị bệnh da mang tính nhiệt, mụn có mủ, bị thương, bong gân, thuốc có tác dụng loại nhiệt, rút mủ, làm dịu đau, cầm máu, làm tiêu tán ứ huyết. Dùng bǎng hoặc giấy mềm phết thuốc lên để đắp. Về mùa đông hoặc lạnh thì bớt lượng Hoàng lạp, hoặc gia nhiệt làm cho thuốc mềm ra để dùng.

Theo sách Vật ngộ phương hàm của Asada Sohaku viết thuốc này có tác dụng tiêu độc và loại nhiệt ở các dạng mụn và vết thương bất kể có mủ hay không có mủ, mới bị hay bị đã lâu. Thuốc này trị các chứng độc huyết, độc trĩ, ghẻ độc, ghẻ và các chứng nhiệt thống.

Theo Thực tế chẩn liệu: Dùng trong giai đoạn đầu viêm vú sau khi đẻ, giai đoạn mụn sưng tấy đau đớn, thuốc có tác dụng rút độc, rút mủ.

Theo Các bài thuốc đơn giản:

(a) Thuốc dùng để trị mụn có mủ trong thời kỳ mụn còn tấy đỏ, đau nhưng chưa vỡ.

(b) Thuốc còn được dùng khi bị sốt và đau do các vết thương, bị động vật cắn, có mụn trong lỗ mũi, bị cước.



Bài 146: ĐIỀU VỊ THỪA KHÍ THANG (CHYO I JO KI TO) (nhiệt thực dồn vào tim)

Thành phần và phân lượng: Đại hoàng 2-2,5g, Mang tiêu 1g, Cam thảo 1g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Cho Đại hoàng và Cam thảo sắc rồi bỏ bã, cho Mang tiêu vào đun tiếp để sôi một lúc cho tan hết rồi uống. Nhìn chung, phần nhiều người ta cho cả 3 vị vào sắc đồng thời, nhưng đúng ra phải làm như hướng dẫn trên.

Công dụng: Theo Thực tế chẩn liệu: Thừa khí có nghĩa là thuận khí, tức là làm cho khí lưu thông tốt. Đại tiểu thừa khí thang cũng như Điều vị thừa khí thang này có tác dụng làm khí lưu thông và thông đại tiện, song so 3 bài, thì Điều vị thừa khí thang là có tác dụng nhẹ nhàng nhất. Điều vị thừa khí thang dùng để trị bí đại tiện sau khi ốm dậy, bí đại tiện ở người già, miệng và lưỡi khô, bụng hơi cǎng. Thuốc này cũng thường được dùng khi bị bí đại tiện vì bệnh nhiệt. Nhưng với điều kiện là mạch trầm, thực, bụng có sức đàn hồi.

Nangai viết: "Thuốc trị nội bệnh, nhiệt thực dồn vào tim. Triệu chứng của người bệnh là mê sảng, sốt hừng hực, đây là chứng thực nhiệt. Do đó dẫn tới tâm phiền, u uất khó chịu, nó tiến công vào tim. Những người bị nặng thì phân lỏng, ỉa chảy, bụng hơi đầy, hoặc bụng đầy, và do khí huyết bức bách tim dẫn tới chỗ nó không làm được chức nǎng tiêu hóa nước trong bụng".

Sách Phương hàm viết: "Thuốc dùng trị cho những người có chứng của Đại hoàng cam thảo thang dưới dạng thực chứng còn trong Loại tụ phương thì viết rằng: "xem ra, bài thuốc này chủ trị cho những người bị bệnh cấp bách, đại tiện không thông"



Bài 147: ĐINH HƯƠNG THỊ ĐẾ THANG (CHYO KO SHI TEI TO) (chứng hắt hơi, vị tràng hư nhược)

Thành phần và phân lượng: Thị đế (Tai hồng) 3g, Quế chi 3g, Bán hạ 3g, Trần bì 3g, Đinh tử 1g, Lương khương 1g, Mộc hương 1g, Trầm hương 1g, Hồi hương 1g, Hoắc hương 1g, Hậu phác 1g, Súc sa 1g, Cam thảo 1g, Nhũ hương 1g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Trị các chứng hắt hơi, vị tràng hư nhược ở những người mới ốm dậy hoặc những người có thể chất hư nhược.

Giải thích: Theo Thọ thế bảo nguyên:

(1) Bài thuốc này được dùng cho những người hư nhược có thể chất yếu hơn ở bài Thị đế thang.

(2) Trị hắt hơi liên tục ở những người thông thường vị tràng hư nhược, dễ ỉa chảy, nhìn chung thể chất yếu, bụng mềm, mạch khá yếu.

Tham khảo: Sách Vạn bệnh hồi xuân viết: "Thuốc này chủ trị vị khẩu hư hàn, chân tay lạnh, mạch trầm tế. Nếu gặp lạnh bị hắt hơi thì dùng bài thuốc này".



Bài 148: ĐIẾU ĐẰNG TÁN (CHYO TO SAN) (đau đầu liên tục, cao huyết áp)

Thành phần và phân lượng: Điếu đằng câu 3g, Quất bì 3g, Bán hạ 3g, Mạch môn đông 3g, Phục linh 3g, Nhân sâm 2g, Phòng phong 2g, Cúc hoa 2g, Cam thảo 1g, Thạch cao 5-7g, (Trần bì cũng được).

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Dùng cho những người từ trung niên trở lên bị đau đầu liên tục dạng mạn tính, hoặc những người có chiều hướng bị cao huyết áp.

Giải thích: Theo Bản sư phương: Bài này dùng cho những người bị hư chứng, khí thượng xung mạnh, dùng vào các chứng trạng nặng khí phận xung, đau đầu, những người ngủ dậy là bị đau đầu. Thuốc được ứng dụng cho những người bị các chứng thần kinh như mỏi tê vai do khí thượng xung, ù tai, chóng mặt, đau đầu, xung huyết kết mạc nhãn cầu, v.v...

Sách Phương hàm loại tụ cũng viết: "Thuốc này dùng cho những người bị động kinh khí nghịch nặng, chóng mặt, vai lưng cứng đờ, mắt đỏ, tâm trạng ủ rũ lầm lì".

Theo Chẩn liệu y điển: Thuốc dùng cho những người từ trung niên trở ra bị bệnh thần kinh, hơi bị hư trạng, đau đầu, chóng mặt, mỏi tê vai, lưng và vai co thắt. Đối tượng của bài thuốc là những người thần kinh dễ bị kích động mà người trước gọi là giản chứng, khí thượng xung mạnh và bệnh phát liên tục, đầu đau vào lúc sáng sớm hoặc suốt cả buổi sáng.

Theo Thực tế ứng dụng: Thuốc có hiệu nghiệm đối với người già bị đau đầu dai dẳng kèm theo chóng mặt. Sách Ngô trúc lâu khẩu quyết viết rằng: "Thuốc này trị chứng đau đầu, chóng mặt do can quyết, những người bị chứng này phần nhiều do khu vực từ thái dương trái đến đuôi mắt bị đau". Còn theo Sùng lan quán thí nghiệm phương khẩu quyết, "do thượng xung (chứng khí huyết dồn lên phía trên), những người bị đau đầu và chóng mặt do can quyết là những người dễ cáu gắt. Do đó nó cũng giống như triệu chứng của ức can tán, nên dùng bài thuốc này cho những người đau đầu, chóng mặt".


Bài 149: TRƯ LINH THANG (CHYO REI TO) (thuốc làm tǎng lượng nước tiểu)

Thành phần và phân lượng: Trư linh 3g, Phục linh 3g, Hoạt thạch 3g, Trạch tả 3g, A giao 3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Cách dùng theo Tập phân lượng các vị thuốc: Cho các vị Trư linh, Phục linh, Hoạt thạch và Trạch tả vào sắc, bỏ bã, A giao vào sắc tiếp cho tan hết rồi hạ lửa. Uống khi còn nóng.

Cách dùng theo Giải thích các bài thuốc: Cho 4 vị đầu vào sắc với 600 cc nước lấy 300cc, bỏ bã, cho A giao vào sắc tiếp cho tan đều. Chia uống làm 3 lần khi thuốc còn nóng. Nhìn chung, người ta cho tất cả các vị mỗi vị 4-5g sắc như bình thường.

Công dụng: Theo các tài liệu tham khảo như Thực tế chẩn liệu, Chẩn liệu y điển, Thực tế ứng dụng v.v...: Thuốc dùng cho những người mạch phù, lượng tiểu tiện giảm, đái khó, hoặc đái rắt, khi đái đường niệu đạo đau hoặc sau khi đái vẫn còn lại cảm giác đau tức ngực và khó chịu, miệng khát. Thuốc ứng dụng chữa viêm niệu đạo, viêm bàng quang, sỏi đường tiết niệu, viêm thận, thận hư, viêm bể thận, lao thận, lượng tiểu tiện giảm. Thuốc làm tǎng lượng nước tiểu, chặn đứng đái khó, đái máu, đái đau. Thuốc còn trị chứng phù thũng từ thắt lưng trở xuống.


Bài 150: TRƯ LINH THANG HỢP TỨ VẬT THANG (CHYO REI TO GO SHI MOTSU TO) (đái khó, đái đau)

Thành phần và phân lượng: Đương quy 3-4g, Thược dược 3-4g, Xuyên khung 3-4g, Địa hoàng 3-4g, Trư linh 3g, Phục linh 3g, Hoạt thạch 3g, Trạch tả 3g, A giao 3g.

Cách dùng và lượng dùng: Thang.

Công dụng: Thuốc trị các chứng đái khó, đái đau, cảm giác đái còn sót và đái vặt ở những người có thể chất da khô, xỉn và vị tràng yếu.

Giải thích: Đúng như tên gọi, bài thuốc này là sự kết hợp giữa Trư linh thang với Tứ vật thang. Nó dùng cho những người bị các chứng giống trong Trư linh tán nhưng bệnh trạng xấu hơn.

Theo Thực tế chẩn liệu: Chữa những người bị lao thận sinh ra trở ngại ở bàng quang khiến đi đái rắt, đái buốt. Thuốc cũng rất hiệu nghiệm đối với những người sau khi mổ thận, những trở ngại ở bàng quang vẫn còn.

Theo Chẩn liệu y điển: Thuốc dùng cho những người bị lao thận và bàng quang cho nên người rất suy nhược, nhưng vị tràng không có vấn đề gì.

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com