Logo
Loading...

Béo phì

BỆNH BÉO PHÌ

Định nghĩa

Béo phì là tình trạng dư thừa khối mỡ, là một hội chứng đặc trưng bởi sự tăng tuyệt đối của khối mỡ, hay nói cách khác là một sự lạm phát của dự trữ năng lượng, chủ yếu là triglycerid dưới dạng mô mỡ.

bệnh béo phì ở trẻ

Bệnh béo phì ở trẻ

Béo phì là một tình trạng bệnh lý đa yếu tố.

Có sự liên quan chặt chẽ giữa béo phì và tình trạng dinh dưỡng quá mức mà không hợp lý. Các công trình nghiên cứu ngày càng chứng minh rằng béo phì là một yếu tố làm tăng tỷ lệ bệnh tật, tăng tỷ lệ tử vong, giảm năng suất lao động.

Đặc điểm dịch tễ học

Béo phì là một bệnh về dinh dưỡng thường gặp và có nhiều hướng gia tăng ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhất ở các nước công nghiệp phát triển có tới ≥ 20% dân số bị béo phì.

Tần suất thay đổi theo:

Tuổi: 2% lúc 6 - 7 tuổi; 7% lúc tuổi dậy thì và cao nhất xuất hiện ở lứa tuổi 50. Tuy nhiên ngày nay người ta ghi nhận tỷ lệ ngày càng tăng ở cộng đồng trẻ em.

Giới: thường gặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới, tần suất 25% ở giới nữ và 18% ở giới nam.

Địa dư: có những vùng béo phì gặp nhiều hơn vùng khác, ngay trong một nước cũng vậy, như ở Pháp tỷ lệ ở miền Đông nước Pháp là 33% còn ở miền Tây chỉ có 17% và ở Paris là thấp nhất.

Điều kiện kinh tế xã hội: béo phì có liên quan đến chế độ dinh dưỡng, phong cách sống.

Đánh giá béo phì

Khi cơ thể mập, cân nặng tăng lên tức khối mỡ cũng tăng lên. Đánh giá béo phì chủ yếu là đánh giá sự gia tăng của khối mỡ.

Cân nặng lý tưởng: là cân nặng phù hợp với lứa tuổi, giới, so với chiều cao. Cân nặng lý tưởng thay đổi tuỳ theo chủng tộc, địa lý và là một hằng số sinh lý chỉ phù hợp trong những điều kiện nhất định.

Các phương pháp đánh giá cân nặng:

Các phương pháp nhân trắc học: Đo nếp da vùng cơ tam đầu bằng dụng cụ đặc biệt: nếu kết quả > 20mm ở nam và > 25mm ở nữ là có béo phì. Đo chu vi vòng eo (ngang qua rốn) chia cho chu vi vòng đùi (ngang háng chỗ đùi to nhất) tính tỷ lệ để ước lượng sự phân bố mỡ trong cơ thể. Tỷ lệ ≥ 1 đối với nam và ≥ 0,8 đối với nữ là có béo phì.

Công thức Lorentz được xác lập qua những công trình nhân trắc học, các thống kê nhiều năm của các hãng bảo hiểm y tế

Cân lý tưởng = chiều cao (cm) – 100 – (chiều cao (cm) – 150)/N

(N = 4 ở nam và = 2,5 ở nữ)

Chỉ số khối cơ thể (hay còn gọi là chỉ số Quetelet):

Body Mass Index (BMI): được tính bằng cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m).

BMI bình thường ở nam là 23 - 25 (trung bình 25); nữ là 18,7 - 23,8 trung bình là 21 theo WHO.

BMI > 27 là béo phì, và BMI > 30 là béo phì bệnh lý. ở Việt Nam theo Viện Dinh dưỡng Hà Nội:

 BMI = 19,72 ± 2,81 cho nam và = 19,75 ± 3,41 cho nữ

Xem thêm cách tính chỉ số BMI

Quan niệm của Đông Y về béo phì

Theo Đông Y hình thể con người phân thành 3 loại là: phì, cao và nhục (nhân hữu phì, hữu cao, hữu nhục). Giải thích 3 loại thể tạng người nêu trên như sau:

Quắc nhục kiên, bì mạn giả, phì.

Quắc nhục bất kiên, bì hoãn giả, cao.

Bì nhục bất tương ly giả, nhục.

Bệnh béo phì theo Đông Y không liên quan đến thể trạng phì, cao, nhục nêu trên, mà nói đến tình trạng mập vượt quá mức bình thường thường do nguyên nhân ăn uống không cân đối (không quân bình) hoặc sau khi mắc các bệnh nội thương sinh ra.

NGUYÊN NHÂN, BỆNH SINH

Nguyên nhân

Đa số béo phì là tiên phát và có liên quan đến di truyền, năm 1995 đã tìm được gen gây béo phì (Mỹ).

Di truyền

Khoảng 69% người béo phì có cha hoặc mẹ béo phì; 18% cả cha và mẹ đều béo phì; chỉ có 7% là béo phì mà cha mẹ có cân nặng bình thường.

Phân định giữa vai trò của di truyền và vai trò của dinh dưỡng thật sự còn chưa rõ.

Nội tiết

Tổn thương vùng hạ đồi gây ăn nhiều: vùng hạ đồi có vai trò điều hòa ăn uống, vai trò của “nút leptine - neuropeptide Y” (NPY)

NPY là một neuropeptid từ vùng hạ đồi, là chất kích thích ăn mạnh nhất.

Sự tiết chất này được điều hòa một phần bởi leptin ức chế sự tiết NPY.

Leptin là một hormon do mô mỡ tiết ra, thông tin cho vùng hạ đồi về mức độ khối mỡ, do đó nó là một chỉ điểm.

Trong một số trường hợp ngoại lệ béo phì gia đình, người ta cũng đã ghi nhận đột biến gen leptin và thụ thể của nó.

Suy sinh dục giảm gonadotropin hormon gây hội chứng mập phì - sinh dục (Babinski - Froehlich).

Suy giáp.

Cường vỏ thượng thận (Cushing).

U tụy tiết insulin, thường là u lành, mập là do insulin làm hạ đường huyết đói phải ăn nhiều.

Do các bệnh hiếm gặp

Hội chứng Laurence - Moon - Biedl - Bardet.

Hội chứng Prader - Willi.

Sinh bệnh học của béo phì

Béo phì chỉ xảy ra khi có sự mất quân bình giữa cung cấp thức ăn và tiêu tốn năng lượng, khi sự cung cấp năng lượng vượt trội hơn sự tiêu hao năng lượng làm cho cán cân thu - chi năng lượng luôn mất cân đối theo chiều hướng tích tụ lại và ứ đọng. Hay nói một cách khác hơn là sự mất cân đối trong cách ăn uống và sự chậm trễ trong chuyển hóa năng lượng.

Mất cân đối trong cách ăn uống

Ăn quá mức cần thiết và thức ăn ít thay đổi, quá nhiều chất béo, ít thức ăn loại sinh nhiệt nhanh (protid).

Nguyên nhân của sự mất cân đối này có thể do một rối loạn tại hạ đồi: trung tâm chỉ huy cảm giác đói - no, một sự giảm tiết serotonin mà hậu quả là làm mất cảm giác no.

Chậm trễ trong chuyển hóa năng lượng

Nguyên nhân chủ yếu là ít hoạt động thể lực.

Tuy nhiên 2 yếu tố nói trên biểu hiện với nhiều mức độ khác nhau:

Đầy đủ như trường hợp người ăn nhiều và chuyển hóa giảm.

Không đầy đủ là trường hợp người ăn ít, nhưng chuyển hóa lại chậm trễ nhiều.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán theo y học hiện đại

Chẩn đoán xác định

Béo phì được xác định khi BMI > 27.

Béo phì được xác định khi cân nặng > 20% cân nặng lý tưởng lý thuyết (công thức Lorentz).

Nhằm nhận diện được sự phát triển ảnh hưởng của béo phì đối với: Cơ, xương, khớp: loãng xương, biến dạng xương khớp, thoái hóa khớp. Tim mạch: Tăng huyết áp, viêm tắc động mạch chi dưới. Hô hấp: suy hô hấp, viêm phế quản mạn, hội chứng Pickwick.

Đánh giá béo phì: Đánh giá béo phì qua chỉ số BMI như sau:

 

 

BMI

Lâm sàng

Độ I

25-30

Thừa cân

Độ II

31-35

Béo phì nhẹ

Độ III

36-40

Béo phì vừa

Độ IV

> 40

Béo phì nặng

Xác định kiểu béo phì:

Kiểu nam: mô mỡ tập trung ở nửa trên cơ thể: cổ, vai, tay, bụng.

Kiểu nữ: mô mỡ tập trung ở phần dưới cơ thể: eo, mông, đùi.

Cận lâm sàng: thực hiện nhằm mục đích chẩn đoán các nguy cơ trên bệnh nhân béo phì. Các xét nghiệm thường quy bao gồm: Cholesterol máu (toàn phần, HDL, LDL), triglycerid máu. Chức năng gan. Chức năng thận. Đường huyết, acid uric, phosphokinase.

Nghiệm pháp tăng đường huyết nếu có nghi ngờ

Chẩn đoán phân biệt

Phù: Do suy tim, do hội chứng thận hư, do xơ gan… căn cứ vào bệnh cảnh lâm sàng. Phù chu kỳ không rõ nguyên nhân: có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt, yếu tố tâm lý và thay đổi số cân trong ngày.

Hội chứng Cushing: Lớp mỡ khu trú ở mặt - cổ - thân chứ không đồng đều. Lượng cortisol máu buổi sáng (8 giờ) thường cao do cường thượng thận chức năng ức chế được bằng nghiệm pháp Nugent, chu kỳ tiết cortisol trong ngày vẫn bình thường tức không tăng vào buổi chiều. U mỡ: không tăng cân, khối mỡ khu trú, biến dạng (phải phẫu thuật).

Chẩn đoán theo y học cổ truyền

Béo phì thể đàm thấp nhiệt

Thể trạng mập, chân tay nặng nề.

Ngực bụng đầy khó chịu.

Ợ hơi, nuốt chua.

Chóng mặt, nặng đầu.

Tiểu ít, màu vàng sậm; ăn mau đói, miệng khát, thích uống mát.

Chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày.

Thể can vượng, tỳ suy

Thể trạng mập bệu, bụng to trướng đầy, ngực nặng.

Tiểu tiện rất ít.

Đại tiện không dễ chịu.

Chóng mặt.

Thể vị nhiệt, trường táo

Thể trạng béo mập.

Ăn nhiều mau đói.

Khát nước hay uống.

Chóng mặt, mắt đỏ.

Đại tiện táo kết.

Thể can thận âm hư

Thể trạng béo mập.

Chân tay thủng trướng, yếu sức.

Chóng mặt hoa mắt.

Ù tai, lưng mỏi.

Chất lưỡi ứ tối.

Mạch huyền hoạt.

BIẾN CHỨNG

Tăng nguy cơ tử vong

Do các biến chứng chuyển hóa: đái tháo đường, tăng lipid máu.

 

Do bệnh thường diễn tiến nặng trên người béo phì như: Trong ngoại khoa: nguy cơ khi gây mê, hậu phẫu (viêm tĩnh mạch, bội nhiễm). Trong nội khoa: nhiễm khuẩn nặng. Trong sản khoa: sinh khó.

Biến chứng chuyển hóa

Chuyển hóa glucid: có tình trạng kháng insulin, tăng tiết insulin phát hiện qua test dung nạp glucose bị rối loạn, dễ dẫn đến bệnh đái tháo đường.

Chuyển hóa lipid: triglycerid máu thường tăng trong béo phì, tăng VLDL. Sự tăng lipoprotein có liên quan đến rối loạn chuyển hóa glucid nói trên làm cho gan sản xuất nhiều VLDL hơn. Cholesterol máu ít khi ảnh hưởng trực tiếp bởi béo phì, nhưng nếu có tăng cholesterol trước thì dễ làm tăng LDL, HDL thường giảm khi triglycerid tăng.

Chuyển hóa acid uric: acid uric máu thường tăng có lẽ có liên quan đến tăng triglycerid máu. Tăng acid uric máu nặng thêm khi ăn kiêng, cần chú ý đến tăng acid uric đột ngột khi điều trị làm giảm cân, có thể gây cơn Goutte cấp tính do thoái giáng protid.

Biến chứng tim mạch

Bản thân béo phì là một nguy cơ cho các bệnh tim mạch:

Cao huyết áp: có sự liên quan chặt chẽ giữa béo phì và Tăng huyết áp, tần suất cao HA tăng trong béo phì bất kễ là phái nam hay nữ. HA giảm khi làm giảm cân.

Suy mạch vành (đau thắt ngực, đột tử, nhồi máu cơ tim): thường gặp ngay cả khi không cộng thêm các yếu tố nguy cơ khác (đái tháo đường, tăng lipoprotein máu, cao HA).

Suy tĩnh mạch: do cơ học, nhất là ở nữ, dễ đưa đến rối loạn dinh dưỡng chi dưới (loét các giãn tĩnh mạch).

Các biến chứng tim mạch khác: suy tim trái thứ phát do béo phì hoặc do Tăng huyết áp và suy mạch vành; suy tim phải trong trường hợp có suy hô hấp (khó thở gắng sức rất thường gặp), tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch.

Biến chứng phổi

Giảm chức năng hô hấp do nguyên nhân cơ giới (di động kém của lồng ngực), giảm thông khí phế nang tối đa gây ra giảm oxy mô và tăng CO2 mạn tính.

Trường hợp nặng gây hội chứng Pickwick (hội chứng khó thở khi ngủ): ngủ gà ngủ gật ban ngày, nhức đầu buổi sáng, tăng hồng cầu, tăng CO2 trong máu, thường gặp trong các trường hợp béo phì nặng, có một cân nặng giới hạn mà dưới mức đó hội chứng này này mất đi và tái xuất hiện khi cân tăng trên ngưỡng đó.

Biến chứng xương khớp

Ở các khớp chịu lực cao như đầu gối, khớp háng, cột sống thắt lưng dễ bị thoái hóa.

Thường tăng tỷ lệ hoại tử do thiếu máu đầu xương đùi tăng lên.

Thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống gây đau lưng, đau thần kinh tọa.

Loãng xương.

Biến chứng nội tiết

Đái tháo đường không phụ thuộc insulin (do tăng insulin thứ phát do nhiều nguyên nhân: do tác dụng của õ - endorphin, hoặc do giảm số lượng và chất lượng thụ thể insulin ngoại biên, kích thích tế bào õ do ăn nhiều glucid). Đường huyết có thể giảm khi giảm cân.

Chức năng nội tiết sinh dục: giảm khả năng sinh sản; chu kỳ kinh kéo dài không phóng noãn, rậm lông

Biến chứng khác

Da: nhiễm trùng da ở các nếp gấp, nhất là nhiễm nấm.

Các nguy cơ ung thư hóa: tăng tỷ lệ ung thư vú và nội mạc tử cung do chuyển dạng từ mô mỡ ở vú các androgen thành oestrogen, gây tăng oestrogen tương đối.

Ở phụ nữ: hội chứng buồng trứng đa nang.

Khi phẫu thuật: gây mê có nhiều nguy cơ.

Ảnh hưởng tâm lý xã hội.

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

Nguyên tắc chung

Điều trị phải lâu dài, đạt được sự giảm cân, không cần nhanh và nhiều mà phải đáp ứng được với sức khỏe và nhu cầu của bệnh nhân, mục tiêu là đạt được cân nặng hợp lý.

Cần cố định trọng lượng mong muốn, có thể khác với trọng lượng lý tưởng và tốc độ phải đạt được trọng lượng này.

Nên phối hợp nhiều phương pháp: giảm cung cấp calo, áp dụng các bài tập thể lực, điều trị nội khoa, đôi khi cần phải điều trị bằng phẫu thuật đối với một số trường hợp đặc biệt. Các phương pháp tuỳ thuộc vào bản chất béo phì, các yếu tố nguy cơ phối hợp và yêu cầu.

Khi chỉ định điều trị dùng thuốc bắt buộc phải thật thận trọng trước các bệnh nhân có béo phì đã lâu, ổn định, không biến chứng cũng không có yếu tố nguy cơ, không tiền sử gia đình về chuyển hóa.

Chỉ định điều trị khẩn cấp khi có Tăng huyết áp, suy tim, suy hô hấp, trầm cảm hoặc khi có những xung đột cảm xúc cấp tính.

Cần theo dõi đều đặn khi điều trị (thường là mỗi tháng) để có thể điều chỉnh điều trị.

Các phương pháp điều trị

Giảm cung cấp calo

Giảm chế độ cung cấp ngẫu nhiên 1/4 - 1/3 nhưng không dưới 1200Kcal/ ngày tại nhà, sụt cân 2 - 3kg/tháng.

Chế độ thường ngày là: giảm glucid, giảm lipid và tăng protid.

Cần thiết ăn đủ 3 bữa ăn mỗi ngày.

Cung cấp vitamin là rất cần thiết.

Chế độ uống nhiều nước.

Chế độ ăn có 2 giai đoạn: giai đoạn một làm giảm cân, giai đoạn hai củng cố kết quả. Cần phối hợp giáo dục với việc đề nghị chế độ kiêng ăn.

Quan trọng là việc theo dõi (+++): phải theo dõi thường xuyên; sụt cân thường là chậm và dần dần, việc theo dõi cho phép hỗ trợ tâm lý bệnh nhân.

Khi đường biểu diễn thể trọng ổn định, chỉ nên đề nghị chế độ ăn kiêng ăn mới nếu nó hữu ích và khả thi.

Chế độ ăn giảm năng lượng dựa trên chỉ số BMI:

  

BMI

Năng lượng cần thiết

Độ I

25 - 30

1500Kcalo/ngày

Độ II

31 - 35

1200Kcalo/ngày

Độ III

36 - 40

1000Kcalo/ngày

Độ IV

> 40

800Kcalo/ngày

Tỷ lệ glucid là ≈ 60%, tỷ lệ protid nên tăng trong điều kiện có thể được: 1g/kg/ngày.

Hạn chế chất béo: thịt mỡ, chất béo bão hòa, glucid hấp thụ nhanh, muối 6g/ngày (bình thường 10g) uống đủ nước 1,5 - 3 lít/ngày.

Trường hợp nếu cần phải cho 800-1000Kcal/ngày, nên cho nhập viện và phải bổ sung vitamin tan trong dầu (A,D,E,K), kali, sắt, acid amin.

Các bài tập thể lực

Rất hữu ích mặc dù tiêu tốn năng lượng khá thấp, làm hạn chế các biến chứng về tim mạch, khớp và nhất là duy trì sự hoạt động thể lực tạo tâm lý cân bằng.

Tuy nhiên áp dụng sẽ hạn chế do tuổi tác, hoặc do đã có các biến chứng hoặc bệnh đái tháo đường kèm theo.

Các phương pháp khác

Tâm lý liệu pháp rất cần thiết, không phải lúc nào cũng qua trung gian bác sĩ chuyên khoa, bản chất thực sự của nhu cầu sẽ xuất hiện trong lúc khám bệnh lặp đi lặp lại.

Điều trị bằng y học cổ truyền

Béo phì thể đàm thấp, nhiệt:

Phép trị: thanh lợi đàm thấp, tỉnh tỳ hóa trọc.

Bài thuốc: bài Lâm thị khinh kiện thang (gồm: bán hạ 10g, bạch linh 15g, trần bì 3g, chích thảo 3g, ý dĩ 10g, trạch tả 10g, thần khúc 10g, sơn tra 10g, hoắc hương 10, nhân trần 6g).

Phương huyệt: dùng phép tả, vê kim kích thích mạnh hoặc điện châm các huyệt như: túc tam lý, lương khâu, tỳ du, trung quản, vị du, thiên xu. Nhĩ châm dùng các huyệt nội tiết, vị, tỳ, tụy.

Thể can vượng tỳ suy:

Phép trị: kiện tỳ lợi thấp, bình can hóa đàm.

Bài thuốc: Thanh tiêu ẩm (gồm: phan tả diệp 12, thảo quyết minh 15g, trạch tả 15g, ý dĩ 15g, bạch linh 15g, phòng kỷ 15g, bạch truật 12, trần bì 10g)  

Dược liệu

Tác dụng

Vai trò

Phan tả diệp

Thanh can tả hỏa

Quân

Thảo quyết minh

Thanh can nhuận táo

Quân

Ý dĩ nhân

Kiện tỳ, trừ thấp

Thần

Bạch linh

Kiện tỳ, thẩm thấp

Thần

Trạch tả

Thanh thấp nhiệt bàng quang

Phòng kỷ

Tán đàm thanh thấp

Bạch truật

Kiện tỳ, táo thấp

Trần bì

Hòa khí, tiêu đàm

Tá, Sứ

 Phương huyệt: dùng phép tả các huyệt can du, cách du, tỳ du, vị du, tam âm giao, thiên khu, trung quản, quan nguyên.

 Nhĩ châm dùng các huyệt thần môn, nội tiết, đại tràng, vị.

Thể trường vị táo nhiệt:

Phép trị: thanh vị thông phủ, mát huyết hòa trường.

Bài thuốc: Thanh thông ẩm (gồm: hoàng liên 10g, phan tả diệp 10g, đại hoàng 10g, sinh địa 10g, hạ khô thảo 12g, thảo quyết minh 12g)

Dược liệu

Tác dụng

Vai trò

Hoàng liên

Thanh nhiệt giải độc, tả vị nhiệt

Quân

Phan tả diệp

Thanh tả nhiệt hỏa

Quân

Đại hoàng

Thanh tả nhiệt hỏa

Quân

Sinh địa

Thanh nhiệt, lương huyết, dưỡng âm, sinh tân

Thần

Thảo quyết minh

Thanh can nhuận táo

Hạ khô thảo

Thanh nhiệt lợi thấp

Phương huyệt: châm cứu các huyệt trung quản, vị du, túc tam lý, phong long, lương khâu, khí hải, thiên khu.

Nhĩ châm dùng các huyệt thần môn, nội tiết, vị, phế, tam tiêu.

Thể can thận âm hư:

Phép trị: tư bổ can thận, hoạt huyết, hóa ứ, kiêm trừ thấp trọc.

Bài thuốc: Triệu thị trừ chi giáng ứ ẩm (gồm: câu kỷ tử 12g, hà thủ ô 12g, đan sâm 30g, uất kim 10, phục linh 20, thảo quyết minh 15, sơn tra 15, trạch tả 15g).  

Dược liệu

Tác dụng

Vai trò

Câu kỷ tử

Bổ can thận, nhuận táo

Quân

Hà thủ ô

Bổ can thận, bổ huyết

Quân

Uất kim

Hành khí, phá ứ, giải uất

Thần

Phục linh

Kiện tỳ thẩm thấp, tiêu đàm

Thảo quyết minh

Thanh can nhuận táo

Sơn tra

Hóa ứ, tiêu trọc, hóa đàm

Trạch tả

Thanh thấp nhiệt ở bàng quang

Phương huyệt: trung quản, vị du, túc tam lý, phong long, nội quan, lương khâu, khí hải, túc tam lý, tỳ du (gia giảm thiên xu, chi câu).

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com