Logo
Loading...

Bản thảo vấn đáp quyển hạ câu 9-11

BẢN THẢO VẤN ĐÁP QUYỂN HẠ CÂU 9-11

9. Hỏi: Bệnh có nội nhiệt ngoại hàn, hạ nhiệt thượng hàn, nên dùng thuốc gì?

 

 Đáp:Lấy hạ nhiệt, nội nhiệt làm chủ. Dùng Linh, Liên, Tri-bá, mà kiêm Sinh-khương, Quế-chi, Bạc-hà, Kinh-giới, Thông-bạch để dẫn. Điều cần yếu là giỏi dùng thuốc, không thể lấy công hiệu của một vị thuốc nào.

10. Hỏi: Trong ngũ-hành duy có Thổ chủ thấp. Lý-đông-viên trọng Tỳ-vị, chuyên về táo thổ khử thấp. Mà Trọng-cảnh trị thái âm (tỳ) không chuyên dùng thuốc táo. Sao vậy

 Đáp:Đông-viên biết cái thấp đã thành mà không biết cái thấp từ đâu sinh ra, thì cho là thổ không trị thuỷ, đâu biết thấp là bản khí của thổ. Trước hết cần giải nghĩa chữ “Thổ” rồi sau đó mới giải nghĩa chữ “thấp” được. Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả đều ở bốn phương, mà thổ thuộc trung ương. Ơ giữa là chổ bốn phương giao tiếp. Ương (giữa) là chỗ hội của âm dương. Nói: “ Thi dạ vị ương” (đêm thơ chưa đến giữa) là nói trời chưa sáng, có nghĩa là âm chưa hội với dương. Chim oan ương không ngủ một mình, có chữ ương, lấy ý nghĩa âm dương giao hội. Vì hai chữ âm dương hợp làm một tiếng, thành ương ( âm+ dương=ương). Thổ ở trung ương, là âm dương giao nhau mà hoá sinh. Vì thuỷ với hoả giao, gặp mộc thì mục nát thành thổ, gặp kim thì biến hoá mà trở thành thổ. Cho nên số ở Hà-đồ: nhất thuỷ, nhị hoả, tam mộc, tứ kim, thổ ở rốt trong ngũ hành, là khí độc nhất vượng ở tứ quí. Vì thuỷ, hoả, mộc, kim giao hợp mà thành thổ, cho nên thổ đều vượng ở tứ quí. Gọi thổ trong ngũ hành là đặt tên theo hình thể. Ơ lục khí gọi thấp là đặt tên theo khí. Khí sở dĩ thấp (ẩm ước) cũng chỉ là thuỷ, hoả, mộc,kim giao cấu mà thành. Chưa có chất mục nát, kim được thuỷ thấm nhuần, cho nên thành thổ thành thấp được. Cuối cùng khí kim, mộc giao nhau ít mà khí thuỷ hoả giao nhau nhiều. Hoả không đun thuỷ thì là hàn thuỷ không phải là thấp. Thuỷ không thấm ướt hoả, thì là hoả dữ, cũng khôngphải là thấp. Ví như: trong chõ có gạo, không đun lửa thì không thành thấp, không có nước để thấm ướt cũng không thành thấp. Phải có thuỷ hoả giao nhau rồi sau mới thành thấp. Trong lúc Trưởng-hạ thấp khí nhiều, chính là lúc âm dương giao cấu, lúc thuỷ hoả đun thấm nhau, cho nên vào mùa hạ, vách tường đều ẩm ướt, mà người cảm nhiễm bệnh thấp phần nhiều vào lúc đó. Tỳ thổ của người, chịu thấp khí của trời, là tâm hoả thận thuỷ giao hội mà thành. Tiêu hoá chuyễn vận đến bốn tạng kia được, đều do công năng ở thấp. Vị táo ăn vào toàn nhờ thấp ở tỳ để thấm ướt, mà bắt đầu tiêu hoá. Tỳ ở trên màng mỡ. Đồ ăn trong bụng đã hoá thành chất nước, thì dẫn vào màng mỡ, đến các tạng, đầy đủ ở chu thân. Dầu-trường-cao chủ thấm nhuần, đều là công dụng của thấp. Xem như Tỳ khí không đủ thì táo, mà thái quá lại bị bệnh thấp. Cho nên Nội-kinh nói: “Tỳ chủ thấp”. Lại nói: “Tỳ ố thấp”, kim “phàm thấp bệnh, giai dĩ trị tỳ vị chủ” (phàm bệnh thấp, đều lấy trị tỳ làm chủ). Thuỷ hoả đun thấm nhau thành thấp, cho nên thấp sinh bệnh gồm cả thuỷ hoả. Thuốc trị thấp, tính bình hoà, chính là để trị được cả thuỷ hoả. Phuc-linh, Biển-đậu, Dĩ-nhân đều vị lạt, là thứ thuốc chính để lợi thấp. Thấp lắm thì thổ mệt nhọc, cho nên lợi thấp tức là kiện tỳ. Liên-tử, Khiếm-thực hơi ngọt mà rít, thâu liễm thấp khí được, cho nên kiện tỳ. Bạch-truật có dầu, lấy dầu mỡ bổ tỳ. Dầu lại không dính nước, cho nên lợi thuỷ, khí thơm ấm, cũng là chủ lợi thuỷ, lại thăng phát được, làm cho khí của tỳ thổ thượng đạt. Cho nên Bạch-truật là thứ thuốc chính để bổ tỳ. Thương-truật khí ấm mà mạnh, cho nên kèm thêm táo tính, bổ vị không bổ tỳ; sắc xanh, được tính của mộc, lại sơ tiết được, là thứ thuốc trị hàn thấp. Thấp kiêm (gồm) thuỷ hoả, thuỷ hoả thừa thành thấp kiêm hàn: bị bệnh thì trướng, ta lỏng. Hoa-tiêu cay ấm để tán hàn thấp, sát được trùng, tiêu án được thấp. Ngô-du cay mạnh, khử thấp rất mau. Bạch-khấu, Can-khương đều trị hàn thấp. Thôn toan (nuốt chua), thổ toan ( nôn chua), có hai bệnh. Một là hàn thấp, nên dùng Ngô-du, Thương-truật, Quế-chi, Sinh-khương. Hai là nhiệt thấp, nên dùng Hoàng-liên, Hoàng-bá, Hoàng-cầm, Thạch-quyết-minh, Thanh-bì, Đảm-thảo. Thêm vào mấy thứ ấy ít Ngô-du, Hoa-tiêu để kềm chế bớt (phản tá). Chua là thấp hoá ra. Thấp ủ nóng mà hoá chua, như mùa hạ nước thịt qua một đêm thì hoá chua, có nước đá giữ gìn thì không chua. Trấu lúa mì phát nóng thì thành giấm chua, đều là nóng đun ủ với thấp mà chua. Cho nên các thứ như Hoàng-liên đắng táo, chính là để trị thấp bị nhiệt hoá. Hàn thấp, như rau cải ướp muối trong thạp, thì hoá chua, đó là thấp do hàn hoá. Ngô-du các thứ cay ráo, chính là để trị thấp do hàn hoá. Thấp thấm ở chân, thì thành bệnh cước khí thũng (sưng nề). Tây y nói: Bệnh cước khí nước tiểu phải chua, biết là thấp vậy. Phàm cước khí phần nhiều là hàn rít, nên lấy thuốc ấm làm chủ, thêm vào Mộc-qua, Dĩ-nhân, Ngưu-tất để dẫn đạo, để lợi thấp ở dưới chân. Nhưng cước khí, cũng có nhiệt thấp nên dùng Phòng-kỷ, Hoàng-bá, Thương-truật, Mộc-thông, Đảm-thảo, thuốc khổ giáng (đi xuống) để trị. Thấp chứa ở tỳ thì trong bụng trướng, lâu ngày nước nhiều thì phình lên, nên trục thuỷ. Cam-toại, Đại-kích, Nguyên-hoa, Khiên-ngưu công lực mạnh, dùng thêm Đại-táo, Sâm, Truật, Cam-thảo để bổ tỳ thổ, khử cái thái quá, lại sợ tổn chổ bất cập. Tỳ dừng ăn uống thì thấp không hoá, nên dùng Thần-khúc để tán thấp. Chỉ-xác, Trần-bì, Mộc-huong hành khí để hành thấp. Thuỷ hoả giao mà sinh thấp thổ. Tỳ của người ứng theo đó. Bạch-truật ấm mà có chất nước, chính là vật có thuỷ hảo giao nhau, cho nên bổ tỳ kinh. Hoàng-tinh ngọt bình, có chất nước, được sự hoà bình của thuỷ hoả giao khí, cho nên chính để bổ tỳ kinh. Sơn-dược có chất, sắc trắng, cho nên bổ tỳ thuỷ để bổ thấp. Cầm Truật có chất nước, mà vị mạnh, thì giúp tỳ hoả để táo thấp. Xích-thạch-chỉ chất của thổ, táo thấp được. Quất Phác, Tân-lang khử thấp, là lấy mộc để sơ thổ. Tang-bì, Tật-lê lợi thấp, là lấy kim để hành thuỷ. Thấp đầy ở tấu lý thì thũng, Tang-bì giống màng mỏng của người, cho nên trị được, Phòng-kỷ giữa rỗng, lằn vết như bánh xe, ngoài theo tấu lý, trong theo tam tiêu, thông thuỷ khí được. Mộc-thông trong rỗng giống như Phòng-kỷ, vị khổ tiết (đắng làm bài tiết), cho nên đều là thuốc cần yếu để hành thấp. Thấp ở lưng, thấp ở chân Thổ-phục-linh, Tỳ-giải, Uy-linh-tiên, Dĩ-nhân đều giáng lợi được. Còn nên tuỳ hàn nhiệt gia giảm, thấp nung nấu da dẻ phát vàng, nên dùng nhân trần, Tần-bì, Ích-mẫu-thảo để tán kiêm (gồm) lợi. Bàng-quang không lợi, nên dùng Trạch-tả, Xa-tiền, Côn-bố, Hải-tảo. Các vị đó phần nhiều sinh ở trong đá, trong nước, cho nên hoá thuỷ của Bàng-quang. Đó là thanh hoả lợi thuỷ là phép trị thấp. Thấp với nhiệt nung nấu, thì thanh thử. Các sách bàn về nắng, không biết nguyên nhân của nắng, mà phân ra âm thử dương thử, không khác với trúng nhiệt, trúng hàn, không phải đúng nghĩa của thử. Trần-tu-viên cho thử là nhiệt, mà không biết nhiệt hợp thấp mới thành thử. Nguyệt-lịnh nói: “ thổ nhuận nậu thử” (thổ được thấm nhuần, nóng ấm lên thành thử). Được thấm nhuần, nóng ấm, rồi sau mới thành thử (nắng), cho nên trị thử phải gồm hai chữ thấp nhiệt mới là đúng. Mùa hạ có bệnh ôn, mùa thu có bệnh dịch, lỵ, ngược, đều bị cảm nhiễm thử tức là thấp nhiệt, dứt khoát không nên dùng thuốc táo (khô ráo), táo thì làm thấp bế tắc không lưu thông. Lại không nên dùng thuốc giải biểu, dùng giải biểu thì phát nhiệt mà thấp chưng (hơi bốc lên hấp nấu). Chỉ dùng thuốc có vị thanh lợi, Lục-nhất-tán tuy nhẹ, là thứ thuốc chính để thanh nhiệt, lợi thấp. Hoàng-liên đắng tả nhiệt được lại táo thấp được, cũng là vị thuốc chính để khử thử. Thương thử phát nhiệt nên dùng Hương-nhự để tán thấp nhiệt ở bì phu. Thử biến thành ôn, dịch, dùng Thạch-cao, Hoàng-liên làm chủ. Đã có sách chuyên trị bệnh này chưa thể kể hết các vị. Tóm lại không nên phát biểu nên tả nhiệt, lợi thấp. Thương thử biến thành kiết lỵ thì không nên phát hãn, lại rất không nên lợi thuỷ, chỉ nên thanh nhiệt mà thấp tự hết, Hoàng-liên, Hoàng-cầm làm chủ. Thương thử biến thành ngược, cốt yếu là tán thấp thanh nhiệt. Tiểu tiện trong ở Bàng-quang, Tam-tiêu, thì ngược tự hết, Thổ-phục-linh, Trư-linh, Cát-căn, Độc-hoạt tán thấp để trị thái dương Bàng-quang. Hoàng-cầm, Qui-giáp, Thanh-bì, Đảm-thảo thanh nhiệt để lợi thiếu dương Tam tiêu. Nên kiêm trị Bàng-quang, Tam-tiêu. Đờm ngược là do thấp tích tụ. Thường-sơn-miêu (thục-tất) thấu đạt được để ói đờm ra. Ngược là đờm với huyết hợp lại, Qui-giáp, Mẫu-lệ, Sơn-giáp phá được bệnh này. Đây là kiêm chứng của thấp, chưa nói rõ hết được. Lại như Ngũ-gia-bì dẫn đến chỗ da mỡ. Ngũ-linh-tán dùng Quế-chi để trị hàn thấp. Ngũ-lâm-thang dùng Sơn-chi để trị thấp nhiệt. Tóm lại tỳ chủ quản thấp. Dầu mỡ của tỳ, liên hệ với màng mỏng Tam-tiêu để thông suốt trong ngoài, đạt đến Bàng-quang. Cho nên trị thấp, kiêm trị các chỗ. Xét thấp khí, là do thuỷ hoả hợp lại hoá ra, cho nên có hai chứng: hàn thấp.

11. Hỏi: Thuyết thấp do thuỷ hoả hợp hoá, sau đời Đường, đời Tống không có thuyết đó. Bây giờ tuy nêu ra rõ ràng, nhưng chưa có gì chứng nghiệm. E rồi không đủ cho người đời tin được.

 Đáp:Điều này biện luận chẳng khó khăn gì. Ví dụ có một con cá ướp muối, khí trời quang đãn lâu, biến làm mưa, thì con cá ướp muối trở nên ẩm ướt, (phát thấp) trước, muối trong con cá tức là thuỷ, phát thấp vì trời nóng bức bách, thì thuỷ giao với hoả, cho bớt sự nóng bức. Lại như có lá trầu khô, đem sấy lửa, lá trở nên ướt nhuần, vì trong lá trà nguyên có chất nước, khi chưa sấy thì không phát ướt nhuận, khi sấy thì phát nhuận, cũng lại là hoả giao với thuỷ, thì hoá thấp, đó là một chứng nghiệm.

Châm cứu tại nhà khu vực Hà Nội
Chữa đau răng nhanh không dùng thuốc

DMCA.com